
6
Chiến thuyền kia bắc tiến
Tay cầm cốc mocktail
Sợ không? Dám không sợ?
Ôi, mấy giấc mơ.
Độc giả thân mến, nếu ngươi đã mệt mỏi vì phải nghe hoài mấy cơn ác mộng tiên tri của ta thì ta cũng chẳng trách gì đâu. Nhưng hãy hiểu ta có cảm giác thế nào khi phải trải qua mấy giấc mộng này trước nhất. Này cứ như bị cô đồng đền Delphi gọi điện phá nguyên đêm, lẩm bẩm mấy lời tiên tri ta chẳng hỏi xin và cũng chẳng muốn nghe vậy.
Ta nhìn thấy một hàng những chiếc du thuyền xa hoa cắt xuyên qua lớp sóng bàng bạc dưới trăng nơi bờ biển California. Năm mươi chiếc tàu xếp thành đội hình chữ V chặt chẽ, dàn đèn thắp sáng dọc mũi thuyền, những lá cờ đuôi nheo tím thẫm bay phành phạch trên đỉnh tháp truyền tin sáng rực. Boong tàu nhung nhúc đủ loại quái vật: Cyclops, nhân mã hoang, cự nhĩ tai to, blemmyae có đầu giữa ngực. Cuối mỗi chiếc du thuyền, một nhóm sinh vật đang túm tụm xây dựng một thứ gì đó từa tựa túp lều… hoặc một loại vũ khí công thành.
Giấc mơ thu vào cận cảnh đài chỉ huy thuyền trưởng trên con tàu chính. Thủy thủ đoàn qua qua lại lại, kiểm tra máy móc, điều chỉnh thiết bị. Đặt sau lưng chúng là một cặp ghế bành lớn bọc vàng, nằm dài trên đó là hai trong số những kẻ ta không ưa nhất trần đời.
Hoàng đế Commodus ngồi bên ghế trái. Cái quần đùi xanh lơ khoe trọn cặp đùi rám nắng hoàn hảo cùng đôi chân trần được chăm sóc kĩ lưỡng. Cái áo khoác Indianapolis Colts xám không kéo khóa, để lộ bộ ngực trần cùng những múi bụng đẹp như tạc. Mặt hắn cũng phải dày lắm mới dám mặc áo đội Colts, bởi bọn ta đã làm nhục hắn ngay trên sân nhà đội bóng ấy chỉ vài tuần trước. (Tất nhiên bọn ta cũng tự làm nhục mình, nhưng phần đó thì ta không muốn nhớ.)
Gương mặt hắn vẫn không khác mấy những gì ta nhớ: đẹp trai đến quá đáng đường nét sắc cạnh đầy ngạo mạn, những lọn tóc xoăn vàng ôm quanh vầng trán. Tuy nhiên vùng da quanh mắt hắn lại như bị máy phun cát làm sạch[1]. Đôi tròng mắt mờ đục. Lần cuối đối mặt, ta đã làm mù mắt hắn bằng một quầng hào quang chói lòa. Hiển nhiên tới giờ hắn vẫn chưa bình phục. Đó là điều duy nhất giúp ta vui vẻ khi phải nhìn thấy hắn lần nữa.
Ngồi bên ghế còn lại là Gaius Julius Caesar Augustus Germanicus, hay còn gọi là Caligula.
Cơn thịnh nộ nhuộm giấc mơ thành màu máu. Sao y dám thảnh thơi ngồi đó trong bộ đồng phục thuyền trưởng ngớ ngẩn: quần tây trắng, giày thuyền, áo khoác xanh hải quân mặc ngoài áo thun kẻ sọc, mũ thuyền trưởng đội lệch trên mái tóc xoăn màu hạt dẻ; trong khi chỉ mấy ngày trước thôi, chính tay y đã giết chết Jason Grace? Sao y dám nhấm nháp cái ly nước lạnh trang trí những ba quả anh đào (Ba đấy! Kinh khủng!) và cười cái điệu cười tự mãn như thế?
Caligula nhìn như một con người, nhưng ta thừa biết không nên trông mong chút nhân tính nào nơi y. Ta muốn siết chết cái tên đó. Nhưng thần hỡi, ta lại chẳng thể làm gì ngoài giương mắt nhìn trong căm phẫn.
