Địa thế phía bắc Sơn Tây khá cao, toàn bộ bề mặt địa hình đều bị các dãy núi lớn nhỏ lấp đầy. Trong đó, núi Hạ Ốc và núi Câu Chú tạo thành một cái miệng hồ lô vô cùng hẹp, nối liền lưu vực Đại Đồng và lưu vực Hân Định - nơi huyện Hoắc Nhân tọa lạc.
Năm mươi năm trước, Trung Hàng Mục Tử dẫn theo người nước Tấn chinh phục Thái Nguyên, các bộ lạc Nhung Địch rút về phía bắc, chính là rời đi qua cái ải này. Họ để lại nơi đây một thành ấp nhỏ, tên là Câu Chú. Mười lăm năm trước, Triệu Ưng đoạt lại nơi này từ tay người Địch, tu sửa thành ấp nhỏ thành một cửa ải, gọi là "Câu Chú Tắc", xem như cực bắc biên cảnh của Triệu thị và cũng là của nước Tấn, là ranh giới giữa Nhung Địch và Hoa Hạ.
Khi Triệu Vô Tuất đến đây, chỉ thấy trên vùng núi non nguyên dã trắng xóa một màu, vắt ngang một tòa quan ải bằng đất đá hỗn hợp, nằm chặn đúng giữa hai dãy núi Câu Chú và Hạ Ốc, khóa chặt con đường hẹp, che khuất phong sa thổi đến từ thảo nguyên phương bắc, cũng ngăn cản gió xuân phương nam. Thế trận này rất giống cánh cửa giữa hai cột đá, từ xưa đến nay, người qua xe lại đều phải đi qua cửa này, duy chỉ có lũ đại nhạn đang sải cánh là không cần, chúng bay trực tiếp qua phía trên cửa ải, tựa như bước qua một ngưỡng cửa thấp bé, một đường bay về nam.
Cho nên ở hậu thế, Câu Chú Tắc còn có một cái tên nổi tiếng hơn: Nhạn Môn Quan! Là đứng đầu trong chín cửa ải thiên hạ.
Đổng An Vu sau khi hoàn thành di nguyện của Triệu Ưng liền quay về Tấn Dương trước, Triệu Vô Tuất cùng đoàn người dưới sự dẫn đường của Tư Cừ tiến vào Câu Chú Tắc.
Có lẽ vì ở lại biên ải quá lâu, tính cách Tư Cừ vô cùng sảng khoái, nhắc đến lão chủ quân Triệu Ưng liền đau lòng đến lệ rơi đầy mặt. Đối với việc Triệu Vô Tuất lại đến vùng cực bắc hẻo lánh này, ông có chút thụ sủng nhược kinh, rất nhiệt tình đưa Triệu Vô Tuất đi dạo quanh trong ải.
Vô Tuất chú ý tới bên trong cửa ải khá giống một tiểu ấp, doanh lũy, mã cữu, xưởng đúc, giếng nước và chuồng cừu v.v... cái gì cũng có. Thậm chí còn có hơn ngàn mẫu đất, nơi đó từng trồng lúa túc và lúa mạch, tiếc rằng đã vào thu, sương giá khắc nghiệt đã làm chết những cây trồng còn sót lại, chỉ để lại tro bùn và những thân cây héo rũ.
Toàn bộ quan ải chỉ có một bức tường đá cao bằng hai người và cánh cổng đóng chặt, được bảo vệ bởi một cặp tháp đá hình vuông, trên tường thành hẹp hòi ngày đêm đều có binh lính tuần tra.
Cách một bức tường, bên ngoài là hào sâu dùng để phòng thủ, một con đê đất dốc và hàng rào gỗ kéo dài ra ngoài. Vì mưa tuyết liên miên, rêu xanh dày đặc bò lên che kín hàng rào gỗ và một nửa tường thành.
