Trời ạ, cô ấy cười rồi, nụ cười đáng yêu làm sao, nụ cười hạnh phúc làm sao. Anh Anh cũng mỉm cười đáp lại, và thử ôm Thật Lương một cái. Ngay lúc cô đưa hai tay vòng xuống dưới người Thật Lương, đột nhiên, đôi mắt trên chiếc khang vụt tắt.
Thật Lương đến viện là vào ba ngày sau khi tiệc rượu kết thúc. Đến nơi, cậu cũng chẳng thèm chào hỏi Nhị gia Thủy một tiếng, cứ lầm lủi ngồi xổm trong mái hiên cạnh chuồng ngựa, đút hai tay vào ống tay áo, ngẩn ngơ nhìn về phía viện Nam.
Cậu trông như thể mất hồn, vừa đáng thương lại vừa bất lực.
Vào khoảnh khắc trời tối đen như mực, dược sư Lưu Hỉ Tài vừa hay đi tuần đến khu chuồng ngựa này, nghe thấy động tĩnh bèn nhẹ nhàng bước tới, liền nhìn thấy một gương mặt gầy gò, xanh xao.
- Lương à, đến rồi sao?
Thật Lương vội vàng đứng bật dậy, dùng ánh mắt để trả lời dược sư Lưu.
- Vẫn chưa ăn gì phải không? - Dược sư Lưu vừa nói, vừa định dắt tay Thật Lương kéo cậu ra nhà bếp. Hai chân Thật Lương như mọc rễ trên mặt đất, mông cố sức níu chặt lại phía sau, nhất quyết không chịu di chuyển. Dược sư Lưu thở dài một tiếng, biết cậu sẽ không chịu đến nhà bếp nên đành buông tay, ngồi xổm xuống bên cạnh cậu.
Hai người ban đầu không nói lời nào, cứ thế im lặng ngồi xổm như vậy. Vốn không giỏi ăn nói, mấy ngày nay dược sư Lưu cũng mang tâm sự nặng nề, ngoài việc thỉnh thoảng nói vài câu với dược sư Tào về chuyện nhà họ Thủy thế lớn quyền to ra, hình như ông chẳng còn chút hứng thú nào với những chuyện xảy ra trong viện. Cộng thêm việc phó quan Cừu Gia Viễn bỗng dưng không rõ tung tích, biến mất từ trước khi nhà họ Thủy cưới vợ, đến giờ vẫn chẳng có tin tức gì, vứt bỏ họ lại chốn thâm sơn cùng cốc này, trong lòng ít nhiều cũng có vài phần u sầu.
Bóng đêm lặng lẽ bao trùm lấy đại gia viện, cũng bao trùm lấy hai người già trẻ này. Hai người trầm ngâm ngồi xổm một lúc, dược sư Lưu bỗng hỏi:
- Lương à, những điều ta dạy cháu, đều nhớ kỹ chứ?
Thật Lương chợt bừng tỉnh tinh thần:
- Cháu nhớ kỹ rồi, chú ạ.
- Nhớ kỹ thôi vẫn chưa đủ, loại dược liệu này không giống trồng hoa màu. Trồng hoa màu có nguyên tắc chết, chỉ cần chịu khó nhọc tâm là được. Trồng dược liệu còn đòi hỏi ngộ tính, đòi hỏi người và dược hòa làm một. Những lời này có lẽ cháu chưa hiểu nổi, nhưng không sao, mai mốt cháu cứ theo ta ra đồng, xem dược ta trồng, lại xem dược sư Tào trồng, cháu sẽ hiểu thôi.
Thật Lương nghe mà ngơ ngơ ngác ngác, nhưng trong lòng vẫn cố sức gật đầu. Dược sư Lưu thấy Thật Lương mang bộ dạng thành kính, nhiệt huyết liền dâng lên. Con người vốn là vậy, làm gì cũng cần duyên số. Nhị gia Thủy đặt tâm tư vào dược liệu nhiều hơn Thật Lương, nhưng tâm cơ cũng nặng hơn, điều này khiến dược sư Lưu có phần coi thường. Thật Lương thì khác, đứa nhỏ này, dược sư Lưu tuy mới dẫn dắt được mấy ngày, nhưng cậu với dược liệu dường như sinh ra là một cặp trời định, nhất là cái sự yêu thích dành cho dược liệu ấy lại trào ra từ tận đáy lòng. Điểm này dược sư Lưu sẽ không nhìn nhầm, nếu không thì ông cũng chẳng yêu quý cậu như yêu quý dược liệu.