“Thuyền trưởng à,” Caligula lười biếng gọi. “Tốc độ hiện tại là bao nhiêu?”
“Năm hải lý ạ,” một người phàm mặc đồng phục nói. “Tôi có cần tăng tốc không?”
“Không, không.” Caligula cầm một quả anh đào lên, cho vào miệng. Y nhai nhóp nhép rồi toét miệng cười, để lộ hàm răng đỏ tươi. “Thật ra thì hãy giảm xuống còn bốn hải lý đi. Hành trình là nửa cuộc vui mà!”
“Vâng ạ!”
Commodus cau mày. Hắn lắc lắc ly nước trên tay. Viên đá lạnh xoay tròn trong thứ dung dịch sủi bọt trong suốt, dưới đáy ly đọng một ít sirô đỏ. Ly của hắn chỉ có hai quả anh đào, nhất định là vì Caligula không bao giờ để Commodus ngang bằng mình ở bất cứ thứ gì.
“Ta không hiểu tại sao chúng ta phải đi chậm vậy,” Commodus làu bàu. “Nếu đi với tốc độ tối đa thì giờ này chúng ta đã đến nơi rồi.”
Caligula cười khùng khục. “Bạn ta ơi, còn phải canh giờ nữa chứ. Chúng ta phải cho tay đồng minh chết rồi kia thời cơ thuận lợi nhất để tấn công.”
Commodus rùng mình. “Ta ghét cái tên đồng minh chết rồi ấy. Ngươi chắc là khống chế được hắn…”
“Chúng ta đã bàn chuyện này rồi mà.” Cái giọng ngân nga của Caligula nghe mới nhẹ nhàng và trong trẻo và sặc mùi chết chóc làm sao. Cứ như nó muốn nói: Lần sau ngươi mà còn nghi ngờ ta thì ta sẽ khống chế ngươi bằng xyanua bỏ trong thức uống đấy. “Ngươi phải tin ta đi chứ Commodus. Đừng quên ai đã giúp ngươi trong thời khắc cần thiết.”
“Ta đã cảm ơn ngươi cả chục lần rồi,” Commodus nói. “Vả lại cũng đâu phải lỗi tại ta. Làm sao ta biết được Apollo vẫn còn chút ánh sáng trong người chứ?” Hắn chớp mắt đau đớn. “Hắn cũng đã qua mặt được ngươi lẫn con ngựa của ngươi đấy thôi.”
Quầng mây u ám lướt qua mặt Caligula. “Đúng vậy, nhưng thôi, sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ giải quyết ổn thỏa tất cả. Với quân lực của ngươi và ta cộng lại, chúng ta thừa sức đánh tan cái Quân đoàn Mười Hai manh mún kia. Còn nếu chúng lì lợm không chịu đầu hàng vậy thì chúng ta vẫn còn Kế hoạch B mà.” Y gọi ra sau. “Boost ơi?”
Một tên cự nhĩ vội vã chạy từ dưới đuôi tàu lên, đôi tai rậm lông to tướng vỗ phành phạch hai bên như hai tấm thảm. Tay gã cầm một tờ giấy lớn gấp thành nhiều nếp, trông như một tấm bản đồ hay sơ đồ hướng dẫn. “Có. có thần, thưa bệ hạ?”
“Báo cáo tiến độ.”
“À.” Gương mặt lông đen của Boost khẽ co giật. “Tốt! Tốt cả ạ! Một tuần nữa nhé?”
“Một tuần,” Caligula nói.
“Vâng thưa bệ hạ. Cái hướng dẫn này…” Boost xoay ngược tờ giấy lại, cau mày nhìn. “Chúng thần vẫn đang xác định những ’khe A′ trên ’mảnh ghép số bảy′ ạ. Bên kia cũng không giao đủ số đai ốc bánh xe cho chúng ta. Còn loại pin ta cần cũng không đúng chuẩn, cho nên…”
“Một tuần,” Caligula lặp lại, giọng vẫn nhẹ nhàng như cũ. “Thế nhưng trăng máu sẽ đến trong…”
Tên cự nhĩ nhăn mặt. “Năm ngày nữa ạ?”