Đây là một tòa thành ải quan trọng, nhưng nó lại không hề kiên cố. Địch lâu sập mất nửa bên bị tuyết phủ, vẫn chưa thể sửa xong, có thể tưởng tượng được cuộc giao chiến lúc đó ác liệt đến nhường nào.
Tư Cừ giới thiệu: "Huyện Hoắc Nhân có đồ tốt một ngàn người, trong đó Câu Chú Tắc có đủ một lữ là năm trăm người, đa số là dã nhân bản địa, gia quyến của họ phần lớn cư trú xung quanh huyện ấp. Hai năm trước chiến hỏa bay tứ tung, chúng ta tử thủ nơi này, khiến Đại Nhung không thể bước qua ải này dù chỉ một bước! Chỉ tiếc biên giới dài mấy trăm dặm, Câu Chú Tắc chỉ có thể phòng thủ vài cửa núi, người Đại vẫn vòng qua Lâu Phiền, đánh hạ huyện Hoắc Nhân, cắt đứt đường lương thảo của chúng ta."
Triệu Vô Tuất không khỏi hỏi: "Vậy các ngươi đã chống đỡ qua như thế nào?"
"Bên cạnh quan ải có khe suối, lại có giếng, nước thì không thiếu, mọi người dựa vào lương thực dự trữ và bắn nhạn chim sẻ, hái thương nhĩ, rêu để sống qua ngày. Về sau, Đại Tử đích thân thống soái ngàn người tới vây công, ngay cả ra ngoài săn bắn cũng không được, chúng ta bèn dùng nước nấu giáp y, dây cung, cung nỏ, ăn phần gân thú, da thuộc trên đó."
Triệu Vô Tuất có thể tưởng tượng ra sự gian nan khốn khổ lúc đó, nhưng trong miệng Tư Cừ, lại tựa như việc thường tình.
Một lão tốt bên cạnh cười nói: "Khi chúng ta không chống đỡ nổi nữa, Lữ soái nói với đám sĩ tốt rằng, Tiên quân đối đãi với ông ấy thế nào, ông ấy sẽ đối đãi với binh tốt như thế đó. Vì Lữ soái cùng chúng ta đồng sinh cộng tử, nên mọi người đều một lòng. Nhưng người chết ngày một nhiều, chỉ còn lại bốn trăm người, Đại Tử biết chúng ta đã rơi vào tuyệt cảnh, nhất định muốn Lữ soái đầu hàng, liền phái sứ giả tới chiêu hàng rằng: Tư Cừ, nếu ngươi đầu hàng, Đại quân sẽ phong ngươi làm bộ tộc chi chủ, ban nữ tử cho ngươi làm vợ!"
"Lữ soái giả vờ đồng ý, dụ sứ giả Đại Tử lên thành, đích thân giết chết hắn, trên đầu thành dùng lửa nướng xác sứ giả, cùng chúng ta chia nhau ăn, miệng hô thống khoái, mùi thịt thậm chí bay xuống dưới thành, còn nói với Đại Tử rằng, nếu có nữ tử thì nhanh chóng đưa tới. Đại Tử vô cùng phẫn nộ, lại phái thêm hơn ngàn binh tốt vây khốn, nhưng vẫn không thể công phá cửa ải, ngược lại bị chúng ta giết thương hơn trăm người, chật vật rút lui, từ đó không dám tới tấn công Câu Chú Tắc nữa."
"Tráng thay!" Triệu Vô Tuất cảm động, không khỏi vỗ tay khen ngợi. Có lẽ là do hoàn cảnh, dân chúng Triệu thị ở Thái Nguyên so với ở Hà Nội, Hàm Đan càng kiên cường hơn, binh tốt chiêu mộ từ Thái Nguyên thường có thể lấy một địch hai. Ông đồng thời cũng nhìn Tư Cừ với con mắt khác, một vị tướng kiên cường dũng cảm như vậy mà ném ở nơi này quả thật là uổng phí tài năng.