Hai người xoay quanh chủ đề trồng dược liệu, trò chuyện thêm một lúc. Trời tối đen như mực không thấy rõ năm ngón tay, hậu viện tĩnh lặng như tờ, bóng đêm từng lớp từng lớp kéo theo sự sợ hãi ập tới, khiến người ta không khỏi rợn tóc gáy. Dù sao thì trong viện này vừa mới cử hành một đám cưới âm, linh hồn của Thảo Nhi và Bảo Nhi vẫn còn đang vẩn vơ quanh quẩn trong viện. Dược sư Lưu đứng dậy nói:
- Muộn lắm rồi, không trò chuyện nữa, cháu cũng đi ngủ sớm đi.
Thật Lương "vâng" một tiếng, nhưng lại lưu luyến không nỡ để dược sư Lưu rời đi. Dược sư Lưu không ở lại nữa, phủi bụi trên người rồi về phòng.
Thật Lương nào có chút buồn ngủ nào? Nhìn bầu trời đen đặc một màu, lại nhìn cả hậu viện tối om, lòng dạ đau đớn như bị sói cào. Cậu không kìm được mà đứng phắt dậy, lủi thủi như ma đi về phía viện Nam. Đi được mấy bước, cậu khựng lại, bên tai vang lên lời dặn dò của cha trước lúc lên đường: "Con à, chuyến đi này, ghi nhớ cho kỹ, ngàn vạn lần đừng nghe ngóng chuyện của Thảo Thảo..."
- Thảo Thảo...
Thật Lương tự khắc hiểu ý của cha, lời của cha là có đạo lý. Thảo Thảo đã gả cho nhà người ta thì chính là người của nhà ta, định đoạt ra sao, đó là chuyện của nhà người ta. Con có bận lòng đi chăng nữa, chẳng những không giải quyết được gì, trái lại còn khiến người ta cảm thấy con cứ bám dai như đỉa đói, không phải kiểu người biết điều đối nhân xử thế. Nhị gia Thủy là kẻ thế nào? Lão ta là một con hổ chốn Thanh Phong Hạp, là một con ưng trên Thanh Thạch Lĩnh, lão ta chỉ cần nhe răng nhai mạnh một cái là có thể nghiền nát cả nhà con thành cám.
Chính vì điều này, Lai Lộ mới lo lắng cho Thật Lương. Từ bé, Thật Lương đã thân thiết với Thật Thảo, thân hơn cả anh trai Thật Dương nhiều. Thảo Thảo ngã bệnh, người đau đớn nhất không phải là Lai Lộ cậu, mà là Thật Lương. Kể từ ngày Thảo Thảo đổ bệnh, một nửa bầu trời của Thật Lương đã xám xịt, giờ đây, Thật Lương coi như mất đi bầu trời, những ngày tháng của cậu đều chìm nghỉm trong màn đêm đen tối. Thảo Thảo gả vào nhà họ Thủy, dù sống hay chết, làm ma hay làm người, người đau tim nhất vẫn cứ là Thật Lương.
Lai Lộ sợ lắm.
Con bé thì cứu không nổi rồi, nhưng con trai, nói thế nào cũng phải sống cho thật tốt.
Nửa đêm, trời nổi gió. Gió thổi qua từ phía Nhị Đạo Hiển Tử, từng đợt từng đợt, giật tung bầu trời, giật tung mặt đất, giật tung cả đại trạch viện sâu thẳm này. Trong gió, Thật Lương vừa tròn mười lăm tuổi trông gầy yếu như một ngọn cỏ bấc, run lẩy bẩy, đầy căm hận. Sự căm hận ấy, là thứ mà đêm đen mực tàu này không thể nhìn thấu.
Có lẽ chẳng ai ngờ rằng, ngày Thảo Thảo gả vào đại viện nhà họ Thủy — ngày mười sáu tháng năm, lại chính là sinh nhật của Thật Lương. Lai Lộ chẳng nhớ được gì, chỉ nhớ mỗi ngày này. Nhưng nhớ thì làm được gì, vào một ngày như thế, ông còn tâm trí đâu mà tổ chức sinh nhật cho con trai?
Ngay lúc Thật Lương đang đấu tranh với ông trời, một bóng người khác cũng đứng giữa gió, đứng ngay ngoài bức tường viện Nam. Thế nhưng, người đó đứng thẳng tắp như một cái cây, một cội cây già, chỉ có điều ánh mắt còn đáng sợ hơn cả Thật Lương.