“Vậy nên ngươi có thể hoàn thành công việc trong năm ngày? Tốt lắm! Tiếp tục đi.”
Boost nuốt ực, đoạn hối hả rời đi bằng tốc độ nhanh nhất mà đôi bàn chân lông lá cho phép.
Caligula mỉm cười với gã bạn hoàng đế. “Thấy chưa Commodus? Sớm thôi Trại Jupiter sẽ nằm trong tay chúng ta. Nếu may mắn, Bộ sách Sibylline cũng sẽ thuộc về chúng ta luôn. Rồi chúng ta sẽ có được sức mạnh để cân bằng thế cuộc. Đến thời điểm đối mặt Python và chia phần thế giới, đừng quên kẻ nào đã giúp ngươi… còn kẻ nào không.”
“À, ta sẽ không quên đâu. Tên Nerongungốc.” Commodus chọc ngón tay vào mấy viên đá trong ly. “Ly này là gì ấy nhỉ? Shirley Temple à?”
“Không phải, đó là Roy Rogers[2],” Caligula nói. “Của ta mới là Shirley Temple.”
“Ngươi đảm bảo đây là loại nước chiến binh ngày nay uống mỗi khi ra trận sao?”
“Chắc chắn,” Caligula nói. “Giờ thì hãy tận hưởng hành trình đi bạn ta ơi. Ngươi có trọn năm ngày để tắm nắng và hồi phục thị giác. Rồi chúng ta sẽ có một cuộc tàn sát ra trò ở Vùng Vịnh!”
Khung cảnh tan biến, ta rơi vào hố đen lạnh buốt.
Rồi ta thấy mình đứng giữa một căn phòng đá tù mù, vây xung quanh là những thây ma bốc mùi đang rên rỉ kết qua lết lại. Một số khô quắt như xác ướp Ai Cập. Một số nhìn chẳng khác mấy người sống, trừ những vết thương dễ sợ đã kết liễu đời chúng. Tít cuối phòng ngồi giữa hai hàng cột thô ráp là một… khối gì đó mờ ảo sau làn sương tím. Nó ngẩng cái mặt xương xẩu lên, nhìn thẳng vào ta bằng đôi mắt tím rực. Chính cái đôi mắt đã nhìn ta qua con thi quỷ bị điều khiển trong đường hầm. Rồi nó bắt đầu cười vang.
Vết thương trên bụng ta đánh lửa như một dãy bột thuốc súng.
Ta choàng tỉnh, thét lên đau đớn. Cả người run rẩy, mướt mồ hôi, phát hiện mình đang nằm giữa một căn phòng xa lạ.
“Anh cũng vậy hả?” Meg hỏi.
Cô bé đứng kế bên giường ta, nhoài người qua cửa sổ để đào bới một bồn hoa. Mấy cái túi trên thắt lưng làm vườn trĩu xuống vì mớ củ giống gói hạt và dụng cụ. Bàn tay lấm bùn cầm một cái xẻng nhỏ. Con cái nhà Demeter. Đi đâu cũng kiếm bùn đất để vọc.
“Chuyện… chuyện gì vậy?” Ta chống tay ngồi dậy. Sai lầm.
Vết thương trên bụng ta đúng nghĩa là một con đường đỏ lửa khiến ta đau đớn vô cùng. Ta nhìn xuống, thấy mình đang ở trần, ngang bụng quấn băng trắng thoảng mùi thảo dược và thuốc mỡ. Nếu y sĩ ở trại đã chữa trị cho ta, thế thì sao ta vẫn còn đau muốn chết thế này?
“Chúng ta đang ở đâu đây?” Ta khàn giọng.
“Quán cà phê.”
Xét bằng tiêu chuẩn của Meg thì cái câu đó nghe vẫn quá sức hàm hồ.
Căn phòng này chẳng hề có quầy cà phê, không máy pha chế, không người phục vụ, không bánh nướng thơm ngon. Nó chỉ là một căn phòng vuông vức sơn trắng, hai cái giường xếp kê sát vách với ô cửa sổ nằm giữa. Một cánh cửa sập nằm ở góc xa, vậy là bọn ta đang ở trên lầu. Bảo đây là nhà giam cũng không có gì quá đáng trừ mỗi việc cửa sổ không lắp song, và giường phòng giam vốn êm ái hơn nhiều. (Thật chán đó, ta dám chắc. Ta từng nghiên cứu qua nhà tù Folsom với Johnny Cash[3]. Chuyện dài lắm.)
