Tuyển Tập Truyện Ngắn Project Gutenberg

Lượt đọc: 4803 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
By Aleksandr I. Kuprin

❊ ❊ ❊

Đã là năm giờ một chiều tháng Bảy. Trời nóng khủng khiếp. Toàn bộ thị trấn xây bằng đá tỏa ra cái nóng như một lò nung rực lửa. Ánh nắng chói lọi hắt lên từ những bức tường trắng thật không tài nào chịu nổi. Những con đường lát nhựa mềm nhũn ra và làm bỏng cả bàn chân. Bóng những rợp cây keo trải trên mặt đường lát đá cuội trông thật thảm hại và mệt mỏi. Cả chúng dường như cũng đang rực cháy. Biển, nhợt nhạt dưới ánh mặt trời, nằm lặng lờ và bất động như một thây ma. Phủ trên các con phố là một lớp bụi trắng.

Trong sảnh của một rạp hát tư nhân, một ủy ban nhỏ gồm các luật sư địa phương – những người đã nhận bào chữa cho các nạn nhân trong vụ pogrom chống người Do Thái vừa qua – đang đi đến những công việc cuối cùng trong ngày. Có mười chín người bọn họ, toàn là những luật sư tập sự, còn trẻ, mang tư tưởng tiến bộ và rất tận tâm. Buổi họp diễn ra không theo nghi thức nào, và những bộ đồ bằng vải dệt chéo, vải nỉ hay vải alpaca màu trắng chiếm đa số. Họ ngồi bất cứ đâu, quanh những chiếc bàn đá cẩm thạch nhỏ, còn vị chủ tọa đứng trước một quầy hàng bỏ trống, nơi từng bán sô-cô-la vào mùa đông.

Các luật sư đã hoàn toàn kiệt sức vì cái nóng tràn qua các khung cửa sổ, đi kèm với ánh nắng chói chang và tiếng ồn ào từ ngoài phố. Cuộc họp diễn ra trong sự uể oải và mang theo một chút bực dọc.

Chủ tọa là một thanh niên cao gót, để ria mép vàng và tóc thưa. Anh đang mường tượng một cách đầy khoái cảm rằng chẳng mấy chốc nữa anh sẽ phóng chiếc xe đạp mới mua để ra ngôi nhà tranh của mình. Anh sẽ cởi quần áo thật nhanh, chẳng buồn đợi cho mồ hôi khô bớt, vẫn đẫm mồ hôi mà lao mình vào làn nước biển trong xanh, lạnh ngát và thơm ngát. Toàn thân anh vừa bải hoải vừa căng tràn, râm ran vì ý nghĩ đó. Sốt ruột đẩy những xấp giấy tờ trước mặt, anh cất giọng ngái ngủ.

“Vậy là, Joseph Moritzovich sẽ đảm nhận vụ án của Rubinchik... Có lẽ còn ý kiến nào về chương trình nghị sự nữa không?”

Thành viên trẻ tuổi nhất trong nhóm, một người Karaite thấp đậm, da ngăm đen và đầy hoạt bát, thì thầm đủ để ai cũng nghe thấy: “Về chương trình nghị sự, tuyệt nhất lúc này là một ly kvas đá...”

Vị chủ tọa liếc xéo anh ta đầy nghiêm khắc, nhưng không tài nào nén được một nụ cười. Anh thở dài, đặt cả hai tay lên bàn để đứng dậy tuyên bố bế mạc cuộc họp thì người gác cửa, nãy giờ vẫn đứng ở lối ra vào của nhà hát, bỗng bước lên phía trước và nói: “Có bảy người ở ngoài thưa ông. Họ muốn vào gặp.”

Vị chủ tọa sốt ruột đảo mắt nhìn quanh phòng.

“Phải làm sao đây, thưa các đồng nghiệp?”

Những tiếng nói vang lên.

“Để dịp khác đi. Thôi đủ rồi!”

“Bảo họ viết đơn đi.”

“Nếu họ nói nhanh gọn... Thì giải quyết luôn đi.”

“Cho họ xuống âm phủ ấy. Phù! Nóng cứ như hắc ín đang sôi.”

“Cho họ vào.” Vị chủ tọa gật đầu ra hiệu, tỏ vẻ khó chịu. “Rồi mang cho tôi một cốc nước Vichy nhé. Nhớ là phải thật lạnh đấy.”

Người gác cửa đẩy cửa ra và gọi lớn vào hành lang: “Vào đi. Họ bảo được rồi đấy.”

Ngay sau đó, bảy con người kỳ lạ và bất ngờ nhất lần lượt bước vào sảnh. Đi đầu là một người đàn ông vạm vỡ, đầy tự tin trong bộ đồ bảnh bao màu cát biển khô, mặc chiếc áo sơ mi hồng tuyệt đẹp sọc trắng và có một bông hồng thẫm cài ở khuy áo. Nhìn từ phía trước, đầu anh ta trông giống như một hạt đậu thẳng đứng, còn nhìn ngang thì giống hạt đậu nằm ngang. Gương mặt anh ta được điểm xuyết bằng hàng ria mép rậm rạp, oai vệ và cương nghị. Anh ta đeo kính gọng kẹp màu xanh đậm trên mũi, tay đeo găng tay màu rơm. Tay trái cầm một chiếc gậy chống màu đen có khâu bạc, tay phải cầm một chiếc khăn tay màu xanh nhạt.

Sáu người còn lại tạo ra một ấn tượng hỗn độn, kỳ cục và lạc lõng, hệt như thể họ vừa vội vã gom góp không chỉ quần áo mà cả tay, chân và đầu của người khác để lắp vào mình vậy. Có một kẻ sở hữu chiếc mũi cao sang của một nguyên lão nghị viện La Mã, nhưng lại khoác trên mình những bộ rách rưới tả tơi. Người khác thì mặc chiếc áo ghi-lê dạ hội lịch sự, mà từ cổ áo khoét sâu của nó, chiếc áo sơ mi Tiểu-Nga bẩn thỉu cứ thế đập vào mắt người nhìn. Lẫn trong đó là những gương mặt bất ổn mang nét của tội phạm, nhưng lại ánh lên một sự tự tin không gì lay chuyển nổi. Tất cả những kẻ này, bất chấp tuổi đời có vẻ còn trẻ, rõ ràng đều sở hữu vốn sống dày dặn, tác phong tự nhiên, cách tiếp cận táo bạo cùng một sự ranh mãnh ngầm nào đó đầy khả nghi.

Quý ông mặc bộ đồ màu cát chỉ khẽ cúi đầu, gọn gàng và thoải mái, rồi cất giọng ngập ngừng như đang muốn hỏi:

“Thưa ngài chủ tọa?”

“Vâng. Tôi là chủ tọa. Các anh có việc gì?”

“Chúng tôi—tất cả những người mà các ngài đang thấy trước mắt đây,” quý ông nọ bắt đầu bằng một giọng điềm đạm rồi quay lại ra hiệu về phía các đồng bọn, “chúng tôi đến với tư cách là những đại biểu của Hiệp hội Trộm cắp Liên hiệp Rostov-Kharkov-và-Odessa-Nikolayev.”

