
1
Đồ ăn, làm gì có
Meg chén sạch hết rồi
Xe tang, đừng sờ mó
Ta quan niệm rằng người chết nên được đưa về nơi an nghỉ cuối cùng.
Đơn giản đó là hành động thể hiện sự kính trọng thôi mà, đúng không? Khi một chiến binh ngã xuống, ta nên làm tất cả những gì có thể để đưa di thể người ấy về cho gia đình, để người đó được mồ yên mả đẹp. Có lẽ ta cổ hủ thế đấy. (Đằng nào ta cũng hơn bốn ngàn tuổi rồi mà.) Nhưng ta cảm thấy không xử lý thỏa đáng thi thể người chết thật sự là một hành động quá đỗi bất kính.
Chẳng hạn như tên Achilles hồi Cuộc chiến thành Troy ấy. Quá quắt đúng nghĩa luôn. Hắn cột xác nhà vô địch thành Troy, Hector, vào chiến xa rồi lôi vòng vòng quanh thành suốt mấy ngày liền. Cuối cùng ta đã phải thuyết phục Zeus gây áp lực để cái tên to xác vũ phu ấy trả xác Hector lại cho gia đình chôn cất. Thôi đi nào. Ít nhiều gì thì cũng phải tôn trọng những kẻ chết dưới tay mình một tí chứ.
Nói đến thi thể thì tiện nhắc luôn vụ Oliver Cromwell[1]. Ta vốn không ưa gì tên đó, nhưng làm ơn đi. Người Anh lúc đầu an táng hắn khá chu đáo. Sau đó trở chứng thù ghét, quật mồ hắn lên để “xử trảm.” Đầu Oliver bị cắm cọc thị chúng, chừng mấy chục năm sau thì rơi ra lăn lóc, rồi được chuyền từ tay nhà sưu tập này sang tay nhà sưu tập khác suốt ba thế kỉ như một quả cầu tuyết lưu niệm gớm ghiếc. Cuối cùng, vào năm 1960, ta đã phải thì thầm vào tai một số nhân vật có ảnh hưởng. Đủ lắm rồi đấy. Ta là thần Apollo, ta ra lệnh cho ngươi phải chôn cái thứ đó ngay. Ngươi làm ta kinh tởm quá đi mất.
Giờ đây khi xét đến Jason Grace, người bạn, người em cùng cha khác mẹ đã bất hạnh qua đời, ta cũng quyết không để xảy ra bất trắc gì đâu. Ta sẽ đích thân đưa linh cữu cậu về Trại Jupiter, để cậu được mai táng một cách trọng thể nhất.
Một quyết định đúng đắn đấy chứ. Nếu xét đến chuyện bị lũ quái vật tấn công lẫn đủ thứ phiền hà khác.
Ánh hoàng hôn biến vịnh San Francisco thành một chiếc vạc chứa đồng nung chảy. Máy bay riêng của bọn ta từ từ đáp xuống sân bay Oakland. Ta nói máy bay riêng của bọn ta đấy nhé. Chuyến đi được bao trọn gói này là món quà chia tay của cô bạn Piper McLean cùng ông bố ngôi sao điện ảnh. (Chúng ta ai cũng nên có ít nhất một người bạn là con của ngôi sao điện ảnh.)
Đứng chờ bọn ta ở đường băng là một bất ngờ nữa, hẳn cũng do nhà McLean chuẩn bị sẵn: một chiếc xe tang đen bóng.
Ta và Meg McCaffrey bước xuống đất, duỗi tay duỗi chân trong khi nhóm người chờ sẵn lặng lẽ đưa quan tài của Jason ra khỏi khoang chứa hàng trong chiếc Cessna. Lớp gỗ gụ bóng loáng cơ hồ ánh lên trong nắng chiều tà. Mấy cái quai cầm bằng đồng lấp lánh sắc đỏ. Đẹp đẽ đến đáng ghét. Cái chết không nên đẹp như vậy.
