
16
Ô kìa Tarquin mới
Vẫn giống Tarquin xưa
Chỉ ít da hơn tẹo
Vậy là không có điệu ukulele vui tai rồi.
Đành chịu vậy.
Ta lặng lẽ theo Hazel bước xuống dãy cầu thang dẫn vào lăng-mộ-thú-nhún.
Vừa đi, ta vừa tự hỏi tại sao Tarquin lại đóng đô dưới một cái đu quay. Gã đã nhìn chiếc xe ngựa cán chết ông bố vợ. Có lẽ gã thích ý tưởng một vòng tròn ngựa và quái vật quay đều bất tận bên trên nơi mình yên nghỉ, bảo vệ gã bằng bộ mặt dữ dằn, cho dù mấy con thú ấy được cưỡi bởi lũ trẻ người phàm là chính. (Theo ta thấy thì bọn nhỏ cũng dữ dằn theo một cách rất riêng.) Cái khiếu hài hước của Tarquin vô cùng tàn nhẫn. Gã thích chia lìa gia đình người ta, thích biến niềm vui thành đau khổ. Gã không ngại sử dụng trẻ con như tấm bia sống đâu. Hẳn là gã cảm thấy thú vị lắm khi đặt lăng mộ mình dưới một cái trò chơi trẻ con màu mè sặc sỡ.
Cổ chân ta run lên khiếp đảm. Ta cố nhắc mình phải có lí do để ta leo xuống cái hang ổ sát nhân này. Nhưng lí do là gì thì không nhớ nổi.
Dãy cầu thang dẫn tới một hành lang dài, bức tường đá vôi trang trí từng hàng những cái mặt nạ người chết[1]. Thoạt tiên ta không lấy làm lạ. Các gia đình giàu có ở La Mã thường sở hữu một bộ sưu tập mặt nạ người chết để tưởng nhớ tổ tiên. Nhưng rồi ta nhìn lại biểu cảm trên mấy cái mặt nạ. Giống như vòng đu quay thú nhún ở trên, mấy cái mặt nạ thạch cao này đều đông cứng ở trạng thái hoảng hốt, đau đớn, giận dữ, hãi hùng. Đây không phải là tế phẩm. Là chiến lợi phẩm.
Ta liếc mắt sang Meg và Lavinia. Meg đứng ngay chân cầu thang, chặn hết đường lui. Cái con kỳ lân lấp lánh trên áo nhe răng cười với ta, nhìn mà ớn lạnh.
Lavinia nhìn vào mắt ta như muốn nói, Phải, mấy cái mặt nạ biến thái. Giờ thì đi tiếp đi.
Cả bọn theo Hazel xuống dọc hành lang, tiếng lanh canh của vũ khí vang dội khắp mái trần vòm cung. Dám chắc Phòng thí nghiệm địa chấn học Berkeley cách đây vài dặm đã bắt được nhịp tim ta trên máy đo địa chấn, và đưa ra dự báo động đất sớm rồi.
Đường hầm lâu lâu lại rẽ nhánh, nhưng Hazel luôn biết phải chọn hướng nào. Thi thoảng cô đứng lại, quay nhìn bọn ta rồi vội vã chỉ xuống chỗ nào đó dưới sàn, nhắc cả bọn không được lệch khỏi đường đi. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu bước sai chỗ thì ta không biết, nhưng ta không hề có nhã hứng thêm mặt mình vào bộ sưu tập mặt nạ người chết của Tarquin đâu.
Sau khoảng thời gian đằng đẵng như mấy tiếng đồng hồ, ta bắt đầu nghe được tiếng nước nhỏ lỏng tỏng đâu đó trước mặt. Đường hầm dẫn vào một căn phòng hình tròn như bể chứa nước. Mặt sàn chỉ còn lại một con đường đá hẹp dẫn qua hồ nước sâu đen ngòm. Treo trên bức tường phía xa là sáu cái hộp đan bằng mây tre trông như lờ bắt tôm. Đáy mỗi hộp có một lỗ tròn vừa đủ để… Lạy thần linh. Mỗi cái hộp này vừa đúng kích cỡ để chụp lên đầu người.
