33
Bệnh viện tâm thần dành cho người da màuCó một số việc mà tôi đã hứa với Deborah rằng chúng tôi sẽ làm cùng nhau: đi xem các tế bào của mẹ cô ấy là việc đầu tiên; tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với Elsie là việc thứ hai. Nên sau hôm đến phòng thí nghiệm của Christoph, Deborah và tôi chuẩn bị cho chuyến đi dài cả tuần bắt đầu từ Crownsville, nơi chúng tôi hy vọng sẽ tìm thấy bệnh án của chị cô, rồi đến Clover và kết thúc ở Roanoke, tại ngôi nhà nơi Henrietta được sinh ra.
Đó là Ngày Của Mẹ, luôn là một ngày buồn đối với Deborah, và lần này cũng không khởi đầu khá khẩm hơn. Cô đã định sẽ đưa cháu nội Alfred của mình đến gặp cha nó trong tù trước khi rời thị trấn. Nhưng con trai cô đã gọi điện và nói rằng cậu ấy không muốn Deborah hay Alfred Bé đến thăm cho tới khi cậu ấy có thể gặp họ mà không phải nhìn qua một lớp kính. Alfred nói cậu ấy muốn tìm hiểu về bà ngoại của mình, Henrietta, và nhờ Deborah gửi cho cậu ấy tất cả thông tin mà chúng tôi tìm được trong chuyến đi.
“Tôi đã đợi nó nói những điều ấy suốt cả cuộc đời”, Deborah kể với tôi trong nước mắt. “Tôi chỉ không muốn nó phải ngồi tù khi làm việc ấy”. Nhưng một lần nữa cô lại nói: “Tôi sẽ không để chuyện này ảnh hưởng đến tôi. Tôi chỉ muốn tập trung vào những điều tốt đẹp, như đi xem các tế bào của mẹ tôi, và tìm hiểu về chị gái tôi”. Rồi chúng tôi đã lái xe đến Crownsville trong hai chiếc xe khác nhau.
Tôi không biết mình đã mường tượng nơi từng là Bệnh viện Tâm thần Dành cho Người Da màu trông sẽ như thế nào, nhưng chắc chắn nó không phải là những gì chúng tôi thấy. Bệnh viện Crownsville có khuôn viên trải dài 5 km2, với những ngọn đồi màu xanh tươi, những bãi cỏ được cắt xén hoàn hảo, những lối đi bộ, những hàng anh đào rủ bóng, và những chiếc bàn dã ngoại. Tòa nhà chính được xây bằng gạch đỏ với những cột trắng, hành lang được trang hoàng bởi những chiếc ghế dài và những chiếc đèn chùm lộng lẫy. Trông giống như một nơi đẹp đẽ để nhâm nhi một ly cocktail hay một tách trà. Một trong những tòa nhà cũ của bệnh viện giờ đây là ngân hàng thực phẩm – nơi cung cấp đồ ăn miễn phí cho người nghèo; số khác là trụ sở của Phòng Cảnh sát Điều tra Tội phạm, một trường cấp ba, và văn phòng của câu lạc bộ Rotary.
Bên trong tòa nhà chính, chúng tôi đi qua những văn phòng trống giữa một hành lang dài vắng vẻ màu trắng, không ngừng nói: “Xin chào?” và “Có ai ở đây không?” hay “Nơi này thật kỳ lạ”. Rồi, cuối hành lang là một cánh cửa trắng có lớp bụi đã bám nhiều năm trời và chi chít các dấu tay. Dòng chữ LƯU TRỮ BỆNH ÁN in dọc cánh cửa với những chữ cái đã bị bong tróc. Bên dưới là dòng chữ CẤM VÀO được viết nhỏ hơn.
Deborah nắm tay cầm và hít thật sâu. “Chúng ta đã sẵn sàng chưa?” – cô ấy hỏi. Tôi gật đầu. Cô ấy dùng tay còn lại để nắm tay tôi và đẩy cửa, rồi chúng tôi bước vào.