Các luật sư bắt đầu nhổm người trên ghế.

Vị chủ tọa ngả người ra sau và trợn tròn mắt. “Hiệp hội của cái gì cơ?” anh nói đầy kinh ngạc.

“Hiệp hội Trộm cắp,” quý ông mặc đồ màu cát điềm tĩnh nhắc lại. “Còn về phần tôi, các đồng chí đã dành cho tôi vinh dự lớn lao là bầu làm phát ngôn viên cho phái đoàn.”

“Rất... hân hạnh,” vị chủ tọa nói với vẻ hoài nghi.

“Cảm ơn ngài. Cả bảy chúng tôi đều là những tên trộm bình thường—đương nhiên là thuộc các bộ phận khác nhau. Hiệp hội đã ủy quyền cho chúng tôi mang đến trước Ủy ban kính mến của các ngài”—quý ông lại cúi đầu lịch thiệp—“yêu cầu tha thiết của chúng tôi về việc nhờ giúp đỡ.”

“Tôi không hiểu rõ lắm... nói thật là... mối liên quan ở đây là gì...” Vị chủ tọa bất lực xua tay. “Dù sao thì, xin mời anh cứ nói tiếp.”

“Vấn đề mà chúng tôi dám quang minh chính đại đến để thỉnh cầu các ngài, thưa các vị, rất rõ ràng, rất đơn giản và cực kỳ ngắn gọn. Nó sẽ chỉ mất khoảng sáu hay bảy phút thôi. Tôi thấy mình có nghĩa vụ phải báo trước điều này, xét đến thời điểm muộn màng và mức nhiệt 115 độ F đo được trong bóng râm lúc này.” Diễn giả hắng giọng nhẹ nhàng và liếc nhìn chiếc đồng hồ vàng tuyệt đẹp của mình. “Các ngài thấy đấy, trong các bản tin gần đây trên báo chí địa phương về những ngày tháng tang thương và khủng khiếp của cuộc pogrom vừa qua, thường xuyên xuất hiện những ám chỉ rằng trong số những kẻ kích động pogrom do cảnh sát trả tiền và tổ chức—những cặn bã của xã hội bao gồm những kẻ nát rượu, lang thang, ma ráu, và đám du thủ du thực từ các khu ổ chuột—thì cũng có cả sự góp mặt của bọn trộm cắp. Ban đầu chúng tôi giữ im lặng, nhưng cuối cùng chúng tôi thấy mình buộc phải lên án một lời buộc tội bất công và nghiêm trọng như vậy trước toàn thể giới trí thức. Tôi biết rõ rằng dưới con mắt của luật pháp, chúng tôi là những kẻ phạm pháp và là kẻ thù của xã hội. Nhưng các ngài hãy thử tưởng tượng dù chỉ trong chốc lát, hoàn cảnh của kẻ thù xã hội ấy khi hắn bị vơ đũa cả nắm buộc tội cho một hành vi mà không những hắn chưa từng phạm phải, mà hắn còn sẵn sàng dùng toàn bộ tâm can để chống lại. Hiển nhiên là hắn sẽ cảm thấy sự phẫn nộ trước bất công đó sâu sắc hơn nhiều so với một công dân bình thường, trung lưu và may mắn. Giờ đây, chúng tôi tuyên bố rằng lời buộc tội giáng vào chúng tôi hoàn toàn không có bất kỳ cơ sở nào, không chỉ về mặt thực tế mà thậm chí cả logic. Tôi dự định sẽ chứng minh điều này trong vài lời nếu ủy ban đáng kính vui lòng lắng nghe.”

“Xin mời,” vị chủ tọa nói.

“Xin mời cứ nói... Xin mời...” tiếng các luật sư vang lên, lúc này đã tỏ ra hào hứng.

“Tôi xin chân thành cảm ơn các ngài thay mặt cho tất cả các đồng chí của tôi. Xin hãy tin rằng, các ngài sẽ không bao giờ phải hối hận vì đã dành sự chú ý cho các đại diện của nghề nghiệp chúng tôi... à, cứ gọi là trơn trượt đi, nhưng dẫu sao cũng đầy gian khó này. ‘Thế là chúng ta bắt đầu,’ như lời Giraldoni hát trong khúc dạo đầu của vở Pagliacci.

“Nhưng trước tiên tôi xin phép ngài chủ tọa được giải khát một chút... Anh bạn gác cửa ơi, mang cho tôi một cốc nước chanh và một ly bia đắng kiểu Anh nhé, làm ơn đi. Thưa các ngài, tôi sẽ không bàn về khía cạnh đạo đức của nghề nghiệp chúng tôi hay tầm quan trọng xã hội của nó. Chắc chắn các ngài còn rành hơn tôi về nghịch lý chói lọi và nổi tiếng của Proudhon: La propriete c’est le vol—một nghịch lý nếu các ngài thích thế, nhưng cho đến nay chưa hề bị đánh đổ bởi những bài giảng của lũ tư sản hèn nhát hay những tên linh mục béo ú. Chẳng hạn: một người cha tích lũy được một triệu nhờ sự bóc lột năng nổ và ranh mãnh, rồi để lại gia tài ấy cho đứa con trai—một tên ngốc nghếch, lười biếng, dốt nát, suy đồi, một con giòi không có não, một kẻ ăn bám đích thực. Về mặt tiềm năng, một triệu rúp chính là một triệu ngày công lao động, là quyền lực phi lý tuyệt đối đối với lao động, mồ hôi, cuộc sống và máu mủ của một số lượng người khổng lồ. Tại sao? Căn cứ nào để giải thích điều đó? Hoàn toàn mù tịt. Vậy thì tại sao lại không đồng tình với quan điểm rằng, thưa các ngài, nghề nghiệp của chúng tôi ở mức độ nào đó chính là một sự điều chỉnh đối với sự tích lũy tài sản quá mức trong tay các cá nhân, và đóng vai trò như một sự phản kháng chống lại mọi gian khổ, gớm ghiếc, độc đoán, bạo lực và sự vô cảm trước nhân phẩm con người, chống lại tất cả những quái thai do tổ chức tư bản chủ nghĩa của xã hội hiện đại tạo ra? Sớm hay muộn, trật tự sự việc này chắc chắn sẽ bị lật đổ bởi cuộc cách mạng xã hội. Quyền tư hữu sẽ chìm vào cõi quên lãng của những ký ức buồn bã, và cùng với nó, ôi tiếc thay! Chúng ta sẽ biến mất khỏi mặt đất này, chúng tôi, les braves chevaliers d’industrie.”

Diễn giả dừng lại để nhận chiếc khay từ tay người gác cửa, rồi đặt nó lên bàn ngay cạnh tầm tay mình.

“Xin lỗi các ngài... Này anh bạn, cầm lấy cái này đi,... và nhân tiện, lúc ra ngoài nhớ khép lại cửa cho kỹ nhé.”

“Dạ rõ, thưa Đại sứ!” người gác cửa đùa cợt hô lên.

