Hôm sau, Ann Veronica và Capes cảm thấy mình như những sinh linh mới chào đời. Họ cảm giác như trước đó bản thân chưa từng thực sự sống, mà chỉ đang lờ mờ thoáng nghĩ về sự tồn tại. Cả hai ngồi đối diện nhau bên dưới một chiếc ba lô trông có vẻ từng trải, một chiếc vali mới tinh và một chiếc túi xách tay bằng da, trên chuyến tàu tốc hành buổi chiều chạy từ Charing Cross tới Folkestone để sang Boulogne. Họ cố đọc những tờ báo có hình minh họa một cách thờ thợ và dồn hết tâm trí, sợ rằng nếu không thế, họ sẽ để lộ niềm hân hoan đang nhảy múa trong mắt nhau. Và họ chăm chú ngắm nhìn vùng Kent qua những ô cửa sổ.
Họ vượt eo biển Manche trong ánh nắng ngập tràn và làn gió nhẹ đủ làm mặt biển gợn lên những lớp vảy bạc lấp lánh. Một số người đứng ngắm họ sát bên nhau tưởng rằng họ là cặp đôi mới cưới vì những khuôn mặt rạng rỡ hạnh phúc, trong khi những người khác lại nghĩ họ là một đôi vợ chồng lâu năm bởi sự tự tin thoải mái họ dành cho đối phương.
Đến Boulogne, họ bắt tàu đi Basel; sáng hôm sau họ cùng nhau ăn điểm tâm tại quán giải khát ở ga tàu đó, rồi từ đó đón chuyến tàu tốc hành đi Interlaken, cứ thế qua ngả Spiez để đến Frutigen. Thời đó chưa có đường sắt vượt quá Frutigen; họ gửi hành lý qua đường bưu điện đến Kandersteg, rồi đi bộ dọc theo con đường mòn dành cho la ở bên trái dòng suối để đến cái trũng kỳ lạ giữa những vách đá dựng đứng, Blau See, nơi những cành cây hóa đá nằm sâu trong làn nước xanh thẳm của một hồ băng, và những hàng thông leo bám giữa những tảng đá khổng lồ. Một quán trọ nhỏ treo quốc kỳ Thụy Sĩ ẩn mình dưới một mỏm đá lớn, và ở đó họ cởi bỏ ba lô, ăn trưa, nghỉ ngơi trong cái bóng râm giữa trưa của khe núi cùng hương thơm thoang thoảng của nhựa thông. Sau đó, họ chèo thuyền trên vùng nước sâu bí ẩn của hồ See, cùng nhau nhìn thấu xuống làn nước xanh lục pha lam và xanh lam pha lục. Vào lúc ấy, họ có cảm giác như đã sống bên nhau suốt hai mươi năm.
Trừ một chuyến tham quan trường học đáng nhớ tới Paris, Ann Veronica chưa từng đặt chân ra khỏi nước Anh. Thế nên cô có cảm giác như cả thế giới đã đổi thay—ngay cả ánh sáng nơi đây cũng khác lạ. Thay vì những biệt thự và ngôi nhà tranh kiểu Anh là những căn nhà gỗ kiểu Thụy Sĩ và nhà kiểu Ý sáng chói; có những hồ nước màu ngọc lục bảo và ngọc bích cùng những lâu đài quần tụ, và những dải đồi núi bao la, những vùng cao nguyên tuyết trắng ngời mà cô chưa từng thấy bao giờ. Mọi thứ đều tươi mới và rạng rỡ, từ thái độ ân cần của người thợ đóng giày ở Frutigen—người đã đóng những chiếc đinh leo núi vào đôi bốt của cô—cho đến những loài hoa dại lạ lẫm rải rác bên vệ đường. Còn Capes đã biến thành người bạn đồng hành thoải mái và vui vẻ nhất trên đời. Chỉ riêng việc anh đang ngồi đó trên chuyến tàu bên cạnh cô, giúp đỡ cô, ngồi đối diện cô trong tòa toa ăn, chốc chốc lại ngủ say trên chiếc ghế cách cô chưa đầy một thước, cũng đủ làm trái tim cô hát ca khiến cô sợ những hành khách khác sẽ nghe thấy. Mọi thứ quá tuyệt vời để có thật. Cô chẳng dám ngủ vì sợ bỏ lỡ dẫu chỉ một khoảnh khắc cảm nhận sự gần gũi của anh. Được bước đi bên cạnh anh, mặc trang phục giống anh, mang ba lô và tâm đầu ý hợp, đó chính là niềm hạnh phúc khôn tả; mỗi bước chân cô đi giống như được bước qua ngưỡng cửa thiên đường một lần nữa.