Thanh Thạch Lĩnh ngay sau đó lại được bao bọc trong một bầu không khí hân hoan khác. Qua tháng năm, trời liên tiếp đổ hai trận mưa rào đẫm đất, trận sau còn mừng hơn trận trước. Tiếp đó, mây tan sương mù tản, mặt trời giống như vừa mới cưới vợ vậy, tinh thần phơi phới, rọi chiếu cả một dãy núi sáng lóa, nhìn về đâu cũng khiến lòng người phấn khích kêu lên hoan hỉ.
Nhờ hơi đất và ánh nắng, những khóm dược liệu mới được gieo trồng hồi cuối tháng tư đã nhú lên đều đặn tăm tắp. Dược liệu quả nhiên không giống hoa màu, hoa màu dẫu có lớn cũng là lớn sau lưng người, đứng trước mặt người ta thì nó cứ tà tà chậm chạp, trừ khi mấy ngày không gặp, bạn mới nhận ra chút ít sự tăng trưởng của nó. Còn dược liệu này, vậy mà lại vươn cao ngay dưới mi mắt người ta, chân trước vừa bước qua, nó vẫn còn phục trên mặt đất, xoay người lại một cái, vút một tiếng, nó đã cao vổng lên, ngẩng thẳng cổ. Hề hề, cảnh tượng này thật sự là chưa từng thấy bao giờ.
Phóng tầm mắt nhìn ra, Thanh Thạch Lĩnh tháng sáu, núi non thay đổi, cỏ cây thay đổi, ngay cả gió cũng trở nên mềm mại dịu dàng. Nơi gió thổi qua gió thổi lại, đập vào mắt toàn là dược liệu, mọc lên từ trên núi, mọc lên từ giữa đám cỏ, cứ đâm sầm vào mắt người ta, xua thế nào cũng không trôi. Nhưng ai nỡ xua chứ? Cảnh tượng chưa từng có này, có ngắm thế nào cũng thấy chưa đủ. Những loài hoa từng thu hút sự chú ý vào những năm trước như bát vàng kim, hoa lan, bách hợp dại, chuỗi chó, dây tím, giờ phút này đều biến thành rùa rụt cổ, không còn dám kiêu ngạo, không còn dám tự coi mình là phong cảnh nữa. Dược liệu khắp cả núi lập tức khiến chúng trở nên lép vế. Trong không khí lan tỏa ra một thứ mùi kỳ lạ, ngửi ban đầu thì không quen, nhưng ngửi liên tục mấy ngày thì lại thấy lưu luyến không rời. Thứ mùi vị mang theo vị đắng ngắt này, ngửi lúc đầu thì hơi bực bội, ngửi thêm lần nữa lại thấy nhuận phế, hít vào bụng lượn vài vòng, thở ra lại là một khoang đầy sảng khoái. Dược liệu, vương giả của bách thảo dược liệu! Ôi trời ơi, trên Thanh Thạch Lĩnh đã ngửi thấy mùi dược liệu rồi!
Hóa ra những cây thần thảo kỳ quái được cất giấu trong gói bọc của ông thầy thuốc họ Lãnh hồi trước, chính là được trồng ra như thế này đây!
Mang theo muôn vàn tâm tư kỳ lạ cùng với lòng thành kính chưa từng có, mọi người đổ xô đến Thanh Thạch Lĩnh.
Nhị gia Thủy chống gậy, khoác trên mình một tấm áo choàng màu đỏ tía, đứng trên đỉnh lĩnh, mỉm cười nhìn chốn phong thủy bảo địa xanh mướt này tựa như một vị Phật.