“Quán cà phê nằm ở dưới nhà,” Meg nói rõ lại. “Đây là phòng dư của Bombilo.”
Ta thầm nhớ lại gã pha chế hai đầu mặc tạp dề xanh lá đã cau có nhìn cả bọn trên Đường Chính. Sao gã lại có lòng tốt cho hai người bọn ta chỗ ở nhỉ? Và tại sao trong các nơi, quân đoàn lại quyết định để bọn ta lại đây? “Chính xác thì vì…?”
“Bột Lemuria,” Meg nói. “Bombilo là người gần nhất có hàng. Mấy y sĩ nói họ cần thứ bột đó để chữa vết thương cho anh.”
Cô so vai kiểu, Ý y sĩ là ý trời mà, sau đó quay về trồng tiếp mấy củ cây diên vĩ.
Ta ngửi chỗ băng gạc. Trong những mùi ta nhận ra quả đúng có bột Lemuria. Một chất khá hữu hiệu để chống bọn thây ma, có điều tháng Sáu mới là mùa Lễ hội Lemuria, trong khi bây giờ mới là đầu tháng Tư… À, hèn gì bọn ta lại ở quán cà phê. Các nhà bán lẻ cứ năm sau lại khởi động mùa Lemuria sớm hơn năm trước. Latte vị Lemuria, bánh nướng vị Lemuria…, cứ như thể người ta nóng lòng tổ chức mùa trừ tà bằng bánh nướng thoảng mùi đậu quyên và tro nghĩa địa lắm ấy. Ngon ghê cơ.
Ta còn ngửi được gì trong thứ thuốc mỡ này nữa nhỉ? Nghệ tây, nhựa thơm, bột sừng kỳ lân? Ồ, đám y sĩ La Mã này khá đây. Nhưng sao ta vẫn không thấy đỡ hơn thế này?
“Họ không muốn di chuyển anh quá nhiều,” Meg nói. “Vậy nên chúng ta cứ thế ở lại đây thôi. Cũng ổn lắm. Nhà tắm dưới lầu. Có cà phê miễn phí nữa.”
“Em đâu có uống cà phê.”
“Giờ thì có rồi.”
Ta rùng mình. “Một Meg được nạp caffein. Đúng thứ ta cần. Mà ta ngất đi bao lâu rồi vậy?”
“Một ngày rưỡi.”
“Hả?!”
“Anh cần phải ngủ. Vả lại lúc bất tỉnh thì anh đỡ ồn ào.”
Ta chẳng có sức đâu mà tìm lời phản pháo. Dụi ghèn ra khỏi mắt, ta gắng gượng ngồi dậy, cố chống lại cơn đau lẫn buồn nôn.
Meg lo lắng nhìn ta, thế có nghĩa là bộ dạng ta còn ghê hơn những gì ta cảm nhận được.
“Đau lắm không?” Cô hỏi.
“Không sao,” ta nói dối. “Hồi nãy em bảo Anh cũng vậy hả là sao?”
Biểu cảm nơi cô bé đóng sầm lại như cửa chớp. “Ác mộng. Tôi thức giấc, la hét mấy lần. Anh ngủ say nên không nghe thấy, nhưng….” Cô cạy một mẩu bùn trên xẻng ra. “Cái nơi này làm tôi nhớ đến… anh biết đấy.”
Ta không khỏi hối hận vì đã không nghĩ đến việc này sớm hơn. Sau tất cả những gì Meg phải trải qua khi lớn lên trong cung điện của Nero, vây quanh bởi đám người hầu nói tiếng La Tinh, binh sĩ mặc giáp phục La Mã, cờ phướn tím, rồi đủ loại biểu tượng của đế chế xưa cũ, tất nhiên Trại Jupiter sẽ gợi nhắc những ký ức chẳng hay ho gì rồi.
“Ta rất tiếc,” ta nói. “Em có mơ… thấy gì mà ta cần biết không?”
“Vẫn như cũ thôi.” Giọng điệu Meg nói rõ cô bé không muốn hợp tác. “Anh thì sao?”