Chúng tôi thấy mình đứng giữa cái lồng bằng kim loại dày màu trắng dẫn vào phòng lưu trữ bệnh án – một căn phòng trống rộng bằng nhà kho, không có nhân viên, không bệnh nhân, không bàn, không ghế, không khách đến thăm, và không có bệnh án. Cửa sổ được đóng kín và bám đầy bụi, dây dợ, tấm thảm xám xịt gợn sóng vì những bước chân qua lại sau hàng thập niên. Một bức tường bằng gạch xỉ cao đến thắt lưng chạy dọc chiều dài căn phòng, ngăn phòng chờ với khu vực được ghi DÀNH CHO NHÂN VIÊN, nơi đặt một số kệ kim loại cao trống trơn.
“Tôi không thể tin được chuyện này”, Deborah thì thầm. “Tất cả bệnh án đều đã biến mất?” Cô vuốt tay dọc những cái kệ trống, và lẩm bẩm: “1955 là năm họ đã giết chị ấy... Tôi muốn có bệnh án... Tôi biết đó không phải là tin tốt... Tại sao họ lại tiêu hủy chúng?” Không cần ai nói với chúng tôi rằng đã có chuyện khủng khiếp xảy ra ở Crownsville – chúng tôi có thể cảm nhận được điều đó trên những bức tường.
“Hãy đi tìm người có thể nói cho chúng ta biết”, tôi bảo.
Chúng tôi lang thang sang một hành lang dài khác, và Deborah hét lên. “Xin lỗi! Chúng tôi cần tìm bệnh án! Có ai biết chúng ở đâu không?” Một cô gái trẻ thò đầu ra từ một văn phòng và chỉ cho chúng tôi xuống văn phòng khác cuối hành lang, nơi có người lại chỉ cho chúng tôi tới một hành lang khác. Cuối cùng chúng tôi tự tìm đến văn phòng của một người đàn ông cao ráo với bộ râu rậm trắng toát như của Santa Claus, và cặp lông mày bờm xờm dày cộm. Deborah đến gần ông ấy: “Xin chào, tôi là Deborah, còn đây là phóng viên của tôi. Có thể ông đã nghe nói đến chúng tôi, mẹ tôi có tên trong lịch sử với các tế bào của bà, và chúng tôi cần tìm bệnh án”.
Người đàn ông mỉm cười: “Mẹ cô là ai, và các tế bào là gì?”
Chúng tôi giải thích lý do chúng tôi đến đây, và ông ta nói rằng các bệnh án hiện ở trong một tòa nhà khác, và không còn nhiều bệnh án cũ được lưu trữ ở Crownsville. “Ước gì chúng tôi đã có một nhân viên lưu trữ”, ông ta nói. “Tôi e rằng tất cả những gì các cô có là tôi”.
Tên của ông là Paul Lurz, và ông là giám đốc quản lý chất lượng của bệnh viện, nhưng ông cũng là người làm công tác xã hội có bằng lịch sử, vốn là niềm đam mê của ông. Ông ra hiệu cho chúng tôi vào ngồi trong văn phòng của ông.
“Không có nhiều tiền tài trợ để điều trị cho các bệnh nhân da đen vào những năm 1940 và 1950”, ông ấy nói. “Tôi e rằng Crownsville không phải là một nơi tử tế để điều trị vào những năm ấy”. Ông ấy nhìn Deborah. “Chị gái của cô đã ở đây ư?”
Cô ấy gật đầu.
“Nói cho tôi biết về cô ấy đi”.
“Cha tôi vẫn luôn nói trí óc của chị ấy chẳng khác gì một đứa trẻ”, cô nói, thò tay vào túi để lấy bản photo giấy chứng tử nhàu nhĩ của Elsie rồi chậm rãi đọc lớn. “Elsie Lacks... nguyên nhân tử vong (a) suy hô hấp (b) động kinh (c) bại não... Sống ở Bệnh viện Bang Crownsville năm năm”. Cô ấy đưa cho Lurz một bức hình của Elsie mà Zakariyya đã treo trên tường. “Tôi không tin chị gái tôi đã bị tất cả những bệnh đó”.