Sau tiệc rượu, Nhị gia Thủy cố ý đuổi khéo đi một nửa số nhân công. Bọn họ đều bị đuổi vì không quen nhìn cái nết ăn uống. Ba ngày tiệc rượu, Nhị gia Thủy chuẩn bị vô cùng đầy đủ thịt bò thịt cừu, thậm chí mỗi bàn đều dọn lên một đĩa lớn thịt bò Tây Tạng trắng nguyên chất. Món ăn này hiếm có không chứ, đủ thể diện không chứ, vượt xa chuyện hiếu hỉ nhà họ Hán nhà họ Cừu chứ? Thế nhưng vừa đặt đũa xuống ăn, cảm giác mỹ mãn trong lòng Nhị gia Thủy lập tức tan biến. Những người quây quần quanh bàn, dù là họ hàng hay xóm giềng, kể cả đám nhân công đã ăn chực nằm chờ ở nhà họ Thủy ròng rã một tháng trời, tất cả đều chung một bộ mặt: Tham lam! Ngươi nhìn xem, ngươi lại nhìn xem, cứ như thể tám đời chưa từng thấy ngũ cốc, như thể từ trong bụng mẹ chui ra chưa từng thấy mâm cỗ bao giờ. Tranh giành, cướp giật, làm lật cả bát, ôm đĩa thức ăn vào lòng ngấu nghiến, có kẻ vừa dọn lên đã trút thẳng vào chậu bát mình đã chuẩn bị sẵn từ trước, làm hỏng bét cả một đám cưới thể diện nhường ấy của nhà họ Thủy! Cả đời Nhị gia Thủy ghét nhất là nhìn thấy người ta tham ăn, đặc biệt là ăn cỗ! Tham ăn trên mâm cỗ chính là cái sự tham lam của kẻ nghèo hèn! Loại người này, có tham lam cả đời thì vẫn cứ là một con quỷ nghèo! Đối với họ hàng thì lão đành chịu, đối với xóm giềng lão cũng chẳng tiện nói gì, không sợ ngươi ăn đến căng chết thì cứ việc ăn, tiệc ba ngày cơ mà, cứ ăn đi! Còn đối với nhân công, lão không khách sáo như thế nữa. Ngày đầu tiên nhịn, ngày thứ hai vẫn nhịn, đến ngày thứ ba, lão không nhịn nữa, không thể nhịn được nữa, thấy một kẻ mắng một kẻ, chỉ có một chữ: Cút!
Mắng qua mắng lại, vậy mà lại mắng đi hơn một nửa số nhân công.
Mắng đi thì tốt, mắng đi thì tốt chứ. Nhị gia Thủy nhìn mảnh đất lớn của nhà họ Thủy, lại nhìn sang Nhị Đạo Hiển Tử, trong lòng bỗng thấy nhẹ bẫng chẳng còn chút giận dữ nào. Nếu không nhờ mắng bớt đi, giữ lại ngần ấy con người, thật chẳng biết phải sắp xếp thế nào nữa. Dược liệu vừa nhú mầm, những chuyện sốt sắng không còn nữa, người đông ngược lại thành ra lắm mắt nhiều miệng, chi bằng cứ như hiện tại, trong sự bận rộn lại phảng phất một nét nhàn hạ.
Trong tầm mắt của lão, tẩu Ngô tuổi tứ tuần đang xách một chiếc cuốc, lẽo đẽo đi theo sau dược sư Tào, đi một bước lại dừng, cúi người xuống để nhổ cỏ dại.
Tẩu Ngô này cũng là một yêu tinh, lúc đầu thì khóc lóc om sòm, nhất quyết đòi về quê nhà cho bằng được, đến lúc thật sự đồng ý cho đi thì mụ ta lại thấy tiếc không nỡ đi nữa. Ngươi xem bây giờ kìa, đôi chân của mụ ta còn chăm chỉ hơn bất cứ ai.
Ở một mảnh đất khác, Cổ Cổ lẽo đẽo theo sau Xoan Ngũ, lúc có lúc không, trông như đang dở chứng hờn dỗi việc ra đồng làm việc.
Con nha đầu này! Nhị gia Thủy cười nhẹ một tiếng, nụ cười này mang theo vài phần ngọt ngào.
Đến khi tầm mắt quét đến phía Lang Lão Nha Thai, nụ cười của Nhị gia Thủy liền cứng đờ lại, héo hắt đi, không cười nổi nữa.
Mảnh đất khiến Nhị gia Thủy tự hào nhất trong đời này, năm xưa từng đổ vào đó vô số tâm huyết của lão, thức khuya dậy sớm, tròng một đôi trâu già, dựa vào nửa túi bánh ngô, cộng thêm hai thưng bột mì rang, vậy mà đã khai hoang ra một mảnh đất rộng bao la không thấy điểm dừng trên ngọn núi hoang. Đôi trâu già đáng thương ấy cuối cùng đã vắt kiệt sức mà chết, Nhị gia Thủy không nỡ rời xa đôi bạn già, úp mặt vào xác trâu khóc ròng suốt nửa đêm, cuối cùng đào một cái hố ở giữa ruộng để chôn cất chúng. Giờ phút này, mảnh đất rực rỡ nhất và cũng phì nhiêu nhất trên Thanh Thạch Lĩnh này đã xanh mướt như một tấm thảm, trở thành sắc màu sinh động nhất. Kè ruộng phía trên trồng đương quy, kè ruộng phía dưới trồng đại hoàng, ở giữa được chia thành năm khoảnh rộng nửa mẫu, trồng năm loại dược liệu quý hiếm mà đến cả Nhị gia Thủy cũng không gọi nổi tên. Trước trận mưa, mảnh đất này chẳng có gì khác biệt so với những mảnh đất khác, thế nhưng sau khi được hai trận mưa rào đẫm đất tưới tắm, toàn bộ mảnh đất giống như phát điên lên, ào một cái liền mọc lên xanh um tùm.