Tư Cừ thì có chút ngượng ngùng gãi gãi bộ râu quai nón, nói: "Mặc dù binh mỏi tốt yếu, nhưng vẫn luôn chống đỡ đến khi viện quân của Nguyên soái tới. Là vậy đó, bây giờ chỉ còn lại ba trăm mười lăm người, chỉ tiếc gia nhân của họ ở Hoắc Nhân có không ít người bị Nhung Địch bắt đi, quay về nhà, nhìn thấy tường đổ vách nát, vợ con không biết tung tích, chỉ còn lại thi hài cha mẹ già, không ai là không đau khóc thảm thiết."
"Các ngươi thật đúng là trung thần của Triệu thị."
Triệu Vô Tuất cảm động, nhìn những thủ tốt chất phác đang tụ lại, dùng ánh mắt tò mò, sùng kính nhìn mình, vừa cảm động vừa hổ thẹn. Lão binh không chết, chỉ là đang điêu linh, ông nợ họ thật sự quá nhiều!
Ông kiên quyết nắm tay Tư Cừ, đi lên tường thành, nói với mọi người: "Câu Chú Tắc không chịu khuất phục trước Nhung Địch, kiên thủ hai năm, linh hồn cha ta là Vũ Tử ở trên trời cũng sẽ vì các ngươi mà cảm thấy tự hào, huống chi là tiểu tử này? Ta tuyên bố tại đây, Lữ soái Tư Cừ do lập công được tăng tước làm Trung Đại phu, đảm nhiệm Huyện úy Hoắc Nhân, đồng thời cũng là Sư soái! Phàm thủ tốt ở Câu Chú Tắc, dã nhân thăng làm Quốc nhân, Quốc nhân thăng làm Sĩ, Hạ sĩ thăng làm Trung sĩ, Trung sĩ thăng làm Thượng sĩ! Người chiến tử sẽ có bồi thường khác, tên của họ có thể liệt vào danh sách trên Vân Đài, trăm đời được Triệu thị bồi tự!" "Hơn nữa, để ghi nhớ sự tích các ngươi thủ vệ Hằng Sơn, ta sẽ lấy tên Hằng đặt cho đích trưởng tử mới chào đời của ta, Triệu Hằng!"
Đây là vinh quang vô thượng, thủ tốt Câu Chú Tắc hoan hô từng đợt. Trong một năm qua, họ đã nhận được nhiều phần thưởng là lương thực và thịt, nay lại được phong thưởng, không ai là không vui mừng, những đòi hỏi xa xỉ của lão binh biên ải cũng chỉ có vậy mà thôi.
Tư Cừ cũng xúc động nói: "Thần cùng mọi người vẫn nguyện ý thủ biên cho Triệu thị!"
"Không!" Triệu Vô Tuất lại lắc đầu phủ nhận điểm này.
Ông lớn tiếng tuyên bố với mọi người: "Không chỉ là thủ biên, không chỉ là bị động phòng bị Nhung Địch xâm nhập. Lần này, chúng ta phải chủ động đánh ra ngoài, nghênh đón người nhà bị bắt đi của các sĩ tốt trở về, càng phải bắt chúng trả lại gấp mười gấp trăm lần nỗi đau mà Đại Nhung gây ra cho huyện Hoắc Nhân, cho Thái Nguyên!"
"Tần thời minh nguyệt Hán thời quan, vạn lý trường chinh nhân vị hoàn. Đản sử Long Thành phi tướng tại, bất giáo Hồ mã độ Âm Sơn". Hiện nay hai triều Tần Hán đại khái là không thể nào có, tổ tiên của Phi tướng quân là Lão Tử vẫn còn đang vân du bốn phương, biên giới giữa Hoa Hạ và Nhung Địch cũng không phải là Âm Sơn, mà là Câu Chú Tắc. Nhưng Triệu Vô Tuất cũng lập lời thề, muốn để lịch sử "khiến Nhung Địch không dám xuôi nam chăn ngựa, cung sĩ không dám giương cung mà oán than" diễn ra sớm hơn!