Diễn giả uống cạn nửa ly rồi tiếp tục: “Tuy nhiên, chúng ta hãy gác lại các khía cạnh triết học, xã hội và kinh tế của vấn đề. Tôi không muốn làm phiền đến sự chú ý của các ngài. Dù vậy, tôi phải chỉ ra rằng nghề nghiệp của chúng tôi có mối liên hệ rất gần gũi với khái niệm được gọi là nghệ thuật. Nộp mình vào đó là tất cả các yếu tố cấu thành nên nghệ thuật—thiên phú, cảm hứng, trí tưởng tượng, óc sáng tạo, tham vọng, cùng một quá trình học nghề lâu dài và gian khổ. Chỉ thiếu duy nhất đức hạnh, thứ mà đại văn hào Karamzin từng viết với một vẻ mê hoặc mãnh liệt và vĩ đại nhường nào. Thưa các ngài, không có gì xa lạ với ý định của tôi hơn là việc đùa cợt với các ngài và lãng phí thời gian quý báu của các ngài bằng những nghịch lý vô bổ; nhưng tôi không thể không trình bày vắn tắt ý tưởng của mình. Đối với tai của người ngoài, việc nói về thiên hướng của một tên trộm nghe thật điên rồ và buồn cười một cách lố bịch. Tuy nhiên, tôi dám chắc với các ngài rằng thiên hướng ấy là một thực tế. Có những kẻ sở hữu trí nhớ thị giác cực kỳ mạnh mẽ, đôi mắt tinh anh và chuẩn xác, sự bình tĩnh, đôi tay khéo léo, và trên hết là một xúc giác vô cùng tinh tế, những kẻ dường như sinh ra trên cõi đời này chỉ với một mục đích duy nhất và đặc biệt là trở thành những tay bịp bài xuất sắc. Nghề móc túi đòi hỏi sự nhanh nhẹn và linh hoạt phi thường, sự chuẩn xác đến kinh ngạc trong từng chuyển động, chưa kể đến sự sắc sảo, tài quan sát và sự tập trung cao độ. Một số kẻ lại có thiên bẩm rõ rệt trong việc cạy phá két sắt: ngay từ thưở thiếu thời, chúng đã bị thu hút bởi những bí ẩn của mọi cơ chế phức tạp—xe đạp, máy khâu, đồ chơi dây cót và đồng hồ. Cuối cùng, thưa các ngài, có những con người mang mối thù hằn truyền kiếp đối với tài sản tư nhân. Các ngài có thể gọi hiện tượng này là sự thoái hóa. Nhưng tôi nói cho các ngài biết rằng, các ngài không thể dụ dỗ một tên trộm chân chính, một tên trộm bẩm sinh, sa vào cõi đời thực vật tẻ nhạt của sự trung thực bằng bất kỳ phần thưởng bánh gừng nào, hay bằng lời hứa về một vị thế vững chắc, hay bằng một món tiền tài, hay bằng tình yêu của đàn bà: bởi vì ở đây tồn tại một vẻ đẹp vĩnh cửu của sự mạo hiểm, một vực thẳm mê hoặc của hiểm nguy, cảm giác thắt ngực đầy mê hoặc, nhịp đập cuồng nhiệt của sự sống, sự xuất thần! Các ngài được vũ trang bằng sự bảo vệ của luật pháp, bằng ổ khóa, súng lục, điện thoại, cảnh sát và quân đội; nhưng chúng tôi chỉ dựa vào sự khéo léo, ranh mãnh và không sợ hãi của chính mình. Chúng tôi là loài cáo, còn xã hội—là một chuồng gà được canh giữ bởi bầy chó. Các ngài có biết rằng những bản chất nghệ thuật và tài năng nhất ở các làng quê của chúng ta lại trở thành những kẻ trộm ngựa và thợ săn trộm không? Các ngài muốn sao nữa? Cuộc sống quá ư nghèo nàn, nhạt nhẽo, và buồn chán đến mức không thể chịu nổi đối với những tâm hồn khao khát và đầy khí phách!

“Tôi chuyển sang phần cảm hứng. Thưa các ngài, chắc hẳn các ngài đã từng đọc về những vụ trộm có thiết kế và cách thực hiện mang tính siêu nhiên. Trên các tít báo, chúng được gọi là ‘Một vụ cướp động trời,’ hoặc ‘Một cú lừa tinh vi,’ hay lại là ‘Mưu mẹo thông minh của băng cướp.’ Trong những trường hợp như vậy, người cha gia trưởng tư sản của chúng ta lại xua tay và kêu lên: ‘Thật là kinh khủng! Giá mà tài năng của chúng được chuyển hóa thành những điều tốt đẹp—óc sáng tạo, kiến thức tuyệt vời về tâm lý con người, sự điềm tĩnh, lòng dũng cảm, và tài nghệ diễn xuất vô song của chúng! Những lợi ích phi thường biết bao mà chúng sẽ mang lại cho đất nước!’ Nhưng ai cũng biết rằng người cha gia trưởng tư sản sinh ra vốn dĩ là để thốt ra những lời sáo rỗng và tầm thường. Bản thân tôi đôi khi—chúng tôi những kẻ trộm là những người đa cảm, tôi xin thú nhận—bản thân tôi đôi khi ngắm nhìn một buổi hoàng hôn tuyệt đẹp ở Công viên Alexandra hay bên bờ biển. Và tôi luôn chắc mẩm trước trong đầu rằng sẽ có ai đó đứng cạnh mình phán một câu đầy vẻ chắc nịch không thể lay chuyển: ‘Nhìn kìa. Nếu đưa cái này lên tranh vẽ thì chẳng ai thèm tin là có thật đâu!’ Tôi quay lại và dĩ nhiên tôi thấy một gã gia trưởng mãn nguyện, béo múp míp, kẻ đang khoái chí lặp lại lời nhận xét ngớ ngẩn của người khác cứ như thể đó là của chính mình vậy. Còn về đất nước thân yêu của chúng ta, gã gia trưởng tư sản nhìn nó cứ như thể đó là một con gà tây quay. Nếu mày xoay sở cắt được phần ngon nhất của con gà cho mình rồi, thì hãy cứ ăn nó một cách yên bình trong một xó xỉnh thoải mái và tạ ơn Chúa. Nhưng hắn thực ra không phải là nhân vật quan trọng. Tôi đã bị cuốn đi bởi sự căm ghét đối với cái tầm thường và tôi xin lỗi vì đã lạc đề. Vấn đề thực sự là thiên tài và cảm hứng, ngay cả khi chúng không được cống hiến cho sự phục vụ của Giáo hội Chính thống giáo, vẫn cứ là những điều hiếm hoi và tốt đẹp. Tiến bộ là một quy luật—và trộm cắp cũng có sự sáng tạo của riêng nó.