Đặc biệt là năm khoảnh đất nhỏ ở giữa, tốc độ sinh trưởng của chúng suýt chút nữa khiến người ta phải rớt tròng mắt.
Đáng tiếc là, toàn bộ mảnh đất chỉ có trơ trọi hai bóng người, dược sư Lưu Hỉ Tài và Thật Lương!
Lưu Hỉ Tài đúng là một gã cứng đầu, mặc cho Nhị gia Thủy nói thế nào đi nữa, hắn vẫn cứ nổi cái tính bướng bỉnh của loài bò lên, ngoài Thật Lương ra, hắn chẳng thèm nhận ai, chẳng thèm dẫn dắt ai. Nhị gia Thủy trước sau đã phái đi không ít người, nhưng đều bị hắn đuổi cổ khỏi Lang Lão Nha Thai. Cứ như thể mảnh đất này đã bán đứt cho hắn vậy. Đừng thấy hắn hung dữ với người khác, nhưng đối với Thật Lương thì lại tốt đến mức không thể tốt hơn, tốt đến mức thái quá. Nhị gia Thủy đứng trên đỉnh lĩnh, tận mắt nhìn thấy dược sư Lưu cầm tay chỉ việc, dạy Thật Lương nhận biết dược liệu, dạy Thật Lương chăm sóc từng gốc dược liệu một. Thằng nhóc Thật Lương nhà nghèo này cũng thật là ngoan ngoãn nghe lời, tối hôm qua Nhị gia Thủy trông thấy cậu cầm một chậu mặt, vừa mò mẫm trong bóng tối vừa giặt giũ thứ gì đó. Nhị gia Thủy bước tới hỏi:
- Giặt cái gì thế?
Thật Lương chẳng thèm ngẩng đầu lên đáp:
- Quần ạ.
Nhị gia Thủy không tin, với tay vớt từ trong chậu ra xem, mẹ kiếp, cậu ta vậy mà lại đi giặt quần lót cho dược sư Lưu! Cái thằng Thật Lương này!
Trong tầm mắt dõi theo của Nhị gia Thủy, Thật Lương đến từ Tây Câu đang nín thở lắng nghe dược sư Lưu giảng giải về dược liệu:
- Cây ma hoàng này lại chia thành ba loại, gốc trên tay ta đây gọi là thảo ma hoàng. Nhìn cho kỹ vào, nó thon dài, hình trụ, ít phân cành. Bề mặt màu xanh nhạt đôi khi ngả sang màu vàng lục, có các đường khía dọc nhỏ, sờ vào có cảm giác hơi ráp. Các đốt rõ ràng, chất giòn, dễ bẻ gãy, khi bẻ gãy có bụi phấn bay ra, vết bẻ hơi có tính sợi, xung quanh màu vàng lục, phần tủy màu nâu đỏ, gần tròn. Mùi thơm nhẹ, vị hơi đắng chát...
Dược sư Lưu hễ nhắc đến những thứ này thì hoàn toàn không giống với hình ảnh người nông dân quen thuộc ngày thường, trái lại trông giống như một ông thầy đồ dạy học. Thỉnh thoảng, trong lời nói còn chêm thêm vài từ ngữ cổ kính mà Thật Lương nghe không hiểu, thần thái và vẻ nghiêm nghị khi nói chuyện lại có phần giống với ông thầy thuốc họ Lãnh ở Đông Câu, nhưng thậm chí còn khiến người ta kính sợ hơn cả thầy Lãnh. Thật Lương khom lưng, trừng lớn mắt, tâm trí chuyển động theo từng lời nói, dược sư Lưu nói một câu, cậu khắc sâu hai câu vào lòng, sợ bỏ sót mất một chữ. Dược sư Lưu giảng đến mức mệt bèn dừng lại, hỏi:
- Nhớ hết chưa?
Thật Lương gật đầu. Dược sư Lưu đột ngột hỏi một câu:
- Vậy ta hỏi cháu, mộc tặc ma hoàng thì giảng thế nào?