Dưới ánh mắt kích động của mọi người, Triệu Vô Tuất rút kiếm Can Tương, chỉ thẳng ra ngoài ải: "Ta muốn dẫn các ngươi, phóng ngựa giẫm nát bãi cỏ của người Đại, chiếm lĩnh ruộng vườn thành ấp của họ, tể sát trâu dê của họ để ăn uống no nê, cướp lấy thê nữ của họ làm nô tỳ trên giường của các ngươi!"
"Ta muốn tất cả Nhung Địch man di đều phải ghi lòng tạc dạ, kẻ nào dám công khai phạm vào Cường Triệu, tuy viễn tất tru!"
"Chủ quân lấy Hằng Sơn lâm Đại, cửa ải đều nằm trong tay chúng ta, cho nên từ Câu Chú Tắc xuất quân tấn công biên cảnh nước Đại khá dễ dàng. Nhưng nếu muốn chỉ dựa vào một lộ, một sư quân chúng này thâm nhập sâu vào đất Đại, tiêu diệt nước Đại mà chiếm lấy nó thì lại hơi khó khăn."
Đêm đó, trong căn nhà đơn sơ mà thủ tốt Câu Chú Tắc đã cố gắng dọn dẹp mấy lượt nhưng vẫn còn lẫn mùi phân ngựa và mùi ẩm mốc, Tư Cừ bắt đầu báo cáo tường tận về tình báo của nước Đại cho Triệu Vô Tuất.
"Thực ra vùng đất Hạ Ốc, Câu Chú nam bắc dài mấy trăm dặm này, từng bị nước Vô Chung chiếm cứ, cho đến năm mươi năm trước khi nước Vô Chung bị Trung Hàng Mục Tử đánh bại suy tàn, người Tấn mới chậm rãi di cư vào phía nam. Còn về phía bắc, sau khi Vô Chung thất bại, bộ chúng phân tán, vốn là một bộ lạc nhỏ là Đại Nhung mới thừa thế thủ tiêu, lập ra bang quốc mới, quân chủ tự xưng Đại Vương, lấy chó đen làm cờ hiệu."
Ông cẩn thận quan sát vẻ mặt của Triệu Vô Tuất, gian phòng này rất đơn sơ bẩn thỉu, nhưng Triệu Thượng khanh vốn quen sống trong nhung lụa lại an chi nhược di, hồi tưởng lại hôm nay ngài cùng chúng thủ tốt cùng ăn lương thô, uống canh đậu, uống nước giếng, y hệt như một lão tốt, Tư Cừ cùng mọi người không ai là không bội phục, vui mừng.
Thấy Triệu Vô Tuất nghe rất chăm chú, ông tiếp tục nói: "Hiện nay nước Đại đã thành lập mấy chục năm, Đại Tử ở Đại Thành, ngoài ra còn có vài tòa thành ấp đắp bằng đất nện, cũng có ruộng đất. Nhưng phần nhiều là chia thành các bộ lạc tản cư trong khe núi, sống bằng chăn nuôi và săn bắn. Dân số hơn mười vạn, ngoài ba vạn người của bổn bộ Đại Tử ra, còn có các bộ như Kì thị, Tang Can, Cao Liễu, Thả Như, Hô Trì v.v..., mỗi bộ có mấy ngàn người không đều nhau, đều dựng cờ chó đen, tự cho mình là thân tộc của Đại Tử. Các bộ lạc khác là tạp Nhung tạp Địch bị chinh phục, tương đối lớn là bộ Đồ Hà ở phía bắc, còn có bộ Vô Chung ở gò Cùng Ngư, mỗi bộ có hơn vạn người, đều xưng thần nộp cống cho Đại Tử."