“Cuối cùng, nghề nghiệp của chúng tôi hoàn toàn không dễ dàng và dễ chịu như cái nhìn đầu tiên. Nó đòi hỏi kinh nghiệm lâu năm, sự luyện tập không ngừng, quá trình học việc chậm chạp và đau đớn. Nó bao hàm trong đó hàng trăm thao tác mềm dẻo, khéo léo mà ngay cả tay tung hứng cừ khôi nhất cũng không thể làm nổi. Để tôi không chỉ nói những lời suông, thưa các ngài, tôi sẽ thực hiện một vài thí nghiệm trước mặt các ngài ngay bây giờ. Tôi mong các ngài hãy dành trọn niềm tin cho những người biểu diễn. Tất cả chúng ta hiện đang được hưởng sự tự do hợp pháp, và mặc dù chúng ta thường bị theo dõi, và khuôn mặt của mỗi người chúng ta đều bị nhận diện, và những bức ảnh của chúng ta trang hoàng trong các album của mọi cục cảnh sát hình sự, nhưng hiện tại chúng ta không cần phải trốn tránh bất kỳ ai. Nếu bất kỳ vị nào trong số các ngài nhận ra bất kỳ ai trong chúng tôi trong tương lai dưới những hoàn cảnh khác, chúng tôi thiết tha mong các ngài hãy luôn hành động theo đúng các nghĩa vụ nghề nghiệp và bổn phận công dân của mình. Để bày tỏ lòng biết ơn vì sự chú ý ân cần của các ngài, chúng tôi đã quyết định tuyên bố tài sản của các ngài là bất khả xâm phạm, và đặt nó dưới sự bảo hộ của đạo cấm kỵ trộm cắp. Tuy nhiên, tôi xin phép đi vào công việc chính.”

Diễn giả quay lại và ra lệnh: “Sesoi Đại đế, xin mời ngài bước ra đây!”

Một gã khổng lồ lưng còng, tay dài chấm gối, không trán không cổ, trông như một tên Hercules to lớn tóc vàng, bước lên phía trước. Hắn nhe răng cười ngốc nghếch và ngượng ngùng chà xát lên lông mày bên trái.

“Chả làm được vẹo gì ở đây đâu,” hắn khàn giọng nói.

Quý ông mặc bộ đồ màu cát nói thay hắn, quay về phía hội đồng.

“Thưa các ngài, đứng trước các ngài là một thành viên đáng kính của hiệp hội chúng tôi. Chuyên môn của hắn là cạy phá két sắt, tủ sắt đựng tiền, và các vật chứa tiền tệ khác. Trong công việc ban đêm, đôi khi hắn tận dụng dòng điện của hệ thống chiếu sáng để nung chảy kim loại. Đáng tiếc là hắn chẳng có gì để trưng bày những món xuất sắc nhất trong cở sở sở trường của mình. Hắn sẽ mở những chiếc ổ khóa phức tạp nhất một cách hoàn hảo... Nhân tiện, cái cửa ở đằng kia kìa, nó đang khóa phải không ạ?”

Mọi người quay lại nhìn cánh cửa, nơi có một tấm biển in dòng chữ: “Cửa Sau Sân Khấu. Miễn Phận Sự.”

“Vâng, cửa rõ ràng là đang khóa,” vị chủ tọa đồng tình.

“Tuyệt vời. Sesoi Đại đế, phiền ngài một chút nhé?”

“Chả có cái quái gì đâu ạ,” gã khổng lồ thong thả nói.

Hắn tiến sát lại cánh cửa, cẩn thận lắc nhẹ bằng tay, lấy từ trong túi ra một dụng cụ nhỏ sáng bóng, cúi xuống ổ khóa, thực hiện một vài động tác gần như không thể nhận ra bằng công cụ đó, rồi đột nhiên đứng thẳng người lên và đẩy tung cánh cửa mở rộng hoàn toàn trong im lặng. Vị chủ tọa đang cầm chiếc đồng hồ trên tay. Toàn bộ sự việc chỉ diễn ra trong vòng mười giây.

“Cảm ơn ngài, Sesoi Đại đế,” quý ông mặc đồ màu cát lịch sự nói. “Ngài có thể về chỗ của mình.”

Nhưng vị chủ tọa có phần hoảng hốt ngắt lời: “Xin lỗi. Mọi chuyện này rất thú vị và mang tính giáo dục, nhưng... liệu việc có thể khóa lại cánh cửa đó lần nữa có nằm trong chuyên môn của người đồng nghiệp đáng kính của các anh không?”

“À, mille pardons (xin ngài thứ lỗi).” Quý ông vội vã cúi đầu. “Tôi lại quên béng mất. Sesoi Đại đế, phiền anh một tay được chứ?”

Cánh cửa được khóa lại với sự khéo léo y như cũ và hoàn toàn trong im lặng. Người đồng nghiệp đáng kính lạch bạch đi về phía những người bạn của mình, miệng vẫn cười toe toét.

“Bây giờ tôi sẽ có vinh dự trình diễn cho các ngài kỹ năng của một trong những đồng chí của chúng tôi chuyên dòng móc túi ở các nhà hát và nhà ga,” diễn giả tiếp tục. “Cậu ta hãy còn rất trẻ, nhưng các ngài có thể phần nào đánh giá qua sự tinh tế trong công việc hiện tại của cậu ta để thấy được những đỉnh cao mà cậu ta sẽ đạt được nhờ sự siêng năng. Yasha!” Một thanh niên ngăm đen mặc chiếc áo lụa xanh và đi đôi bốt da bóng cao cổ dài, trông giống như một tên du mục, bước lên với vẻ nghênh ngang, tay mân mê những chiếc tua rua trên thắt lưng, vui vẻ nheo lại đôi mắt đen to lớn, láu cá với phần lòng trắng ngả vàng.

“Thưa các ngài,” quý ông mặc đồ màu cát nhẹ nhàng thuyết phục, “tôi phải xin phép xem có vị nào trong số các ngài sẵn lòng chịu khó làm vật thí nghiệm cho một trò chơi nhỏ không. Tôi đảm bảo đây chỉ là một buổi biểu diễn thôi, chỉ là một trò chơi thuần túy.”

Ông ta đảo mắt nhìn quanh những người đang ngồi.

Gã Karaite thấp đậm, đen thui như một con bọ cánh cứng, bước ra từ bàn của mình.

“Xin cứ tự nhiên,” anh ta vui vẻ nói.

“Yasha!” Diễn giả ra hiệu bằng đầu.

Yasha tiến sát lại viên luật sư. Trên cánh tay trái đang gập lại của cậu ta vắt một chiếc khăn quàng sặc sỡ, có hoa văn.