Thật Lương lập tức đứng thẳng người dậy, giống như học trò trong lớp học tư thục, đọc làu làu cho dược sư Lưu nghe:
- Mộc tặc ma hoàng, cành nhỏ phân nhiều nhánh, các đốt hơi dài, khoảng một phần tư phần trên tách rời, có hình tam giác ngắn, đầu mút phần lớn không cong ngược lại, gốc màu nâu đỏ đến nâu đen.
- Thế còn trung ma hoàng?
- Trung ma hoàng, cành nhỏ phân nhiều nhánh, các đốt dài hơn, khoảng một phần ba phần trên tách rời, đầu mút nhọn sắc, vết bẻ phần tủy có hình tròn dạng tam giác.
- Dược tính của nó?
- Phát hãn tán hàn, tuyên phế bình suyễn, lợi thủy tiêu thũng. Dùng cho cảm mạo phong hàn, tức ngực ho suyễn, phong thủy phù thũng, hen suyễn phế quản. Mật chích ma hoàng nhuận phế chỉ khái, thường dùng cho trường hợp biểu chứng đã giải, suyễn ho.
Dược sư Lưu khẽ gật đầu. Đợi Thật Lương đọc xong, ông liền nói:
- Chỉ biết học thuộc thôi vẫn chưa đủ, cháu còn phải học cách nắm bắt sự sinh trưởng khác nhau của nó theo sự thay đổi của tiết khí, khí đất, ánh nắng, mưa rào. Ghi nhớ cho kỹ, khí đất khác nhau, ánh nắng khác nhau thì dược liệu mọc ra sẽ khác nhau, dược tính theo đó cũng sẽ khác nhau.
Thật Lương âm thầm gật đầu.
Dưới bầu trời xanh thẳm, cặp đôi già trẻ này trông giống như một đôi cha con, lại càng giống một cặp thầy trò hơn. Sự tập trung của họ vừa khiến Nhị gia Thủy vui mừng, lại vừa khiến Nhị gia Thủy bất an.
Đêm hôm đó đã xảy ra một chuyện.
Đó là lúc mọi người đã chìm vào giấc ngủ say. Bước sang tháng sáu, việc đồng áng tuy có ít đi nhưng số lượng người cũng giảm theo, tuy rằng đã điều động tất cả già trẻ lớn bé trong viện ra đồng, nhưng những người này dẫu sao cũng ở trong viện đã lâu, đối với việc đồng áng có phần hơi bỡ ngỡ, thêm vào đó người thì ở ngoài đồng mà tâm trí lại vương vấn trong viện, mọi việc lớn nhỏ trong viện vẫn cần họ ló mặt giải quyết, thế nên việc đồng áng xem chừng chẳng thấy nhanh hơn là bao. Để không bị lỡ việc cả đôi bên, Nhị gia Thủy nghĩ ra một cách: làm việc ngoài đồng cho đến khi mặt trời lặn, quay về ăn một bữa lót dạ rồi tiếp tục làm việc trong viện. Đợi đến khi lo liệu xong xuôi mọi việc thì đã qua nửa đêm. Nhìn lại trong viện, ai nấy đều mệt mỏi rã rời như thể bị sâu ngủ tấn công, đầu còn chưa chạm gối thì tiếng ngáy đã vang lên rền trời.
Người duy nhất trong cả đại viện vẫn còn tinh thần phơi phới, e là chỉ có mỗi Nhị gia Thủy. Ban ngày lão ra đồng, có lúc đi theo sau dược sư Tào, có lúc đứng cách xa mọi người một khoảng để quan sát. Ngắm nhìn phong cảnh mọi người làm việc lại ngắm cả một dải màu xanh mướt của ngọn núi này. Trở về viện, kiểm tra từ trong ra ngoài một lượt: cỏ khô thức ăn cho gia súc đã cho chưa, phân chuồng ngựa đã dọn chưa, cửa chuồng cừu đã đóng kỹ chưa, những việc này đều là việc nhỏ, chỉ loáng một cái là làm xong. Quan trọng nhất là ngày nào lão cũng phải đến hai nơi. Một là phòng của Tam nữ Anh Anh. Con nha đầu này lúc thì cho lão vào, lúc thì không. Những lúc không cho vào chắc chắn là lúc nó đang bực bội khó chịu trong lòng. Nhị gia Thủy thừa biết vì sao nó bực, nhưng lão không thèm nói, cứ để mặc cho nó bực đi, bực qua cơn này xem nó còn bực nữa không? Nơi thứ hai, chính là tân phòng của Bảo Nhi.