Triệu Vô Tuất có chút khinh bỉ nói: "Thác nhĩ tiểu quốc, lại dám xưng vương, hơn nữa có nước phụ dung, nhỏ mà không chịu ở vị trí thấp kém, lực yếu mà không sợ cường địch, gây thù chuốc oán với đại bang, tham bướng mà vụng về trong giao tế, có thể diệt rồi!"
Đời Đại Tử này là vài năm trước mới nhậm chức, hắn từng làm sứ giả đi sứ tới Tấn Dương, vì vẻ đẹp của Quý Doanh mà mê mẩn, nhiều lần phái người đưa lễ vật theo đuổi nhưng đều bị từ chối, trong cơn thẹn quá hóa giận mới phát binh cùng Trí thị vây công Tấn Dương. Sau khi biết Triệu Vô Tuất cưới Quý Doanh, vị Đại quân si tình đó vô cùng đau lòng, cho nên sau chiến tranh cũng không tích cực giảng hòa với Triệu thị, ngược lại đầy bụng oán hận.
Nghĩ đến đây Triệu Vô Tuất liền vô cùng khó chịu, chỉ riêng điểm này thôi, hắn cũng sẽ không bỏ qua cho Đại quân!
Ngọa tháp chi trắc, khởi dung tình địch hàm thụy!?
Ông nói: "Nghe có vẻ như nước Đại vẫn là sự liên hiệp của nhiều bộ lạc, hơn nữa còn có những người không phải người Đại, số người Đại Tử có thể trực tiếp khống chế chẳng qua chỉ là vài vạn người ở gần Đại Thành, điều này chẳng phải càng có lợi cho việc từng cái từng cái đánh bại sao? Vì sao trước đó ngươi nói diệt Đại có chút khó khăn?"
"Chủ yếu là vấn đề lương thực và binh viên." Với tư cách là lão tướng trấn thủ Câu Chú Tắc mười lăm năm, Tư Cừ hơn bốn mươi tuổi nắm rõ tình hình nơi này như lòng bàn tay.
"Sau khi chủ quân thiết lập Thái Nguyên quận, có thể tập kết bao nhiêu quân đội?"
Triệu Vô Tuất suy nghĩ một chút: "Đổng Tử ước tính, lúc nông nhàn có thể trưng tập hai vạn năm ngàn người, đủ sức chứa hai quân! Cộng thêm Vũ tốt có thể điều tới, dùng ba vạn đại quân công Đại không thành vấn đề!"
Tư Cừ bất đắc dĩ lắc đầu nói: "Nhưng Hoắc Nhân, Câu Chú lại chỉ có thể cung ứng quân lương cho mấy ngàn người, nhất định phải vận lương từ Tấn Dương cách đó mấy trăm dặm, phi sô vãn túc, đến nơi này thì lương thực đã bị dân phu ăn mất một nửa nhỏ rồi, cho nên căn bản không cách nào tập kết đại quân. Nhưng mặt khác, nếu binh tốt công Đại ít đi thì lại khó mà phá thành lược đất. Phong tục nước Đại thượng võ, trong các bộ, đại đa số nam tử đều có thể khống huyền trì mâu mà chiến, cho nên hai năm trước mới có thể tập kết hơn vạn người tới xâm nhiễu, một khi khai chiến, sự kháng cự có lẽ sẽ rất kịch liệt."
Triệu Vô Tuất gõ gõ trán: "Đây quả thực là một vấn đề lớn, nhưng mùa hạ thu năm nay, ta đã để Đổng Tử sửa sang lại con đường từ Tấn Dương thông tới Hoắc Nhân, lại để năm trăm hộ di dân Tân Giáng chuyển tới Hoắc Nhân đồn điền, năm sau sẽ còn có một ngàn hộ tới."