“Giả dụ ngài đang ở nhà thờ hoặc ở phòng xử án trong một tòa nhà nào đó,—hoặc đang xem xiếc,” cậu ta bắt đầu bằng một giọng ngọt ngào, lưu loát. “Tôi nhìn cái là biết ngay—có một tay nhà giàu... Xin lỗi ngài nhé. Giả dụ ngài là tay nhà giàu đó đi. Không có ý xúc phạm gì đâu—chỉ có nghĩa là một quý ông giàu có, tử tế đàng hoàng, nhưng chưa rành đường đi nước bước thôi. Đầu tiên—thường thì ngài sẽ mang theo những gì trong người? Đủ thứ cả. Đại loại là, một chiếc đồng hồ bỏ túi kèm dây đeo. Ngài cất chúng ở đâu nào? Đâu đó ở cái túi áo ghi-lê phía trên này này—ở đây. Người khác thì để ở túi phía dưới. Ngay chỗ này. Ví tiền—hầu như lúc nào cũng ở trong túi quần, trừ khi có một tên gà mờ nào đó nhét nó trong áo khoác. Hộp đựng xì-gà. Để xem xét trước nó là cái gì—vàng, bạc—có khắc chữ lồng không. Bằng da—thế cái người đứng đắn nào lại đi làm bẩn tay mình chứ? Hộp đựng xì-gà. Bảy cái túi: ở đây, ở đây, ở đây, tít trên kia, ở đây, ở đây và lại ở đây nữa. Đúng thế phải không ạ? Đó là cách mà ngài hành động đấy.”

Vừa nói, thanh niên trẻ tuổi vừa mỉm cười. Đôi mắt cậu ta chiếu thẳng vào mắt viên luật sư. Với một cử động nhanh nhẹn và điêu luyện của bàn tay phải, cậu ta chỉ vào các phần khác nhau trên quần áo của vị luật sư.

“Rồi thì thỉnh thoảng ngài lại có thể thấy một chiếc trâm cài ở đây trên cà vạt nữa. Tuy nhiên chúng tôi không thèm lấy cái đó. Những quý ông dạo này ấy—họ hầu như chẳng bao giờ đeo đá quý thật cả. Rồi tôi tiến đến gần ông ấy. Tôi bắt chuyện thẳng thừng với ông ấy như một quý ông thực thụ: ‘Thưa ngài, ngài làm ơn cho tôi xin lửa châm thuốc lá nhé’—hoặc một đại loại thế. Dù sao đi nữa, tôi bắt đầu cuộc trò chuyện. Tiếp theo là gì nào? Tôi nhìn thẳng vào cái tròng mắt của ông ấy, y hệt thế này. Chỉ có hai ngón tay của tôi làm việc thôi—chính là ngón này và ngón này đây.” Yasha giơ hai ngón tay của bàn tay phải lên ngang mặt vị luật sư, ngón trỏ và ngón giữa, rồi khua khoáng chúng.

“Ngài thấy chưa? Bằng hai ngón tay này tôi lướt qua toàn bộ cái phím đàn. Chẳng có gì ghê gớm cả: một, hai, ba—xong. Bất cứ kẻ nào không đần độn đều có thể học được một cách dễ dàng. Chỉ có thế thôi. Công việc bình thường thôi mà. Cảm ơn ngài.”

Tên móc túi quay ngoắt gót chân như muốn trở về chỗ ngồi.

“Yasha!” Quý ông mặc đồ màu cát cất giọng đầy ẩn ý. “Yasha!” ông ta nghiêm khắc nhắc lại.

Yasha khựng lại. Lưng cậu ta quay về phía viên luật sư, nhưng rõ ràng cậu ta đang ném cho người đại diện của mình một cái nhìn van nài, bởi vì người kia liền cau mày và lắc đầu.

“Yasha!” ông ta cất giọng đe dọa lần thứ ba.

“Hừ!” Tên trộm trẻ tuổi càu nhàu bực bội và quay mặt lại phía viên luật sư. “Đồng hồ nhỏ của ngài đâu rồi nhỉ, thưa ngài?” cậu ta cất giọng lanh lảnh hỏi.

“Ồ!” gã người Karaite giật mình thon thót.

“Ngài thấy chưa—giờ thì ngài mới kêu ‘Ồ!’” Yasha tiếp tục với giọng điệu trách móc. “Trong suốt thời gian ngài mải mê ngắm nghía bàn tay phải của tôi, thì tay trái của tôi đang “làm việc” với chiếc đồng hồ của ngài đấy. Chỉ bằng hai ngón tay nhỏ xíu này thôi, luồn dưới chiếc khăn choàng. Đó là lý do tại sao chúng tôi hay mang theo khăn choàng. Vì chuỗi dây chuyền của ngài chẳng đáng giá là bao—chắc là quà của cô ả nhân tình nào đó tặng, còn chiếc đồng hồ lại là đồ bằng vàng thật, nên tôi đã để lại cho ngài sợi dây chuyền làm kỷ niệm đấy. Cầm lấy đi,” cậu ta nói thêm với một tiếng thở dài, chìa chiếc đồng hồ ra.

“Nhưng... Đúng là quá siêu,” viên luật sư bối rối nói. “Tôi chẳng hề hay biết gì cả.”

“Đó là nghề của chúng tôi mà,” Yasha kiêu hãnh nói.

Cậu ta nghênh ngang bước về phía các đồng bọn. Trong khi đó, diễn giả uống một ngụm nước trong ly rồi tiếp tục.

“Bây giờ, thưa các ngài, cộng sự tiếp theo của chúng tôi sẽ trình diễn cho các ngài một vài màn ảo thuật bài bạc thông thường, hay được biểu diễn ở các hội chợ, trên tàu thủy và các ga tàu. Chẳng hạn với ba lá bài, một con á, một con đầm, và một con sáu, anh ta có thể dễ dàng... Nhưng có lẽ các ngài đã chán ngấy những màn biểu diễn này rồi nhỉ, thưa các ngài.”...

“Không hề đâu. Cực kỳ thú vị đấy chứ,” vị chủ tọa lịch sự đáp lời. “Tôi muốn hỏi một câu—nếu không quá bất lịch sự—chuyên môn chính của anh là gì vậy?”

“Của tôi... Hừm... Không, sao lại có thể gọi là bất lịch sự được chứ?... Tôi chuyên đánh vào các cửa hàng kim cương lớn... và mảng làm ăn khác của tôi là các ngân hàng,” diễn giả trả lời với một nụ cười khiêm tốn. “Đừng nghĩ là nghề này dễ hơn những nghề khác nhé. Chỉ cần biết bốn thứ tiếng châu Âu, Đức, Pháp, Anh và Ý, chưa kể tiếng Ba Lan, Ukraina và Yiddish là đủ hiểu. Nhưng tôi có nên biểu diễn thêm vài thí nghiệm nữa cho ngài chủ tọa xem không?”

Vị chủ tọa nhìn đồng hồ.

“Đáng tiếc là thời gian quá ngắn,” ông nói. “Chẳng phải tốt hơn nếu chúng ta chuyển sang nội dung chính công việc của các anh sao? Hơn nữa, những thí nghiệm mà chúng tôi vừa chứng kiến đã đủ thuyết phục chúng tôi về tài năng của các cộng sự đáng kính của anh rồi... Tôi nói có phải không, Isaac Abramovich?”

“Đúng, đúng... hoàn toàn chính xác,” vị luật sư người Karaite sẵn sàng xác nhận.