Ta nghĩ về giấc mơ có hai tên hoàng đế đang nhàn nhã giong thuyền tới đây, nhấm nháp mocktail trong lúc lính lác chạy cong đuôi để lắp ráp cái thứ vũ khí bí mật đặt mua ở IKEA.
Tên đồng minh đã chết. Kế hoạch B. Năm ngày.
Ta đã thấy cặp mắt tím rực trong căn phòng nhung nhúc thây ma. Đội quân người chết của đức vua.
“Vẫn như cũ thôi,” ta thuận theo. “Đỡ ta dậy với?”
Đứng dậy rất đau, nhưng nếu ta đã nằm liệt giường một ngày rưỡi thì ta muốn đi lại, kẻo cơ bắp sẽ đông thành bột sắn mất. Vả lại ta cũng bắt đầu nhận ra mình đang đói, khát, và theo những lời bất diệt của Meg McCaffrey thì là mắc tè. Cơ thể con người phiền toái thế đấy.
Ta bám vào khung cửa sổ, phóng mắt ra ngoài. Phía dưới kia, á thần nhộn nhịp qua lại khắp Đường Chính, mang vác đồ đạc, báo cáo nhiệm vụ, chạy qua chạy lại giữa trại lính với nhà ăn. Lớp màn đau khổ bàng hoàng xem chừng đã tan đi ít nhiều. Giờ tất cả đều ra vẻ bận rộn quyết tâm. Rướn cổ nhìn về phía nam, ta có thể thấy Đồi Đền Thờ đang náo nhiệt thế nào. Mấy cỗ máy phá thành được biến đổi thành cần trục và xe ủi đất. Giàn giáo dựng khắp nơi. Tiếng búa đục, tiếng xẻ đá vang dội khắp thung lũng. Từ góc nhìn thuận lợi này, ta xác định được ít nhất mười miếu thờ mới và hai ngôi đền lớn không hề có mặt lúc bọn ta mới tới, và còn rất nhiều nữa đang trong quá trình thi công.
“Oa,” ta lẩm bẩm. “Dân La Mã đúng là không nói chơi bao giờ.”
“Tối nay sẽ cử hành tang lễ cho Jason,” Meg báo cho ta biết. “Bọn họ đang cố gắng hoàn thành công việc trước lúc đó.”
Xét theo bóng nắng, ta đoán giờ là hai giờ trưa. Với tiến độ hiện tại của các á thần thì quân đoàn dư sức xây xong Đồi Đền Thờ, rồi dựng thêm một hoặc hai nhà thi đấu thể thao nữa trước giờ cơm tối.
Jason nhất định sẽ rất tự hào. Ước gì cậu có mặt ở đây để thấy mình đã kích thích mọi người đến thế nào.
Bỗng tầm mắt ta chập chờn rồi tối sầm lại. Ta cứ ngỡ mình sắp ngất đi lần nữa, nhưng rồi nhận ra một thứ gì đó to to đen đen mới chập chờn lướt ngang qua mặt, từ bên ngoài cửa sổ.
Ta quay lại, thấy một con quạ đậu trên giường mình. Nó rỉa rỉa bộ lông đen nhánh, nhìn lên ta bằng đôi mắt tròn xoe như hai hòn bi ve. QUÁC!
“Meg này,” ta nói, “em có nhìn thấy cái con này không vậy?”
“Có.” Cô thậm chí còn không ngẩng mặt khỏi đám cây diên vĩ. “Chào Frank. Thế nào rồi?”
Con chim biến hình, cơ thể phình lên thành một dáng người lực lưỡng, lớp lông vũ tan thành quần áo. Frank Zhang đường hoàng ngồi trước mặt bọn ta, tóc tai đã qua tắm gội, chải gọn gàng, cái áo ngủ lụa thay bằng áo phông tím của Trại Jupiter.
“Chào Meg” cậu nói, như thể đổi loài giữa chừng một cuộc đối thoại là chuyện hết sức bình thường. “Mọi việc đều theo đúng kế hoạch. Anh chỉ muốn kiểm tra xem Apollo tỉnh chưa. À tất nhiên là… ngài ấy tỉnh rồi.” Cậu ngượng ngùng vẫy tay chào ta. “Ý là ngài tỉnh rồi. Bởi vì… ờ… tôi đang ngồi trên giường của ngài. Tôi đứng dậy đây.”