Lurz lắc đầu. “Trong tấm ảnh này, trông cô bé không có vẻ bị bại não. Cô bé trông thật dễ thương”.
“Chị ấy đã bị co giật”, Deborah nói. “Và chị ấy không bao giờ học được cách sử dụng bồn vệ sinh. Nhưng tôi nghĩ chị ấy chỉ bị điếc. Tôi và các anh em của tôi cũng bị điếc thần kinh nhẹ vì bố mẹ tôi là anh em họ và cả hai đều bị bệnh giang mai. Đôi lúc tôi tự hỏi nếu có người dạy cho chị ấy thủ ngữ, có thể chị ấy vẫn còn sống”.
Lurz ngồi xuống ghế, vắt chéo chân và nhìn vào bức ảnh của Elsie. “Cô phải chuẩn bị tinh thần”, ông ta nói với Deborah, giọng nhẹ nhàng. “Đôi khi biết sự thật cũng đau đớn chẳng kém gì việc không biết”.
“Tôi đã sẵn sàng”, Deborah nói và gật đầu.
“Chúng tôi đã gặp rắc rối lớn với chất amiăng”, ông ta nói. “Hầu hết các bệnh án từ những năm 1950 đổ về trước đã bị ảnh hưởng. Thay vì xử lý từng trang bệnh án để giữ chúng lại thì ban quản lý đã quyết định nhét chúng vào túi và đem đi chôn”.
Ông ấy bước đến cửa kho gần bàn làm việc, tường nhà kho xếp đầy những giá và tủ đựng tài liệu. Ở góc trong, ông lục một cái bàn nhỏ đối diện tường. Lurz đã làm việc ở Crownsville từ năm 1964, khi ông còn là một thực tập sinh ở độ tuổi hơn 20, và ông có sở thích sưu tầm những tài liệu có khả năng mang tính lịch sử – các bệnh án, bản sao của các báo cáo nhập viện cũ, bất cứ thứ gì thu hút sự chú ý của ông: một đứa trẻ sơ sinh không có người thân phải nhập viện vì mù một mắt và bị dị dạng; một đứa trẻ phải nhập viện mà không có triệu chứng tâm thần rõ rệt.
Lurz biến mất vào nhà kho, và bắt đầu lẩm bẩm giữa tiếng loảng xoảng ồn ào. “Có một số... Tôi vừa lấy chúng ra vài tuần trước... À! Đây rồi”. Ông bước ra khỏi nhà kho, mang theo một chồng sách quá khổ có gáy dày bằng da và bìa bằng vải màu xanh sẫm. Chúng đã cong queo vì thời gian, phủ đầy bụi, và những trang giấy đã ngả màu vàng xỉn.
“Đây là các báo cáo khám nghiệm tử thi”, ông ấy nói, mở cuốn sách đầu tiên ra trong lúc mùi nấm mốc tràn ngập khắp phòng. Ông đã tìm thấy chúng trong lúc sục sạo tầng hầm của một tòa nhà bỏ hoang của bệnh viện trong những năm 1980. Khi mới mở chúng ra, hàng trăm con bọ đã chạy toán loạn từ những trang sách xuống bàn.
Giữa thời kỳ từ 1910, năm bệnh viện bắt đầu hoạt động, đến cuối những năm 1950, khi các bệnh án bị tiêu hủy, hàng vạn bệnh nhân đã lưu trú tại Crownsville. Các dữ liệu của họ, nếu còn tồn tại, sẽ đủ để lấp đầy vài căn phòng như của Lurz. Giờ chồng tài liệu này là tất cả những gì còn sót lại ở Crownsville.
Lurz lấy ra một quyển bao gồm các báo cáo từ 1955, năm Elsie qua đời, và Deborah rít lên trong phấn khích.
“Tên đầy đủ của cô ấy là gì?” Lurz hỏi, miết ngón tay dọc những cái tên được viết cẩn thận bên cạnh số trang.