“Tuyệt vời,” quý ông mặc đồ màu cát nhã nhặn đồng tình. “Bá tước thân mến của tôi”—ông ta quay sang một người đàn ông tóc vàng, xoăn tít, với khuôn mặt trông giống như một thợ làm bàn bida trong ngày nghỉ lễ—“cất mấy món đồ nghề của anh điêu. Sẽ không cần dùng đến chúng nữa đâu. Tôi chỉ còn vài lời muốn nói nữa thôi, thưa các ngài. Giờ đây khi các ngài đã tự thuyết phục bản thân rằng nghệ thuật của chúng tôi, mặc dù không nhận được sự bảo trợ của những nhân vật quyền cao chức trọng, nhưng dẫu sao vẫn là một nghệ thuật; và các ngài có lẽ đã đồng quan điểm với tôi rằng đây là một môn nghệ thuật đòi hỏi rất nhiều phẩm chất cá nhân bên cạnh sự lao động không ngừng nghỉ, hiểm nguy và những hiểu lầm khó chịu—thì tôi cũng hy vọng các ngài sẽ tin rằng việc gắn bó với nghề này, yêu mến và trân trọng nó là điều hoàn toàn có thể, dù thoạt đầu điều đó có vẻ kỳ lạ thế nào đi nữa. Các ngài hãy thử tưởng tượng xem, một nhà thơ tài năng nổi tiếng, người có những câu chuyện và bài thơ trang hoàng trên các trang chí của những tạp chí hay nhất của chúng ta, bỗng nhiên được trao cơ hội viết thơ với giá một xu một dòng, lại còn phải ký tên đính kèm, như một hình thức quảng cáo cho ‘Thuốc lá Jasmine’—hoặc một tin đồn thất thiệt được tung ra nhằm vào một trong những luật sư xuất sắc của các ngài, cáo buộc các ngài làm nghề ngụy tạo chứng cứ cho các vụ kiện ly hôn, hay viết đơn hộ cho mấy gã đánh xe ngựa gửi thống đốc ngay tại các quán rượu! Chắc chắn là họ hàng, bạn bè và quen biết của các ngài sẽ chẳng đời nào tin điều đó đâu. Nhưng lời đồn đã và đang làm xong cái công việc độc ác của nó, và các ngài phải sống qua những phút giây tra tấn tinh thần. Giờ thì các ngài hãy thử tưởng tượng một tin đồn nhục nhã và phiền toái như thế, do Chúa mới biết bắt nguồn từ đâu, bắt đầu đe dọa không chỉ danh dự và sự bình yên trong dạ dày của các ngài, mà còn đe dọa cả tự do, sức khỏe và thậm chí cả mạng sống của các ngài nữa!

“Đây chính là hoàn cảnh của chúng tôi, những tên trộm, đang bị bôi nhọ bởi báo chí. Tôi phải giải thích thế này. Tồn tại một tầng lớp cặn bã—passez-moi le mot (xin phép cho tôi được dùng từ này)—mà chúng tôi gọi là ‘Cục cưng của mẹ’. Chúng tôi vô tình bị vơ đũa cả nắm nhầm lẫn với đám này. Bọn chúng không có liêm sỉ cũng chẳng có lương tâm, là một lũ lưu manh nát rượu, những đứa con cưng vô tích sự của mẹ, lười biếng, vụng về, những nhân viên cửa hàng chuyên đi trộm vặt. Hắn chẳng ngại ngùng gì việc sống bám vào người tình của mình, một ả điếm, hệt như loài cá thu đực, chuyên bơi theo con cái và sống nhờ vào phân của nó. Hắn sẵn sàng cướp bóc một đứa trẻ bằng bạo lực trong một con hẻm tối chỉ để kiếm một xu; hắn sẽ giết người trong giấc ngủ và tra tấn một bà cụ già. Những kẻ này chính là mối họa cho nghề nghiệp của chúng tôi. Đối với bọn chúng, vẻ đẹp và truyền thống của nghệ thuật không hề tồn tại. Bọn chúng theo dõi chúng tôi, những tên trộm chân chính và tài năng, hệt như một bầy linh cẩu bám theo sư tử. Giả sử tôi vừa xoay sở thực hiện xong một vụ lớn—chúng ta chưa cần nhắc đến việc tôi phải cắt lại hai phần ba số kiếm được cho những kẻ chuyên tiêu thụ hàng gian để bán hàng và chiết khấu giấy tờ, hay các khoản trợ cấp thông thường cho lực lượng cảnh sát không thể mua chuộc của chúng tôi—thì tôi vẫn phải chia chác một phần cho từng tên ăn bám trong số này, những kẻ ngửi thấy mùi vụ làm ăn của tôi do tình cờ, do nghe hơi nồi chõ, hay chỉ qua một cái nhìn thoáng qua.

“Vì thế chúng tôi gọi chúng là Motients, có nghĩa là ‘một nửa’, từ tiếng lóng biến thể từ moitié... Từ nguyên gốc phết đấy chứ. Tôi phải trả tiền cho hắn đơn giản vì hắn biết và có thể tố cáo tôi. Và thường xảy ra chuyện là ngay cả khi đã nhận phần chia, hắn vẫn chạy đến đồn cảnh sát để kiếm thêm một đô-la nữa. Còn chúng tôi, những tên trộm chân thực... Vâng, các ngài có thể cười, nhưng tôi xin nhắc lại: chúng tôi, những tên trộm chân thực, căm ghét những loài bò sát này tận xương tủy. Chúng tôi có một cái tên khác dành cho chúng, một sự sỉ nhục mang dấu ấn ô nhục; nhưng tôi không dám thốt lên ở đây vì sự tôn trọng đối với không gian này và thính giả của tôi. Ồ vâng, chúng sẽ sẵn sàng nhận lời mời tham gia một vụ pogrom ấy chứ. Ý nghĩ rằng chúng ta có thể bị đánh đồng với bọn chúng còn xúc phạm chúng tôi gấp trăm lần so với lời buộc tội tham gia vào một vụ pogrom.

“Thưa các ngài! Trong lúc tôi đang nói, tôi thường nhận thấy những nụ cười nở trên môi các ngài. Tôi hiểu các ngài mà. Sự hiện diện của chúng tôi ở đây, thỉnh cầu sự giúp đỡ của các ngài, và trên hết là sự bất ngờ của một hiện tượng như một tổ chức trộm cắp có hệ thống, với các đại biểu là những tên trộm, và một thủ lĩnh phái đoàn cũng là một tên trộm chuyên nghiệp—tất cả những điều đó quá mới lạ đến mức chắc chắn sẽ khơi gợi một nụ cười. Nhưng giờ đây tôi sẽ nói bằng tất cả tấm lòng mình. Hãy gạt bỏ những vỏ bọc bề ngoài đi, thưa các ngài, hãy trò chuyện với nhau như những người đàn ông với những người đàn ông.