Nhóm người khệ nệ đặt quan tài vào xe tang, rồi dời mớ hành lí của bọn ta qua ghế sau. Cũng không nhiều nhặn gì: ba lô của Meg và ta, bộ cung tên, cây ukulele, cùng vài quyển sổ vẽ và cái mô hình Jason để lại.
Ta kí vài thứ giấy tờ thủ tục, nhận lời chia buồn của tổ bay, sau đó bắt tay với gã nhà đòn dễ mến, ông ta trao cho ta chìa khóa chiếc xe tang rồi cất bước rời đi.
Ta nhìn chằm chằm xuống chùm chìa khóa, rồi nhìn sang Meg McCaffrey đang nhóp nhép nhai đầu một con cá kẹo dẻo. Trên máy bay có hơn chục hộp kẹo dẻo Thụy Điển hình cá đỏ. Giờ thì không còn nữa. Meg đã một tay đưa toàn bộ hệ sinh thái cá đỏ Thụy Điển đến bờ vực tuyệt chủng rồi.
“Ta phải lái sao?” Ta thắc mắc thành tiếng. “Chiếc xe tang này là đi thuê mà, đúng không? Khá chắc là cái bằng lái xe dành cho thanh thiếu niên New York của ta không có tính cho loại xe này đâu.”
Meg so vai. Suốt chuyến bay, cô bé cứ nhất định nằm dài ra băng ghế chiếc Cessna, do đó một bên mái tóc nồi úp bị ép sát vào đầu. Cái gọng kính mắt mèo đính đá nhú ra qua lớp tóc, nhìn như vậy cá mập lấp lánh bảy màu.
Trang phục cô bé từ phần cổ trở xuống cũng lôi thôi ngang ngửa: giày thể thao cao cổ đỏ cũ mèm, quần thun ôm vàng sờn chỉ, chiếc áo đầm xanh lá dài ngang gối mà mẹ Percy Jackson tặng được cô bé yêu quý vô cùng. Khi nói yêu quý vô cùng tức là muốn nói chiếc váy đã trải qua vô số trận chiến, vô số nước giặt, vô số lần vá víu đến mức không còn giống thứ để mặc lên người mà giống một cái khinh khí cầu xì hơi hơn. Đeo quanh hông Meg là món phụ kiện đặc trưng của cô: cái thắt lưng làm vườn nhiều ngăn, vì không có đứa con nào của Demeter ra đường mà lại thiếu thứ ấy.
“Tôi đâu có bằng lái,” cô bé nói, cứ như thể ta cần được nhắc rằng cuộc đời mình hiện đang bị một con bé mười hai tuổi kiểm soát vậy. “Xí ghế phụ lái.”
Xe tang mà cũng cần “phụ lái” sao? Nhưng đằng nào thì Meg cũng đã lon ton chạy qua bên cửa phụ, leo vào trong xe. Ta ngồi vào sau vô lăng. Rất nhanh cả hai đã ra khỏi sân bay, lái về phía bắc qua quốc lộ I-880 trên chiếc xe tang (thương) đen bóng.
Ôi, Vùng Vịnh. ta đã có không ít khoảng thời gian vui vẻ ở đây. Vùng lòng chảo lồi lõm rộng lớn này chứa đầy những nhân vật cùng địa danh lí thú. Ta yêu lắm những ngọn đồi lớp xanh lớp vàng, bờ biển mù sương, những cây cầu đan xen long lanh trong nắng, những khu phố chằng chịt nêm chật cứng như tàu điện ngầm trong giờ cao điểm.
Hồi những năm 1950, ta đã chơi nhạc cùng Dizzy Gillespie tại câu lạc bộ jazz Bob City ở Fillmore. Vào Mùa Hè Tình Yêu[2], ta tổ chức một buổi hòa nhạc ngẫu hứng ở Công viên Cầu Cổng Vàng với nhóm Grateful Dead. (Một ban nhạc dễ thương, nhưng mấy gã đó có nhất thiết phải chơi đoạn độc tấu dài những mười lăm phút không vậy?). Những năm 1980, ta ngang dọc khắp vùng Oakland với Stan Burrell, hay còn gọi là MC Hammer trong khi hắn tiên phong khai phá dòng nhạc pop rap. Thành tựu âm nhạc của Stan thì ta không dám nhận công, nhưng chính ta đã tư vấn cho phong cách thời trang của hắn đấy. Cái quần thụng vàng chóe dệt ngân tuyến ấy? Chính là ý tưởng của ta. Không cần cảm ơn đâu các tín đồ thời trang.