Tân phòng của Bảo Nhi tuy cũng nằm ở viện Nam nhưng lại cách phòng của Anh Anh nửa bức tường. Đây là việc cố tình sắp xếp thêm sau khi đám cưới của Bảo Nhi hoàn tất, nguyên nhân vẫn là vì đề phòng Anh Anh. Con nha đầu này, nếu ngươi không dùng nửa bức tường này chặn lại, khéo nó lại gây ra chuyện tợn gì không biết chừng, nói không chừng nổi lửa thiêu rụi cả tân phòng của Bảo Nhi ấy chứ. Cách nửa bức tường này, trong lòng Nhị gia Thủy thấy yên tâm hơn đôi chút. Đương nhiên, yếu tố mang tính quyết định vẫn là một bà lão được mụ mặn Nhãn Quan dẫn đến từ rãnh Toan Tật. Đừng thấy bà lão bị mù mà lầm, tâm can không hề mù chút nào, đôi tai lại càng thính nhạy. Chỉ cần trong tường ngoài tường có chút động tĩnh nhỏ nào là mụ ta lập tức gào lên một tiếng: "Thiên quan ở đây, kẻ nào dám làm càn!" Trên tay mụ ta thực sự cầm một thanh kiếm dài ba thước hệt như vị thần quan vậy, trên kiếm còn bôi cả máu chó.
Có mụ ta bảo vệ Bảo Nhi, Nhị gia Thủy vô cùng yên tâm.
Công đoạn cuối cùng mỗi ngày của Nhị gia Thủy chính là ghé qua đứng trước cửa phòng Bảo Nhi một lát. Thật Thảo được khiêng vào, sau khi hoàn thành nghi thức động phòng, trên cửa tân phòng liền treo một chiếc ổ khóa đồng, chìa khóa do Nhị gia Thủy nắm giữ, không có lệnh của lão thì đố ai dám bước vào, mà cũng chẳng ai dám vào. Mấy ngày đầu, mỗi ngày ba bữa Thật Thảo vẫn được bà lão đút cho một chút cháo hồ, cháo hồ nuốt không trôi thì uống thuốc Đông y mà thầy thuốc họ Lãnh để lại. Nào ngờ con nha đầu này vừa được khiêng vào đại viện nhà họ Thủy, vừa hoàn thành nghi thức động phòng với linh hồn của Bảo Nhi, trên mặt vậy mà lại kỳ lạ sinh ra sắc thái sống động. Ba ngày sau, thế mà lại có thể uống trọn chén cháo hồ do bà lão đút. Đây tuyệt đối chẳng phải là điềm lành gì cho cam. Mụ mặn Nhãn Quan từng nói: Người sống được khiêng vào, có thể chống cự qua được tuần thất đầu tiên là trung hỉ, chống cự qua tuần thất thứ hai là đại hỉ, đến tuần thất thứ ba thì cũng không sao cả, coi như nó luyến tiếc đại viện này, thế nhưng... Mụ mặn Nhãn Quan không nói tiếp nữa, nhưng trong lòng Nhị gia Thủy thừa rõ, chống cự qua tuần thất thứ ba thì tuyệt đối không được phép chống cự thêm nữa, nếu còn cố kéo dài sự sống, thứ mang lại niềm vui e rằng sẽ chẳng phải nhà họ Thủy. Thế nên lão đã dặn dò bà lão mấy lần, phải căn chừng cho chuẩn, chỉ cần sống qua tuần thất thứ hai là được. Ai ngờ đâu hiện tại đã bước qua tuần thất thứ ba, tính từ lúc được khiêng vào viện đến nay đã là ngày thứ hai mươi lăm rồi mà hơi thở của Thật Thảo vẫn chưa đứt đoạn, chạm vào lồng ngực vẫn thấy ấm ấm, sắc mặt thậm chí còn hửng lên sắc hồng. Nhị gia Thủy vừa tức vừa lo, hoài nghi có phải bà lão đã giở trò quỷ phía sau lưng hay không, sau khi mắng mỏ vài bận, lão lại thấy không giống lắm, bà lão rất nghe lời, trông cũng không giống kẻ dám giở trò sau lưng lão.
Vậy thì là vì sao?