Cậu đứng dậy, vuốt lại áo, sau đó thì hết biết phải làm gì với tay mình. Đã có lúc ta vô cùng quen thuộc với thái độ căng thẳng kiểu này của những người phàm đứng trước mặt mình, nhưng giờ ta phải mất một lúc mới nhận ra Frank vẫn còn kính sợ ta. Có lẽ vì là người biến hình, Frank hơn ai hết vẫn giữ niềm tin rằng mặc cho cái vẻ ngoài phàm tục không chút nổi bật này, bên trong ta vẫn là vị thần xạ thủ như cũ.
Thấy chưa? Đã bảo Frank dễ thương lắm mà.
“Mà thôi,” cậu tiếp, “Meg và tôi có nói chuyện với nhau, hôm qua, lúc ngài bất tỉnh… không phải, dưỡng thương…, ngủ, ngài biết đấy. Không sao cả. Ngài cần phải ngủ. Mong là ngài đã thấy khá hơn rồi.”
Khá thì không khá tí nào, nhưng ta vẫn không nhịn được mỉm cười. “Cậu đã rất nhiệt tình với bọn ta, pháp quan Zhang. Cảm ơn cậu.”
“Ừm, vâng. Đây là một, ngài biết đấy, vinh dự, vì ngài là… hoặc từng là…”
“Ầy, Frank à.” Meg ngẩng mặt khỏi bồn hoa. “Đó chỉ là Lester thôi. Đừng có xem anh ta như thứ gì ghê gớm lắm.”
“Coi nào Meg,” ta nói, “nếu Frank muốn xem ta như thứ gì ghê gớm…”
“Cứ cho anh ta biết đi Frank.”
Cậu pháp quan đảo mắt qua lại giữa hai người bọn ta như để đảm bảo Chương trình Meg và Apollo đã kết thúc. “Được rồi, Meg đã nói về lời tiên tri ngài nhận được ở Địa Cung Lửa. Apollo đối mặt với tử thần trong lăng mộ Tarquin trừ khi cửa vào chỗ thần câm lặng được khai mở bởi con gái của Bellona, đúng chứ?”
Ta không khỏi rùng mình. Ta chẳng hề muốn nhớ đến mấy lời ấy, nhất là sau khi mơ thấy giấc mơ vừa rồi, lẫn cái ám chỉ ta sắp sửa đổi mặt tử thần. Đã ở đó. Đã trải qua. Nhận nguyên vết thương ngang bụng.
“Đúng” ta thận trọng đáp. “Chắc các người chưa giải nghĩa được câu đó hay tiến hành nhiệm vụ cần thiết rồi đâu nhỉ?”
“Ừm, không hẳn,” Frank đáp. “Nhưng lời tiên tri đúng là có giải đáp vài nghi vấn về… chậc, về những gì đang xảy ra quanh đây. Cho Ella và Tyson thêm dữ kiện để nghiên cứu. Họ cho rằng đã tìm được manh mối rồi.”
“Ella và Tyson…” ta thầm lục lại bộ não người phàm mờ mịt. “Nàng ác điểu và cậu Cyclops đang cùng nhau viết lại Bộ sách Sibylline.”
“Chính họ,” Frank nói. “Nếu ngài đã thấy đủ sức rồi, vậy thì chúng ta hãy tới Rome Mới một chuyến nhé?”
❀ ❀ ❀
[1] Phương pháp dùng máy phun cát để làm sạch vật liệu, đánh bóng hoặc tạo nhám cho bề mặt kim loại, máy móc, hay phun khắc hoa văn trên kính, đá.
[2] Shirley Temple và Roy Rogers: tên của hai loại mocktail (thức uống pha trộn giữa chất tạo mùi và chất tạo màu, khác cocktail ở chỗ không có cồn).
[3] Johnny Cash (1932 – 2003): ca sĩ, nhạc sĩ người Mỹ. Một trong những ca khúc tiêu biểu của ông là “Folsom Prison Blues,” bài hát có nội dung liên quan đến nhà tù Folsom & California.