Hầu hết các nơi trong khu Vùng Vịnh đều mang lại kỉ niệm đẹp. Thế nhưng trên đường đi, ta không nhịn được lại nhìn về phía tây bắc, nơi có Hạt Marin và đỉnh Tamalpais đen ngòm. Với thần linh bọn ta, nơi đó là đỉnh Othrys, trung tâm quyền lực của Titan. Cho dù những kẻ thù cổ xưa ấy đã bị lật đổ, thành quách cung điện bị san bằng, nhưng ta vẫn cảm nhận được sức hút tà ác đến từ ngọn núi đó, tựa như một thỏi nam châm cố hút lấy chất sắt trong dòng máu phàm trần hiện thời của ta.
Ta cố sức xua cảm giác đó đi. Hiện tại cả bọn có khối thứ để lo rồi. Vả lại bọn ta đang trên đường đến Trại Jupiter, vùng đất thân thiện ở phía bên này vịnh. Ta có Meg bảo vệ. Ta đang lái một chiếc xe tang. Chuyện gì có thể xảy ra được chứ?
Xa lộ Nimitz uốn lượn quanh vùng bình nguyên Vịnh Đông, chạy ngang qua một dọc những nhà kho, xưởng đóng tàu, khu mua sắm lẫn những căn nhà gỗ xập xệ. Vươn cao bên tay phải là trung tâm thành phố Oakland, những ngọn đồi cao túm tụm nhìn về người hàng xóm San Francisco sang trọng phía bên kia vịnh như muốn nói, Bọn này là Oakland! Bọn này cũng tồn tại đó nha!
Meg nửa nằm nửa ngồi trên ghế, gác đôi giày đỏ lên bảng đồng hồ, hé mở cửa sổ xuống.
“Tôi thích nơi này,” cô nhóc phán.
“Chúng ta mới tới thôi mà,” ta bảo. “Em thích cái gì chứ? Mấy cái nhà kho bỏ hoang? Cái bảng hiệu quán Bos Chicken ‘N’ Waffles?”
“Thiên nhiên.”
“Xi măng cũng tính là thiên nhiên à?”
“Cũng có cây cối mà. Hoa cỏ. Hơi ẩm trong gió. Mùi bạch đàn thơm thơm. Không như…
Cô không cần phải nói hết câu. Khoảng thời gian bọn ta ở Nam California được đánh dấu toàn bộ bằng bầu không khí nóng nực, hạn hán khô cằn, cháy rừng liên miên…, tất cả đều nhờ ơn cái Địa Cung Lửa do Caligula và con mụ phù thủy Medea điên khùng tạo ra. Rất may vùng Vịnh đã không phải hứng chịu thảm trạng ấy. Cho tới hiện thời.
Bọn ta đã giết Medea. Đã dập tắt Địa Cung Lửa. Đã giải phóng Nữ Tiên Tri vùng Erythrae và giúp người dân cũng như các tinh linh tự nhiên héo úa vùng Nam California dễ thở hơn một chút.
Nhưng Caligula thì vẫn còn sống nhăn răng ra đó. Y và hai gã bạn hoàng đế trong Tam đầu chế vẫn quyết tâm thâu tóm tất cả nguồn sấm truyền, độc chiếm thế giới và viết tương lai thành hình thù bệnh hoạn theo đúng ý chúng. Ngay lúc này đây, đoàn du thuyền xa hoa ác quỷ của Caligula đang trên đường đến San Francisco để đánh chiếm Trại Jupiter. Ta hoàn toàn có thể tưởng tượng được sự hủy diệt mà tên hoàng đế ấy sẽ trút xuống Oakland và quán Bo′s Chicken ’N′ Waffles.