Hôm nay Nhị gia Thủy nảy sinh thêm một tâm cơ. Lão thực sự không thể tin nổi một con nha đầu nửa năm nay nuốt không trôi ngũ곡 mà lại có thể sống sót qua ngưởi ngần ấy thời gian, lại càng không tin một cỗ kiệu hoa có thể thổi bay căn bệnh của con bé. Sau khi làm xong mọi việc, lão giả vờ chìm vào giấc ngủ, nằm châm hai nồi thuốc lào, áng chừng bên viện Nam sắp có động tĩnh, liền rón rén bước xuống khang, nhón gót đi về phía viện Nam. Lúc này trong viện tĩnh lặng không tiếng động, ngoài tiếng ngáy phát ra từ các căn phòng, thì chỉ còn lại từng đợt gió thổi qua. Nhị gia Thủy rón rén như mèo đi đến dưới chân tường viện Nam, viện Nam tĩnh mịch vô cùng, bà lão cũng đã ngủ say, ngủ ở căn phòng sương phòng cạnh tân phòng của Bảo Nhi. Thoắt ẩn thoắt hiện, còn phát ra tiếng ngáy ngắt quãng. Dán sát vào chân tường nghe ngóng một hồi, quả nhiên không thấy có điều gì bất thường. Nhị gia Thủy kiên nhẫn đứng đợi, lão là một kẻ cực kỳ có kiên nhẫn. Trải qua bao nhiêu năm tháng thăng trầm, chính sự kiên nhẫn đã giúp lão giành chiến thắng trong cuộc đời. Lão có thể năm ngày năm đêm không chợp mắt, lão có thể đọ sức bền về đôi chân với một con la, con la đi bao lâu lão đi bấy lâu. Những năm tháng ngầm đấu sức với nhà họ Hán nhà họ Cừu, sự kiên nhẫn lại càng thành toàn cho lão, giúp lão từ một tên tá điền cùng đinh không có lấy một mảnh ngói che thân, không có một tấc đất cắm rũi, trở thành một đại phú hào, đại chủ trang trại lừng danh lừng lẫy, trở thành một nhân vật lớn dám đối đầu ngang ngửa với nhà họ Hán nhà họ Cừu.
Thời gian từng giây từng phút trôi qua, màn đêm đen đặc không kéo nổi bức rèm, trong viện vẫn không có lấy một chút khác thường. Nhị gia Thủy thầm nghĩ, chắc chắn là do mình cả nghĩ rồi, có lẽ thọ nguyên của nha đầu Thật Thảo vẫn chưa tận, có lẽ Bảo Nhi luyến tiếc sự vinh hoa phú quý của đại viện này, đến rồi không muốn đi nên muốn ở lại lưu luyến thêm ít ngày nữa. Nghĩ đoạn, lão bèn quay người định bước đi. Đúng vào khoảnh khắc này, một cái bóng đen đột ngột lóe lên lọt vào tầm mắt lão, bóng đen không lệch đi đâu cả, đứng sừng sững ngay trước mặt lão, dưới bức tường thấp kia. Nhị gia Thủy giật thót mình, vội vàng rút chiếc chổi quét nhà màu đen trong ngực ra, quát lớn về phía bóng đen:
- Mày là người hay là ma, có bản lĩnh thì cứ nhằm vào tao đây này!
Vừa nói, lão vừa lao bổ về phía bóng đen. Bóng đen dường như đã lường trước được chiêu này của lão, chỉ trong chớp mắt, lắc mình một cái đã biến mất. Nhị gia Thủy trong cơn cấp bách vung tay ném chiếc chổi đen về phía trước, đến lúc lao tới nơi, chiếc chổi đen lại đập trúng vào một đôi giày thêu.
Một đôi giày thêu có kiểu dáng có phần cổ lỗ sĩ nhưng đường kim mũi chỉ lại vô cùng tinh xảo!
Một đôi giày! Rõ ràng vừa nãy là một bóng đen, mà vung chổi đánh xuống một cái, vậy mà lại biến thành một đôi giày!
Nhị gia Thủy không cam lòng, lập tức gào to hết cỡ, đánh thức toàn bộ gia nhân lớn nhỏ trong viện bao gồm cả tẩu Ngô dậy.
- Lục soát cho tao, tao không tin là thật sự đụng phải ma quỷ!
Thế nhưng, lùng sục suốt cả một đêm, sự thật lại khiến Nhị gia Thủy chìm trong cảm giác thất vọng ê chề thấu xương.
Cái bóng đen kia quả thực giống như ma quỷ vậy, lùng sục khắp trong lẫn ngoài viện, tìm kiếm khắp nơi, chẳng những không tìm ra chút manh mối khả nghi nào, ngược lại còn khiến tất cả mọi người trong viện đồng loạt trừng mắt nhìn chằm chằm về phía lão, cứ như thể Nhị gia Thủy lão đã biến thành ma quỷ ngay trong chớp mắt vậy.