Tuy nhiên, có một nỗi phiền muộn ném những tia chéo qua bầu không khí ấm áp rực rỡ của ngày khởi đầu ấy và làm vấy bẩn sự hoàn hảo của nó, đó chính là hình ảnh người cha.
Cô đã đối xử tệ với ông; cô đã làm tổn thương ông và người dì; cô đã làm trái với chuẩn mực của họ, và cô sẽ chẳng bao giờ có thể thuyết phục họ rằng mình đã hành động đúng. Cô nghĩ về người cha ở khu vườn, và người dì với trò chơi bài Patience của bà, theo cách cô từng thấy họ—cách đây đã bao nhiêu thời đại rồi nhỉ? Chỉ mới trôi qua một ngày. Cô cảm thấy như thể mình vừa đánh gót họ một cách bất ngờ. Ý nghĩ về họ khiến cô bận lòng nhưng không hề làm giảm đi đại dương hạnh phúc mà cô đang vẫy vùng. Chỉ là cô ước gì mình có thể bày tỏ sự việc đã làm theo cách nào đó để họ không bị tổn thương sâu sắc như sự thật phũ phàng chắc chắn sẽ gây ra. Hình ảnh khuôn mặt họ, đặc biệt là khuôn mặt của người dì khi đối diện với sự thật—đầy bối rối, xa cách, kết tội, đau đớn—cứ hiện lên trong tâm trí cô hết lần này đến lần khác.
"Ồ! Em ước gì," cô nói, "mọi người đều có suy nghĩ giống nhau về những chuyện thế này."
Capes nhìn dòng nước trong vắt nhỏ giọt từ mái chèo của mình. "Anh cũng ước vậy," anh nói, "nhưng đời không như là mơ."
"Em cảm thấy... Tất cả chuyện này là điều đúng đắn nhất trên đời. Em muốn kể cho tất cả mọi người nghe. Em muốn được khoe khoang."
"Anh biết mà."
"Em đã nói dối họ. Em đã nói dối. Hôm qua em đã viết ba bức thư rồi lại xé đi. Thật quá vô vọng khi giải thích cho họ hiểu. Cuối cùng... em đã bịa ra một câu chuyện."
"Em đã không nói cho họ biết vị trí của chúng ta chứ?"
"Em ngầm cho họ hiểu là chúng ta đã kết hôn."
"Rồi họ sẽ phát hiện ra. Họ sẽ biết."
"Chưa phải bây giờ."
"Sớm muộn gì cũng thế."
"Có thể lắm... từng chút một... Nhưng thật vô cùng khó khăn để mở lời. Em nói rằng em biết ông ấy không ưa và không tin tưởng anh cùng công việc của anh—rằng anh chia sẻ mọi quan điểm với Russell; ông ấy căm ghét Russell đến tận xương tủy—và rằng chúng ta không tài nào đối mặt với một cuộc hôn nhân theo lề lối thông thường được. Còn biết nói gì hơn nữa? Em để mặc ông ấy tự suy đoán—có lẽ là một đám cưới ở tòa án..."
Capes buông mái chèo khẽ đập xuống mặt nước.
"Em có thấy bận tâm lắm không?"
Anh lắc đầu.
"Nhưng nó khiến em cảm thấy mình thật vô tình," cô nói thêm.
"Và anh cũng vậy..."
"Đó là rắc rối muôn thuở," anh nói, "giữa cha mẹ và con cái. Họ không thể ngừng nhìn nhận mọi thứ theo cách của họ. Chúng ta cũng vậy. CHÚNG TA không cho rằng họ đúng, nhưng họ cũng chẳng nghĩ chúng ta phải. Đúng là một ngõ cụt. Ở một khía cạnh rất rõ ràng, chúng ta là kẻ sai—sai một cách tuyệt đối. Nhưng... vấn đề chỉ là: ai sẽ là người phải chịu tổn thương?"
"Em ước gì không ai phải chịu tổn thương cả," Ann Veronica nói. "Khi một người đang hạnh phúc—em chẳng muốn nghĩ đến họ nữa. Lần trước khi rời nhà, em thấy lòng mình cứng cỏi như đá. Nhưng lần này hoàn toàn khác. Khác hẳn."