"Bãi cỏ bụi rậm ở phương bắc đốt lửa một trận là thành một mảnh đất mỡ màu, lại dùng Đại Điền pháp tinh canh tế tác, sản lượng không thấp, mỗi mẫu ít nhất có hai thạch. Cho nên yêu cầu của ta đối với đồn điền quan là: Năm đầu tiên để di dân có thể tự nuôi sống bản thân là được, từ năm thứ hai bắt đầu phải cung ứng quân lương tại chỗ. Cho nên chậm nhất là sau thu hoạch mùa thu năm sau, Hoắc Nhân và Câu Chú Tắc đại khái có thể đóng quân một vạn đại quân rồi, người ăn ngựa nhai, bản địa phụ trách một phần ba, Tấn Dương bổ sung hai phần ba, còn như ra khỏi ải, trên đất nước Đại thì chỉ có thể nhân lương tại địch."
Tư Cừ tuy dũng nhuệ trung thành, nhưng cũng rất cẩn trọng, ông không quá lạc quan, chỉ dè dặt nói: "Hy vọng năm sau là một năm bội thu."
Triệu Vô Tuất nghĩ ngợi, cảm thấy còn một chỗ thiếu sót, liền nói: "Tình hình nội bộ nước Đại là như vậy, thế tình hình xung quanh nước Đại lại ra sao?"
"Vâng, bên ngoài nước Đại chính là đất đai của Hồ Mạc, Bắc Địch. Phía tây là Lâu Phiền, phía bắc là Đông Hồ, đều là các bộ lạc đuổi theo nước cỏ mà di cư, không có thành quách và nghiệp cày cấy, nhiều thì hơn ngàn người, ít thì vài trăm người, không ai thống thuộc ai, chưa hình thành bang quốc, cũng không có quân trưởng thống nhất."
"Lâu Phiền, Đông Hồ", đây là hai cái tên hắn cảm thấy quen thuộc, Lâu Phiền đại khái phải đến hai trăm năm sau mới bị Triệu Vũ Linh Vương chinh phục, và tồn tại với tư cách là phụ dung và nguồn binh dịch của nước Triệu. Còn Đông Hồ, sau này từng có lúc trở thành đại bộ lạc, đe dọa an nguy nước Yên, và từng lăng áp lên trên Hung Nô.
Nói mới nhớ, bộ Hung Nô đáng lẽ phải ở phía bắc Lâu Phiền, không biết đã xuất hiện hay chưa?
Hắn tiếp tục hỏi dồn: "Tình hình chi tiết về Lâu Phiền, ngươi có biết chăng?"
Tư Cừ có chút cẩn trọng quỳ lạy nói: "Tinh lực của thần chủ yếu ở nước Đại, đối với Lâu Phiền chỉ biết cái tên, chứ chưa từng đích thân đi xem qua, cho nên những điều nói ra chắc chắn sẽ có sai sót, chủ quân không bằng hỏi những người khác."
"Ồ, trong Câu Chú Tắc còn có người từng qua lại vùng đất Lâu Phiền sao?"
"Trong cửa ải thì không, nhưng trong huyện Hoắc Nhân lại có một người, vài năm trước hắn tới đây kinh doanh, dùng tơ gai trong ải đổi trâu dê gia súc với các bộ Lâu Phiền ngoài ải, còn biết nói tiếng Lâu Phiền Địch, thậm chí còn cưới một nữ tử Lâu Phiền làm thiếp."
Tư Cừ cười nói: "Hơn nữa nói ra cũng thật khéo, người này còn tự xưng là người nước Lỗ, khi ở Khúc Phụ từng thấy nghi trượng của Tướng quân."
Một người nước Lỗ, không quản ngàn dặm xa xôi chạy tới vùng đất hoang man Nhung Địch phía bắc Thái Nguyên làm ăn? Triệu Vô Tuất lập tức nổi hứng thú: "Người này tên là gì? Khi ta quay về huyện Hoắc Nhân sẽ cho tìm hắn tới hỏi."
"Tên là Y Đốn, cách đây không lâu khi tới Câu Chú Tắc bán lương thực còn khoác lác với ta rằng hắn quen biết Đào Chu ở Đào Khâu đấy!"
Chưa xong, còn tiếp.