“Elsie Lacks”, tôi nói, và đọc lướt những cái tên trong danh sách qua vai ông ấy, tim đập thình thịch. Rồi, trong sự choáng váng, tôi chỉ vào dòng chữ Elsie Lacks trên trang giấy và nói: “Ôi Chúa ơi! Kia rồi!” Deborah thở gấp, mặt cô bỗng tái mét. Cô nhắm chặt mắt, nắm lấy tay tôi để đứng vững, rồi thì thầm: “Tạ ơn Chúa... Tạ ơn Chúa”.
“Ồ. Điều này thật đáng kinh ngạc”, Lurz nói. “Đúng ra khả năng có thông tin của cô ấy trong đống này là rất thấp”.
Deborah và tôi nhảy cẫng lên và vỗ tay. Không cần biết trong hồ sơ nói gì, ít nhất nó cũng cho chúng tôi biết đôi điều về cuộc sống của Elsie, như vậy còn tốt hơn là không có gì.
Lurz lật đến trang của Elsie, rồi nhắm chặt mắt và ép cuốn sách vào ngực trước khi chúng tôi có thể nhìn thấy bất cứ điều gì. “Tôi chưa từng thấy một bức ảnh trong các báo cáo như thế này”, ông ấy thì thầm.
Lurz hạ cuốn sách xuống để chúng tôi có thể nhìn, và bỗng nhiên thời gian như ngừng lại. Ba người chúng tôi đứng đó, đầu chạm vào nhau, trong lúc Deborah khóc: “Ôi chị gái tôi! Chị ấy giống hệt con gái tôi!... Chị ấy giống hệt Davon!... Chị ấy giống hệt cha tôi!... Chị ấy có nước da nâu bóng mượt của dòng họ Lacks”.
Lurz và tôi chỉ nhìn chằm chằm, không nói nên lời.
Trong tấm ảnh, Elsie đứng trước một bức tường có sơn số để đo chiều cao. Tóc của cô, mái tóc mà Henrietta đã từng dành nhiều giờ đồng hồ để chải và thắt bím, được uốn cong, với những lọn dày mọc dài ngay bên dưới mốc 1,5 mét đằng sau cô. Cặp mắt đã từng rất xinh đẹp lồi ra, hơi bầm tím và sưng mọng. Cô nhìn chằm chằm vào một điểm ngay bên dưới máy chụp hình, đang khóc, mặt cô méo mó và chẳng thể nhận ra, hai lỗ mũi đỏ ửng và đầy nước mũi; miệng cô sưng gấp đôi bình thường, bao phủ bởi lớp da nứt nẻ tím tái; lưỡi dày và thè ra khỏi miệng. Có vẻ như cô đang gào thét. Đầu cô bị vặn một cách mất tự nhiên sang bên trái, cằm hất lên và được giữ chặt bởi đôi bàn tay to bự của một người da trắng.
“Chị ấy không muốn xoay đầu về phía đó”, Deborah thì thầm. “Tại sao họ lại giữ đầu của chị ấy như vậy?” Không ai lên tiếng. Chúng tôi chỉ đứng đó, nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay trắng muốt to bự đang quấn quanh cổ Elsie. Chúng được giũa cẩn thận và nữ tính, ngón út hơi nhấc lên – đôi bàn tay bạn thường thấy trong các quảng cáo sơn móng tay, không phải để ôm cổ một đứa trẻ đang khóc.
Deborah đặt bức hình của Elsie khi còn nhỏ xuống cạnh bức hình mới.
“Ồ, cô bé thật xinh đẹp”, Lurz thì thầm.
Deborah vuốt ngón tay trên khuôn mặt của Elsie trong bức hình ở Crownsville. “Trông chị ấy như đang tự hỏi tôi ở đâu”, cô ấy nói. “Trông chị ấy như đang cần em gái”.
Bức hình được gắn trên góc của bản khám nghiệm tử thi của Elsie mà tôi và Lurz đang bắt đầu đọc, thỉnh thoảng nói lớn một số từ: “được chẩn đoán là thiểu năng”... “có liên quan trực tiếp tới bệnh giang mai”... “tự nôn mửa vì thọc ngón tay xuống cổ họng trong sáu tháng trước khi chết”. Cuối cùng, bản báo cáo viết cô ấy đã “nôn ra những thứ trông như cà phê nghiền”, mà có lẽ là máu đông.