"Có một thứ bản năng nổi loạn tiềm ẩn," Capes nói. "Nó chẳng có gì dính líu đặc biệt đến thời đại chúng ta cả. Mọi người cứ nghĩ là có, nhưng họ đã lầm. Nó gắn liền với tuổi dậy thì. Từ rất lâu trước khi tôn giáo và Xã hội biết đến Sự nghi ngờ, các thiếu nữ đã luôn sẵn sàng cho những chuyến xe nửa đêm và đến Gretna Green. Đó là một dạng bản năng rời xa tổ ấm."
"Anh tiếp tục mạch suy nghĩ."
"Còn có một bản năng khác nữa," anh nói tiếp, "đang bị kìm nén, nếu như anh không đoán lầm; đó là bản năng đuổi con ra khỏi tổ... Anh tự hỏi... Dẫu sao thì chẳng có thứ bản năng nào gắn kết gia đình lại với nhau cả; chính thói quen, tình cảm và sự tiện lợi về mặt vật chất mới giữ các gia đình gắn bó sau tuổi dậy thì. Luôn luôn có sự cọ xát, xung đột, những sự nhượng bộ miễn cưỡng. Luôn luôn là thế! Anh không tin là có bất kỳ tình cảm tự nhiên mãnh liệt nào thực sự tồn tại giữa cha mẹ và những đứa con đang lớn. Anh biết giữa anh và cha mình chẳng có thứ đó. Những ngày ấy, anh đã không cho phép mình nhìn nhận mọi sự việc đúng với bản chất của nó; còn bây giờ thì có. Anh làm ông chán ngấy. Anh căm ghét ông. Chắc là điều đó làm tổn thương những quan niệm thông thường của mọi người nhỉ... Nhưng đó là sự thật... Anh biết là có sự kính trọng và tôn sùng mang tính truyền thống lẫn tình cảm giữa cha và con trai; nhưng chính xác đó lại là thứ ngăn cản sự phát triển của một tình bạn thoải mái. Những người con trai tôn sùng cha mình là những kẻ bất bình thường—và bọn chúng chẳng có tích sự gì. Chẳng có ích gì sất. Một người phải trở thành một người đàn ông vĩ đại hơn cha mình, bằng không thì các thế hệ nối tiếp nhau sinh ra để làm gì? Cuộc đời chính là sự nổi loạn, hoặc chẳng là gì cả."
Anh chèo một nhịp và dõi theo vòng xoáy nước từ mái chèo của mình lan rộng ra rồi tan biến. Cuối cùng, anh quay lại với dòng suy nghĩ của mình: "Anh tự hỏi liệu có một ngày nào đó, con người ta sẽ không cần phải nổi loạn chống lại các phong tục và luật lệ nữa hay không? Liệu sự bất hòa này rồi sẽ biến mất? Một ngày nào đó, có lẽ—ai mà biết được?—người già sẽ không còn bao bọc và kìm kẹp người trẻ, và người trẻ cũng chẳng cần phải chống đối lại người già. Họ sẽ đối mặt với sự thật như bản chất của nó, và thấu hiểu lẫn nhau. Ồ, được đối mặt với sự thật! Chúa ơi! thế giới này sẽ tuyệt vời làm sao nếu con người dám đối mặt với sự thật! Sự thấu hiểu! Sự thấu hiểu! Chẳng có sự cứu rỗi nào khác ngoài điều đó. Biết đâu một ngày nào đó, những người lớn tuổi sẽ bận tâm tìm hiểu những người trẻ tuổi, và sẽ không còn những cuộc chia rẽ dữ dội ấy nữa; sẽ không còn những bức tường ngăn cách mà ta buộc phải thách thức hoặc diệt vong... Đó thực chất là sự lựa chọn của chúng ta lúc này, thách thức—hoặc là sự vô nghĩa... Có lẽ thế giới rồi sẽ được giáo dục để thoát khỏi ý nghĩ về những tiêu chuẩn cố định... Anh tự hỏi, Ann Veronica, liệu khi thời điểm của chúng ta đến, chúng ta có khôn ngoan hơn chút nào không?"
Ann Veronica quan sát một con bọ nước đang hì hục bơi qua vùng nước sâu màu xanh lá. "Không ai biết trước được đâu. Suy cho cùng em vẫn là một giống cái. Em thích những lời lẽ cao sang để tạo vẻ phô trương cùng những vì sao và ý tưởng; nhưng em vẫn muốn những thứ thuộc về thực tế của mình."