“Hầu hết chúng ta đều có học thức, và tất cả đều yêu sách vở. Chúng tôi không chỉ đọc những cuộc phiêu lưu của Rocambole, như các nhà văn theo trường phái hiện thực thường gán ghép cho chúng tôi. Các ngài có nghĩ rằng trái tim chúng tôi không rớm máu và má chúng tôi không nóng bừng vì xấu hổ, hệt như vừa bị tát vào mặt, trong suốt khoảng thời gian cuộc chiến tranh khốn khổ, đáng hổ thẹn, đáng nguyền rủa và hèn nhát này diễn ra không. Các ngài thực sự nghĩ rằng tâm hồn chúng tôi không bùng cháy cơn thịnh nộ khi đất nước bị quất rát bởi roi da Cossack, bị giẫm đạp dưới chân, bị bắn và nhổ nước bọt bởi những con người cuồng loạn và căm phẫn sao? Các ngài sẽ không tin rằng chúng tôi, những tên trộm, đón nhận từng bước tiến tới sự giải phóng sắp tới bằng một sự rung cảm xuất thần hay sao?

“Chúng tôi hiểu rõ, từng người một—có lẽ chỉ kém các luật sư các ngài một chút thôi, thưa các ngài—ý nghĩa thực sự của các cuộc pogrom. Mỗi khi một sự kiện hèn nhát hay một thất bại nhục nhã xảy ra, sau khi hành quyết một vị tử đạo trong một xó tối của pháo đài, hay sau khi lừa dối lòng tin của công chúng, một kẻ nào đó ẩn giấu và không thể chạm tới lại cảm thấy hoảng sợ trước cơn giận dữ của nhân dân và hướng phần tử hung ác đó lên đầu những người Do Thái vô tội. Bộ óc ma quỷ nào đã phát minh ra những cuộc pogrom này—những cuộc đổ máu khổng lồ này, những trò tiêu khiển ăn thịt người dành cho những tâm hồn tăm tối, thú tính này?

“Tất cả chúng ta đều nhận thấy với một sự rõ ràng nhất định rằng những cơn giãy chết cuối cùng của bộ máy quan liêu đã cận kề. Xin tha lỗi nếu tôi trình bày nó một cách giàu hình ảnh. Có một dân tộc từng có một ngôi đền chính, nơi ngự trị một vị thần khát máu, nằm phía sau một bức màn, được canh giữ bởi các thầy tu. Một lần nọ, những bàn tay không sợ hãi đã xé toạc tấm màn che đó ra. Khi ấy toàn thể nhân dân nhìn thấy, thay vì một vị thần, là một con nhện khổng lồ, lông lá, tham lam, giống như một con mực gớm ghiếc. Họ đánh đập và bắn vào nó: nó đã bị phanh thây rồi; nhưng giữa cơn cuồng loạn của sự giãy giụa cuối cùng, nó vẫn vươn những chiếc xúc tu gớm ghiếc, đầy vuốt nhọn của mình ra khắp ngôi đền cổ xưa. Và các thầy tu, những kẻ vốn đang mang án tử hình, liền đẩy vào găm vuốt của con quái vật tất cả những ai mà chúng có thể túm lấy bằng những ngón tay hoảng sợ và run rẩy của mình.

“Xin lỗi các ngài. Những điều tôi vừa nói có lẽ điên rồ và lủng củng. Nhưng tôi đang có chút xúc động. Xin lỗi các ngài. Tôi xin tiếp tục. Chúng tôi, những tên trộm chuyên nghiệp, hiểu rõ hơn bất kỳ ai khác cách thức các cuộc pogrom đó được tổ chức như thế nào. Chúng tôi lang thang khắp nơi: vào các quán rượu, chợ búa, quán trà, nhà trọ bình dân, nơi công cộng, bến cảng. Chúng tôi có thể thề trước Chúa, trước nhân loại và trước hậu thế rằng chúng tôi đã tận mắt chứng kiến cảnh sát tổ chức các cuộc thảm sát như thế nào, hoàn toàn không chút xấu hổ và gần như chẳng buồn che đậy. Chúng tôi quen mặt hết thảy bọn chúng, dù mặc quân phục hay cải trang. Bọn chúng đã mời gọi nhiều người trong số chúng tôi tham gia; nhưng trong số chúng tôi chẳng có lấy một kẻ hèn hạ nào chịu đưa ra dù chỉ là sự đồng thuận bề ngoài mà nỗi sợ hãi có thể ép buộc.

“Chắc các ngài cũng biết các tầng lớp khác nhau của xã hội Nga đối xử thế nào với cảnh sát chứ? Ngay cả những kẻ lợi dụng các dịch vụ đen tối của nó cũng chẳng thèm tôn trọng nó. Nhưng chúng tôi khinh bỉ và căm ghét nó gấp ba, gấp mười lần hơn nữa—không phải vì nhiều người trong chúng tôi từng bị tra tấn trong các cơ quan điều tra, vốn chẳng khác gì những phòng tra tấn kinh hoàng, bị đánh suýt chết, bị quất bằng roi da bò và roi cao su chỉ để ép cung hoặc bắt chúng tôi bán đứng đồng đội. Vâng, chúng tôi căm ghét bọn chúng cả vì điều đó nữa. Nhưng chúng tôi, những tên trộm, tất cả những ai từng ngồi tù, đều mang một niềm đam mê cuồng dã đối với sự tự do. Do đó, chúng tôi khinh miệt những kẻ cai ngục của mình với toàn bộ lòng căm thù mà một trái tim con người có thể cảm nhận. Tôi xin nói về phần mình. Tôi từng ba lần bị cảnh sát điều tra tra tấn đến suýt chết. Phổi và gan của tôi đã bị phá hủy. Cứ mỗi buổi sáng tôi lại khạc ra máu cho đến khi không thể thở nổi. Nhưng nếu có ai nói với tôi rằng tôi sẽ được tha lần đánh đòn thứ tư chỉ bằng cách bắt tay với một tên trùm cảnh sát điều tra, tôi nhất định sẽ từ chối!

“Thế mà báo chí lại nói rằng chúng tôi đã nhận từ những bàn tay đó những đồng tiền Judas, đẫm máu người. Không, thưa các ngài, đó là một nhát dao đâm thấu tâm can chúng tôi, gây ra nỗi đau đớn không tài nào chịu nổi. Không tiền bạc, không lời đe dọa, không hứa hẹn nào đủ sức biến chúng tôi thành những kẻ sát nhân đánh thuê hám tiền hại chết anh em mình, hay thành kẻ tòng phạm với bọn chúng.”

“Không bao giờ... Không... Không... ,” những đồng bọn đứng phía sau bắt đầu thì thầm phản đối.