Ngay khi Lurz vừa đọc câu “nôn ra những thứ trông như cà phê nghiền” thành lời, một người đàn ông lùn mập và hói đầu trong bộ vest tối màu lao vào phòng bảo tôi không được ghi chép và hỏi chúng tôi đang làm gì ở đây.
“Đây là gia đình của bệnh nhân”, Lurz gắt. “Họ đến đây để tìm bệnh án của bệnh nhân”.
Người đàn ông ngập ngừng, nhìn Deborah, rồi nhìn tôi: một người phụ nữ da đen lùn ở tuổi 50, và một người phụ nữ da trắng cao ráo gần bước sang tuổi 30. Deborah nắm chặt cây gậy và nhìn ông ta chằm chằm như thể muốn nói thách ông ta gây sự. Cô thò tay vào túi và lấy ra ba mẩu giấy: giấy khai sinh của cô, giấy khai sinh của Elsie, và giấy chứng minh cô là người có quyền pháp lý trước Elsie, thứ giấy tờ cô đã dành nhiều tháng trời để có được, phòng khi có người tìm cách ngăn cản cô làm những gì chúng tôi đang làm.
Cô ấy đưa chúng cho ông ta. Ông ta chộp lấy cuốn báo cáo khám nghiệm tử thi và bắt đầu đọc. Deborah và tôi trừng mắt nhìn ông ta, vì ông ta đã ngăn cản chúng tôi nên cả hai chúng tôi đều đã quá giận để có thể nhận ra rằng ông ta là một trong số ít các nhân viên bệnh viện đang tìm cách bảo vệ sự riêng tư của gia đình Lacks.
“Deborah có thể lấy một bản sao của báo cáo khám nghiệm tử thi được chứ?” – tôi hỏi Lurz.
“Được”, Lurz đáp, “nếu cô ấy nộp đơn yêu cầu”. Ông ấy cầm một tờ giấy và đưa cho Deborah.
“Tôi phải viết gì?” cô ấy hỏi.
Lurz bắt đầu đọc: “Tôi, Deborah Lacks..”.
Vài giây sau, cô ấy đã viết xong bản yêu cầu nhận báo cáo khám nghiệm tử thi trên một tờ giấy rách. Cô ấy đưa cho Lurz và bảo ông: “Tôi cần một bản photo rõ nét bức ảnh đó nữa”.
Trước khi rời đi để photo, với người đàn ông bị hói theo sau, Lurz đưa cho tôi xấp ảnh và tệp tài liệu để đọc trong lúc ông vắng mặt. Tài liệu đầu tiên trong đó là bài báo từ Washington Post năm 1958, ba năm sau cái chết của Elsie, với dòng tiêu đề:
BỆNH VIỆN QUÁ TẢI “ĐỂ MẤT” CÁC BỆNH NHÂN CÓ THỂ CHỮA TRỊ
Thiếu Nhân Lực ở Crownsville Đã Đẩy Họ Vào Tình Trạng Nguy Cấp.
Ngay khi đọc dòng tiêu đề ấy, tôi đã úp tờ báo xuống đùi. Trong khoảnh khắc, tôi đã định không đưa nó cho Deborah xem. Tôi nghĩ tôi nên đọc nó trước để tôi có thể chuẩn bị tinh thần cho Deborah trước những điều khủng khiếp. Nhưng cô đã chộp nó khỏi tay tôi và đọc lớn dòng tiêu đề, rồi ngẩng lên với ánh mắt bàng hoàng.
“Thật hay”, cô ấy nói, chỉ vào bức ảnh minh họa với một nhóm đàn ông trong đủ trạng thái tuyệt vọng khác nhau, tay ôm đầu, nằm dài trên sàn nhà, hoặc tụm lại trong góc phòng. “Tôi muốn treo nó lên tường”. Cô ấy đưa lại tờ báo cho tôi và bảo tôi đọc lớn.
“Cô chắc chứ?” tôi hỏi. “Bài báo này có thể có một số thông tin tiêu cực. Cô có muốn tôi đọc nó trước rồi kể lại cho cô biết nội dung không?”