Mà dù cho bọn ta có xoay xở đánh bại được Tam đầu chế thì vẫn còn Delphi, nguồn sấm truyền quan trọng nhất đang bị Python, kẻ tử thù của ta chiếm giữ. Làm sao để đánh bại con rắn đó trong hình hài một thằng nhóc mười sáu tuổi nhẽo nhợt thế này, ta cũng không biết nữa.
Nhưng thôi nào. Ngoài chuyện đó ra thì tất cả đều ổn mà. Mùi bạch đàn thơm ghê luôn.
Dòng xe chậm dần tại nút giao nhau với xa lộ I-580. Xem ra cánh tài xế ở California không có thói quen nhường đường cho xe tang. Có lẽ họ cho rằng đã có ít nhất một người trên xe chết rồi nên bọn ta cũng chẳng việc gì phải vội.
Meg ngồi nghịch cái nút điều khiển cửa sổ, hết nâng kính lên rồi lại hạ xuống. Xè. Xè. Xè.
“Anh biết đường tới Trại Jupiter không?”
“Đương nhiên là biết.”
“Vì anh cũng từng nói thế lúc tới Trại Con Lai đó.”
“Thì chúng ta cũng tới nơi được rồi đó thôi!”
“Lạnh cóng, suýt thì chết ngắc.”
“Nghe này, lối vào trại ở ngay đằng kia.” Ta phất tay về dãy đồi Oakland. “Có một lối vào bí mật ở Hầm Caldecott hay sao đó.”
“Hay sao đó?”
“Chậc, ta có bao giờ lái xe vào Trại Jupiter đâu,” ta thú nhận. “Thường thì ta đáp thẳng từ trên trời xuống trong cỗ xe mặt trời lộng lẫy mà thôi. Nhưng ta biết Hầm Caldecott là lối vào chính. Chắc sẽ có bảng chỉ đường. Kiểu như làn dành riêng cho á thần ấy.”
Meg nhìn chòng chọc vào ta qua đầu gọng kính. “Anh là gã thần ngu nhất tôi từng thấy.” Cô nhóc nâng cửa kính lên. Xèèè THỤP! Cái âm thanh cuối cùng làm ta rợn người liên tưởng đến tiếng máy chém.
Bọn ta rẽ vào Cao tốc 24 dẫn về đông bắc. Những ngọn đồi sừng sững ngày một gần, dòng xe đông đúc cũng thưa thớt dần. Làn đường trên cao chạy băng qua những con phố ngoằn ngoèo len lỏi khắp các khu dân cư, qua cánh rừng thường xanh, qua cả những ngôi nhà trát vữa trắng nằm dựa vào sườn núi xanh mướt.
Một tấm bảng chỉ đường ghi HẦM CALDECOTT,2 DẶM. Đúng ra ta phải thấy nhẹ nhõm. Chẳng mấy chốc nữa bọn ta sẽ vượt qua ranh giới vào Trại Jupiter, tiến vào vùng thung lũng có phép thần ngụy trang phòng ngự cẩn mật, nơi cả một quân đoàn La Mã có thể bảo vệ ta trước mọi nỗi lo lắng, chí ít là trong một khoảng thời gian.
Vậy thì tại sao tóc gáy ta cứ run run như sâu biển thế này? Có gì đó không ổn. Ta bỗng nhận ra cảm giác bất an hình thành từ lúc hạ cánh tới giờ không phải do hiểm họa đến từ Caligula, hay cái ngọn Tamalpais vốn là tổng hành dinh cũ của các thần Titan. Nó đến từ điều gì đó trực tiếp hơn… đáng sợ hơn… và càng lúc càng gần hơn.
Ta liếc mắt qua gương chiếu hậu. Sau tấm rèm mỏng kéo ngang kính hậu không có gì ngoài xe cộ. Nhưng rồi, trên bề mặt cỗ quan tài bóng loáng, ta bỗng thấy được bóng phản chiếu của một thứ gì đó. Một thứ hình người, mới bay ngang chiếc xe tang.
“Ờ, Meg này?” Ta cố giữ giọng điềm tĩnh. “Em có thấy thứ gì bất thường sau lưng chúng ta không?”