“Tôi xin nói thêm điều này nữa,” tên trộm tiếp tục. “Nhiều người trong số chúng tôi đã bảo vệ các nạn nhân trong vụ pogrom vừa qua. Người bạn của chúng tôi, có biệt danh là Sesoi Đại đế—ngừa vừa mới thấy hắn đấy, thưa các ngài—lúc đó đang ở trọ nhà một thợ tết viền người Do Thái ở khu Moldavanka. Cầm chiếc gạt tàn bằng sắt trong tay, hắn đã bảo vệ chủ nhà của mình khỏi một đám đông sát thủ khổng lồ. Đúng vậy, Sesoi Đại đế là một người có sức mạnh thể chất phi thường, và điều này được rất nhiều cư dân ở Moldavanka biết rõ. Nhưng các ngài phải công nhận rằng, thưa các ngài, vào những khoảnh khắc đó Sesoi Đại đế đã nhìn thẳng vào khuôn mặt của cái thối tha tử thần. Đồng chí của chúng tôi, Martin thợ mỏ—quý ông đang đứng đằng kia kìa”—diễn giả chỉ về phía một người đàn ông da tái nhợt, có râu với đôi mắt đẹp đang đứng nép ở phía sau—“đã cứu mạng một bà cụ người Do Thái, người mà trước đó ông chưa từng quen biết, đang bị truy đuổi bởi một đám đông khốn nạn đó. Bọn chúng đã đập vỡ đầu ông bằng một chiếc xà beng vì việc làm đó, làm gãy tay ông ở hai chỗ và làm rạn một chiếc xương sườn. Ông ấy vừa mới xuất viện xong. Đó là cách mà những thành viên nhiệt huyết và kiên quyết nhất của chúng tôi hành động đấy. Những người khác thì run lên vì phẫn nộ và khóc ròng vì sự bất lực của chính mình.

“Không ai trong chúng tôi quên được những nỗi kinh hoàng của những ngày đẫm máu và đêm đẫm máu được thắp sáng bởi ánh rực lửa ấy, những người phụ nữ nức nở, những thi thể trẻ em nhỏ bé bị xé nát vứt nằm rải rác trên đường phố. Nhưng dù vậy, không một ai trong chúng tôi cho rằng cảnh sát và đám đông mới là cội nguồn thực sự của cái điều ác độc đó. Lũ sâu mọt nhỏ bé, ngu ngốc, gớm ghiếc ấy chỉ là một cái nắm đấm vô tri được điều khiển bởi một bộ óc bỉ ổi, đầy tính toán, được lay động bởi một ý chí ma quỷ.

“Vâng, thưa các ngài,” diễn giả tiếp tục, “chúng tôi, những tên trộm, dẫu sao vẫn xứng đáng nhận lấy sự khinh bỉ hợp pháp của các ngài. Nhưng khi các ngài, những quý ông cao quý, cần đến sự giúp đỡ của những con người thông minh, dũng cảm, vâng lời tại các chiến lũy, những người sẵn sàng đối mặt với cái chết với một bài hát và một nụ cười trên môi vì từ ngữ vinh quang nhất trên thế giới—Tự do—lúc đó các ngài có ruồng bỏ chúng tôi và xua đuổi chúng tôi chỉ vì sự ghê tởm đã cắm rễ sâu xa không? Chết tiệt thật, nạn nhân đầu tiên trong cuộc Cách mạng Pháp là một ả điếm. Ả ta đã nhảy lên chiến lũy, tay vén cao váy một cách thanh lịch và hô lên: ‘Tên lính nào trong lũ bay dám bắn một người phụ nữ nào?’ Vâng, có chúa chứng giám.” Diễn giả kêu lớn và giáng mạnh nắm đấm xuống mặt bàn bằng đá cẩm thạch: “Bọn chúng đã giết ả, nhưng hành động của ả thật vĩ đại, và vẻ đẹp trong lời nói của ả là bất tử.

“Nếu các ngài xua đuổi chúng tôi vào ngày trọng đại đó, chúng tôi sẽ quay lại và nói với các ngài rằng: ‘Hỡi những vị Sứ thần vô nhiễm các ngài—nếu những suy nghĩ của con người có quyền năng làm tổn thương, giết chết và cướp đi danh dự cũng như tài sản của con người, thì trong số các ngài, những con bồ câu vô tội kia, kẻ nào lại không đáng phải chịu đòn roi và tù chung thân chứ?’ Sau đó chúng tôi sẽ rời xa các ngài và tự dựng lên chiến lũy trộm cắp vui tươi, ưa mạo hiểm, liều lĩnh của riêng mình, và sẽ chết với những khúc ca hòa vang trên môi khiến các ngài phải ghen tị, hỡi những kẻ trắng trẻo hơn tuyết các ngài!

“Nhưng tôi lại một lần nữa bị cuốn đi quá đà rồi. Xin lỗi các ngài. Tôi đã nói xong. Giờ thì các ngài đã thấy, thưa các ngài, những cảm xúc mà những lời bôi nhọ trên báo chí đã khơi dậy trong chúng tôi như thế nào rồi đấy. Hãy tin vào sự chân thành của chúng tôi và làm những gì có thể để gột rửa vết nhơ dơ bẩn đã trót giáng lên chúng tôi một cách vô cùng bất công này. Tôi xin hết.”

Ông ta bước ra khỏi bàn và nhập vào nhóm đồng bọn. Các luật sư đang xì xầm to nhỏ với nhau, rất giống với các thẩm phán trên ghế chủ tọa tại các phiên tòa. Sau đó vị chủ tọa đứng dậy.

“Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng các ngài, và chúng tôi sẽ nỗ lực hết sức để minh oan cho hiệp hội của các ngài khỏi lời buộc tội vô cùng trầm trọng này. Đồng thời, các đồng nghiệp của tôi đã ủy quyền cho tôi, thưa các ngài, được chuyển tới các ngài sự tôn trọng sâu sắc đối với những cảm xúc đầy nhiệt huyết của các ngài với tư cách là những công dân. Và về phần mình, tôi xin phép thủ lĩnh phái đoàn cho tôi được bắt tay anh ấy.”

Hai người đàn ông, cả hai đều cao lớn và nghiêm nghị, siết chặt tay nhau trong một cái bắt tay mạnh mẽ, nam tính.

Các luật sư đang rời khỏi nhà hát; nhưng có bốn người nán lại một chút bên chỗ treo quần áo ở sảnh. Isaac Abramovich mãi không tìm thấy chiếc mũ xám mới cứng, bảnh bao của mình đâu cả. Thay vào vị trí của nó trên chiếc móc gỗ là một chiếc mũ vải phẳng lì một cách ngạo mạn ở cả hai bên.

“Yasha!” Giọng nói nghiêm khắc của diễn giả bất ngờ vang lên từ phía bên kia cánh cửa. “Yasha! Đây là lần cuối cùng tao nói chuyện với mày đấy, khốn kiếp! ... Mày có nghe thấy không?” Cánh cửa nặng nề bật mở rộng. Quý ông mặc bộ đồ màu cát bước vào. Trên tay ông ta cầm chiếc mũ của Isaac Abramovich; trên khuôn mặt là một nụ cười nhã nhặn đúng mực.

“Thưa các ngài, vì Chúa xin hãy tha lỗi cho chúng tôi—một hiểu lầm nhỏ kỳ quặc thôi. Một trong số những đồng chí của chúng tôi đã nhầm mũ... Ồ, đây là của ngài đây ư! Ngàn lần xin lỗi nhé. Người gác cửa đâu! Sao anh lại không để mắt tới đồ đạc hả anh bạn, hử? Đưa tôi chiếc mũ kia đây nào. Một lần nữa, tôi xin các ngài lượng thứ.”

Với một cái cúi đầu dễ chịu cùng nụ cười lịch sự quen thuộc, ông ta rảo bước nhanh chóng ra ngoài phố.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.