“Không”, cô ấy quát. “Như ông ta đã nói, họ không có tiền để chăm sóc cho người da đen”. Cô ấy bước đến sau lưng tôi và ngó qua vai trong lúc tôi đọc, rồi liếc qua bài báo, chỉ vào một số từ trong đó: “Ghê tởm?” cô ấy nói. “Các khu bệnh đáng sợ dành cho người da đen?”
Crownsville nơi Elsie qua đời đã ở trong tình trạng tồi tệ hơn bất kỳ thứ gì Deborah có thể hình dung. Các bệnh nhân được chuyển đến từ bệnh viện lân cận trong những toa tàu chật ních. Vào năm 1955, thời điểm Elsie qua đời, số bệnh nhân ở Crownsville cao đến mức kỷ lục với hơn 2.700 người, vượt mức tối đa 800 người. Năm 1948, năm duy nhất có các số liệu thống kê, trung bình ở Crownsville một bác sĩ chịu trách nhiệm 225 bệnh nhân, và tỷ lệ tử vong cao hơn nhiều so với tỷ lệ xuất viện. Các bệnh nhân bị nhốt trong những khu buồng kín gió, xú uế thải ra sàn thay vì nhà vệ sinh. Đàn ông, phụ nữ và trẻ em da đen mắc đủ loại bệnh từ chứng mất trí và lao, đến “lo âu”, “thiếu tự tin”, và động kinh bị xếp vào bất cứ nơi nào có thể, gồm những căn phòng dưới tầng hầm không có cửa sổ và những hành lang được rào kín. Nếu có giường, hai bệnh nhân, hoặc nhiều hơn, phải chia nhau một tấm đệm đơn, đầu chạm chân, bò qua biển người đang ngủ để đến giường của mình. Bệnh nhân không được phân loại bởi độ tuổi hay giới tính, và thường có cả những người phạm tội lạm dụng tình dục. Ở đây thường xuyên diễn ra bạo loạn với vũ khí tự chế. Các bệnh nhân ngỗ ngược bị buộc vào giường, nhốt ở những căn phòng khóa kín.
Về sau tôi được biết rằng trong lúc Elsie sống ở Crownsville, các nhà khoa học đã thường xuyên thực hiện những nghiên cứu trên cơ thể bệnh nhân mà không có sự chấp thuận, bao gồm một thí nghiệm có tên “Chụp khí não và X-quang hộp sọ ở 100 người động kinh”. Chụp khí não là một kỹ thuật được phát triển vào năm 1919 để chụp ảnh não bộ. Não bộ được bao quanh trong chất dịch, chất dịch đó bảo vệ não khỏi bị tổn thương, nhưng khiến cho việc chụp X-quang trở nên khó khăn, vì các hình ảnh chụp qua chất dịch sẽ bị mờ. Kỹ thuật chụp khí não bao gồm việc đục các lỗ trên hộp sọ của đối tượng nghiên cứu, hút dịch xung quanh não của họ, và bơm khí hoặc heli vào hộp sọ để thay thế chất dịch, để có thể chụp ảnh X-quang não bộ rõ nét hơn. Các phản ứng phụ – đau đầu, chóng mặt, co giật, nôn mửa – sẽ kéo dài cho đến khi cơ thể tự bơm đầy dịch não tủy lên hộp sọ, thường mất hai đến ba tháng. Vì chụp khí não có thể gây tổn thương vĩnh viễn đến não bộ và thậm chí là khiến bệnh nhân bị liệt, nên nó đã bị cấm từ những năm 1970.
Không có bằng chứng nào cho thấy các nhà khoa học đã nhận được sự cho phép của bệnh nhân hay của cha mẹ họ ở Crownsville trước khi tiến hành nghiên cứu. Về sau Lurz nói với tôi, dựa trên số bệnh nhân được liệt kê trong nghiên cứu chụp khí não và số năm tiến hành, nhiều khả năng tất cả những đứa trẻ bị động kinh từng sống trong bệnh viện đã được đem ra làm nghiên cứu, bao gồm cả Elsie. Việc này tương tự với ít nhất một nghiên cứu khác có tên: “Sử dụng Chân cắm[1] Vùng Thái Dương Sâu trong Nghiên cứu Động kinh Tâm thần Vận động”, bao gồm việc chọc những đầu dò kim loại vào não của bệnh nhân.