“Bất thường thế nào?”
RẦM.
Chiếc xe tang chồm lên như bị hút về phía một chiếc xe tải chở đầy phế liệu. Phía trên đầu ta, nóc xe lõm xuống thành hình hai cái dấu chân.
“Có gì đó vừa đáp xuống nóc,” Meg suy đoán.
“Cảm ơn nha Sherlock McCaffrey! Em đuổi nó đi được không?”
“Tôi á? Bằng cách nào?”
Một câu hỏi hợp lý đến bực mình. Meg có thể biến cặp nhẫn đeo ở ngón giữa thành hai thanh kiếm vàng bén nhọn, nhưng nếu triệu cặp kiếm ra trong không gian hẹp, chẳng hạn như bên trong một chiếc xe tang thì cô bé sẽ a) không có chỗ để sử dụng và b) không cẩn thận là đâm trúng phe mình luôn.
RẮC. RẮC. Dấu chân lõm sâu thêm, cái thứ kia đang điều chỉnh lại tư thế như người lướt sóng đứng trên ván. Nó nhất định phải nặng lắm mới có thể làm lõm cả cái trần kim loại như vậy.
Tiếng rên khẽ thoát khỏi họng ta. Bàn tay đặt trên vô lăng không khỏi run rẩy. Ta muốn lấy bộ cung tên đặt ở băng ghế sau, nhưng cũng đâu có sử dụng được. Vừa lái xe vừa bắn cung là một trò bị cấm ngặt nhé mấy nhóc.
“Hay là em mở cửa sổ ra đi,” ta bảo Meg. “Nhoài người ra ngoài, đuổi nó đi.”
“Không nhé.” (Thần linh ơi, con bé này lì quá thể.) “Anh lạng xe cho nó rớt xuống không được sao?”
Ta chưa kịp giải thích rằng đó là một ý tưởng tồi tệ khi đang lái xe với tốc độ 80 kmh trên đường cao tốc thì đã nghe thấy tiếng lon thiếc bị khui ra. Cái tiếng póc gãy gọn của không khí tràn qua lớp kim loại. Một cái móng vừa đâm thủng mui. Một cái móng trắng ởn, to như mũi khoan. Rồi một cái nữa. Một cái nữa. Một cái nữa, tới khi mui xe đã cắm đủ mười cái móng trắng nhọn hoắt, vừa đủ số lượng cho hai bàn tay khổng lồ.
“Meg?” Ta ré lên. “Em có thể…?”
Ta cũng không biết nửa câu còn lại là gì. Bảo vệ ta? Giết thứ đó?
Câu nói bị chặt đứt khi con quái vật kia xé toạc mui xe như xé hộp quà sinh nhật.
Nhìn chòng chọc xuống ta qua lỗ hổng là một sinh vật hình người nhăn nheo gớm ghiếc, lớp da xanh đen óng ánh như thân ruồi, đôi mắt là hai viên bi trắng mờ đục, hàm răng nhỏ dãi nhe ra. Nó đóng quanh hông một cái khố kết bằng lông vũ đen óng phất phơ. Mùi hôi tỏa ra kinh khủng hơn bất kì cái thùng rác nào trên đời. Tin ta đi, ta rơi vào không ít thùng rác rồi.
“ĐỒ ĂN!” Nó tru lên.
“Giết nó đi!” Ta quát lên với Meg.
“Bẻ lái!” Cô hét lại.
Một trong những điều đáng ghét khi bị nhồi vào cái thân xác người phàm yếu đuối này: ta là người hầu của Meg McCaffrey. Ta buộc phải tuân theo mọi mệnh lệnh trực tiếp của cô. Vậy nên khi cô quát “Bẻ lái,” ta liền vặn mạnh vô lăng sang phải. Chiếc xe lướt một đường tuyệt đẹp. Lao thẳng qua ba làn xe, tông gãy rào chắn rồi cắm đầu xuống hẻm núi bên dưới.
❀ ❀ ❀
[1] Xem chú thích của tác giả ở phần Phụ lục.
[2] Xem chú thích của tác giả ở phần Phụ lục.