Không lâu sau khi Elsie qua đời, một quản đốc mới đã tiếp quản Crownsville và cho hàng trăm bệnh nhân xuất viện, những người đã phải nhập viện một cách không cần thiết. Tờ Washington Post đã trích lời của ông rằng: “Việc tệ nhất bạn có thể làm với một người bị bệnh là đóng cửa lại và quên bẵng họ”.
Khi tôi đọc dòng chữ ấy thành lời, Deborah đã thì thầm: “Chúng tôi không quên chị ấy. Mẹ tôi đã chết... không ai nói với tôi rằng chị ấy đang ở đây. Nếu biết, tôi đã đưa chị ấy ra”.
Khi chúng tôi rời Crownsville, Deborah đã cảm ơn Lurz về tất cả những thông tin trên: “Tôi đã đợi giây phút này từ rất, rất lâu rồi, bác sĩ ạ”. Khi ông hỏi Deborah có ổn không, cô giàn giụa nước mắt, nói: “Như tôi vẫn luôn nói với các anh em trai, nếu chúng ta đào sâu vào lịch sử, chúng ta không thể làm vậy trong trạng thái thù hằn. Chúng ta phải nhớ, đó là một thời đại khác”.
Khi ra đến bên ngoài, tôi hỏi Deborah liệu cô có thực sự ổn hay không. Cô chỉ cười to như thể tôi bị dở hơi. “Đến đây là một quyết định sáng suốt”, cô ấy nói, rồi vội vàng bước ra bãi đỗ xe, trèo lên xe, hạ cửa kính xuống. “Tiếp theo sẽ đi đâu?” Lurz đã nói tất cả bệnh án cũ còn sót lại của Crownsville đều được cất tại Trung tâm Lưu trữ Bang Maryland ở Annapolis, cách đây khoảng bảy dặm. Ông ấy nghĩ họ không còn bất cứ tài liệu nào của những năm 1950, nhưng chẳng mất gì mà không đến thử xem.
“Chúng ta sẽ đến Annapolis để xem họ có bệnh án của chị gái tôi hay không ư?”
“Tôi không nghĩ đó là một ý kiến hay”, tôi nói. “Cô không muốn nghỉ một chút sao?”
“Không đời nào!” – cô ấy hét. “Chúng ta còn nhiều việc phải làm – chỉ mới khởi động thôi mà!” Cô ấy phóng xe đi, mỉm cười và ve vẩy bức hình của chị gái bên ngoài cửa kính trong lúc tôi nhảy lên xe mình và đi theo.
Khoảng 10 phút sau, khi chúng tôi tấp vào bãi đỗ xe của Trung tâm Lưu trữ Bang, Deborah lắc lư trên ghế, nhạc thánh ca bật to đến nỗi tôi có thể nghe thấy khi cửa kính vẫn đóng chặt. Khi chúng tôi vào trong, cô ấy đi thẳng đến quầy lễ tân, thò tay vào túi, lấy bệnh án của mẹ mình ra, vẫy trên đầu và nói: “Họ gọi mẹ tôi là HeLa! Bà ấy có mặt trong tất cả các máy tính!” Tôi đã cảm thấy nhẹ nhõm khi cô lễ tân nói trung tâm không lưu giữ bệnh án của Elsie. Tôi không biết Deborah còn có thể chịu đựng đến bao giờ nữa, và tôi sợ những gì chúng tôi sẽ tìm thấy.
Thời gian còn lại của ngày rất mơ hồ. Mỗi lần chúng tôi dừng xe, Deborah lại nhảy xuống, cầm chặt bức ảnh mới của chị gái và chìa thẳng vào mặt của tất cả những người chúng tôi gặp: một phụ nữ ở cuối góc phố, một người đàn ông bơm xăng cho chúng tôi, một mục sư ở một nhà thờ nhỏ, những cô bồi bàn. Mỗi lần, cô lại nói: “Xin chào, tên tôi là Deborah và đây là phóng viên của tôi, chắc hẳn các vị đã nghe nói đến chúng tôi, mẹ tôi xuất hiện trong lịch sử với các tế bào của bà, và chúng tôi vừa tìm được bức ảnh này của chị gái tôi!”
Phản ứng của họ mỗi lần đều giống nhau: cực kỳ kinh hãi. Nhưng Deborah đã không để ý. Cô chỉ cười và nói: “Tôi thật vui vì cuộc điều tra của chúng ta đang có tiến triển!” Khi chúng tôi lái xe đến gần Clover, câu chuyện đằng sau bức ảnh lại có thêm chi tiết mới. “Mặt Elsie hơi sưng vì chị ấy đang nhớ mẹ”, cô ấy nói. Một lần khác, cô ấy nói với một người phụ nữ: “Chị gái tôi đang buồn vì tìm tôi mà không thấy”.
Thỉnh thoảng cô lại tấp vào lề đường và vẫy tôi lại gần để có thể nói cho tôi nghe các ý tưởng khác nhau mà cô ấy đã nghĩ ra trong lúc lái xe. Có lần cô quyết định sẽ mua một cái két sắt để cất cuốn Kinh Thánh và những lọn tóc; lần khác cô lại hỏi liệu cô có cần đăng ký bản quyền chữ ký của Henrietta để không ai có thể ăn trộm không. Ở trạm xăng, trong lúc chúng tôi đang xếp hàng chờ đến lượt vào nhà vệ sinh, cô ấy lấy một cái búa ra từ túi xách và nói: “Ước gì cả nhà sẽ cho tôi căn Nhà Chung để tôi có thể biến nó thành một địa điểm lịch sử. Nhưng họ sẽ không làm vậy, nên tôi sẽ lấy nắm đấm cửa để ít nhất là tôi cũng có được một thứ từ căn nhà”.
Có lần, Deborah trèo ra khỏi xe, mặt như chực khóc. “Tôi không thể tập trung lái xe”, cô ấy nói. “Tôi cứ không ngừng nhìn vào bức ảnh của chị Elsie”. Cô ấy đã đặt cả hai bức ảnh của Elsie lên ghế hành khách ngay cạnh cô, và nhìn chúng chằm chằm trong lúc lái. “Tôi không thể gạt bỏ những suy nghĩ này khỏi đầu. Tôi không ngừng nghĩ đến những việc mà chị ấy phải trải qua từng ấy năm trước khi chết”.
Tôi muốn lấy bức hình khỏi tay Deborah để cô ấy thôi hành hạ bản thân, nhưng cô ấy sẽ không để tôi làm vậy ngay cả khi tôi tìm cách.
Thay vào đó, tôi chỉ nói có lẽ chúng tôi nên về nhà, những ngày vừa qua đã khá vất vả, và có lẽ cô ấy chưa sẵn sàng để tìm hiểu quá nhiều thông tin một lúc. Nhưng mỗi lần, Deborah lại bảo tôi bị điên nếu tôi nghĩ rằng cô ấy sẽ dừng lại vào lúc này. Nên chúng tôi tiếp tục đi.
Có vài lần, Deborah lại nói tôi nên cầm bệnh án của Henrietta về phòng khi chúng tôi dừng lại để nghỉ đêm. “Tôi biết cô phải kiểm tra từng trang một, phải ghi chú và làm đủ thứ, vì cô cần có tất cả thông tin”. Và cuối cùng, cô ấy đã đưa nó cho tôi khi chúng tôi nhận phòng khách sạn ở đâu đó giữa Annapolis và Clover vào khoảng chín giờ tối.
“Tôi sẽ đi ngủ”, cô ấy nói, bước vào phòng bên cạnh. “Cô cứ tự nhiên”.
❀ ❀ ❀
[1] Trong thiết bị điện tử, chân cắm là một kết nối điện bao gồm dây dẫn dài hoặc một miếng kim loại được thiết kế để kết nối điện giữa hai vị trí.