Ta không tự chủ khẽ nên một tiếng.
Hazel quay đầu lại, mấp máy môi, Sao? Ta lắc đầu. Em không muốn biết đâu.
Là một cô gái khôn ngoan, Hazel liền nghe theo. Cô tiếp tục dẫn cả nhóm đi tới.
Ngay trước ngưỡng căn phòng kế tiếp, Hazel giơ tay lên cảnh báo. Cả bọn dừng lại. Nhìn theo ánh mắt cô, ta thấy được hai tên lính gác xương khô đứng ở phía bên kia phòng, chắn trước một cánh cổng tò vò đá chạm trổ công phu. Hai tên lính đứng đối diện nhau, đầu đội mũ giáp, chắc bởi vậy nên mới chưa thấy bọn ta. Nhưng chỉ cần bọn ta gây ra một tiếng động nhỏ, hay bọn chúng nổi hứng liếc về phía này một cái thôi là cả bọn sẽ bị phát hiện ngay.
Từ đây tới chỗ bọn chúng cách chừng hai mươi thước. Căn phòng này rải đầy xương người dưới sàn. Không cách nào lẻn qua mặt chúng được. Đây là cốt binh, lực lượng đặc biệt trong thế giới thây ma. Ta không có tí xíu ham muốn nào đấu với chúng đâu. Rùng mình, ta tự hỏi hai kẻ đó là ai trước khi bị lũ thi quỷ ăn sạch tới tận xương.
Ta nhìn vào mắt Hazel, đoạn chỉ về đường cũ. Rút lui? Cô lắc đầu. Chờ đó.
Hazel nhắm mắt tập trung. Một giọt mồ hôi lăn dài xuống má.
Hai tên lính gác bỗng ngẩng phắt lên. Chúng quay lưng về phía bọn ta, hướng mặt vào cổng tò vò, đoạn sóng vai bước qua đó, tiến vào bóng tối.
Cục kẹo cao su suýt thì rơi khỏi miệng Lavinia. “Sao được vậy?” Cô thì thào.
Hazel đặt tay lên môi, đoạn ra hiệu cho cả bọn đi theo.
Căn phòng bây giờ chẳng còn ai, trừ mớ xương rải rác khắp sàn. Có lẽ bọn cốt binh tới đây để lấy bộ phận dự phòng. Ở bức tường đối diện, hai cái cầu thang hai bên cánh cổng dẫn lên một cái ban công. Phần lan can làm bằng xương người đan chéo nhau, ta nhìn mà không có ớn lạnh tí nào đâu. Trên cái ban công có hai ô cửa. Ngoại trừ cái cổng tò vò mấy bạn xương vừa đi qua thì hai lối kia xem chừng là cửa ra duy nhất trong căn phòng này.
Hazel dẫn bọn ta lên cầu thang bên trái. Thế rồi vì lí do nào đó chỉ mình cô biết, Hazel đi ngang qua ban công, chọn lối đi bên phải. Cả bọn lẽo đẽo theo sau.
Một đoạn hành lang ngắn. Ở cuối đường, cách chừng sáu thước trước mặt, ánh lửa bập bùng soi sáng một cái ban công nữa, cũng có lan can xương giống như đúc cái ban công bọn ta vừa đi qua. Ta không nhìn rõ được căn phòng ngoài kia, nhưng trong đó rõ ràng có người. Từ đó truyền đến một giọng nói trầm thấp, cái giọng ta nhận ra ngay.
Meg lắc cổ tay, thu cặp kiếm về dạng nhẫn. Không phải vì bọn ta đã qua hồi nguy hiểm, mà vì cô hiểu một chút ánh sáng thôi cũng làm lộ vị trí cả bọn ngay. Lavinia rút trong túi quần ra một tấm vải dầu, trùm lên cái nỏ máy. Hazel nhìn ta một cái nhắc nhở, thật thừa thãi hết sức.
Ta biết phía trước kia có gì chứ. Tarquin Kiêu Hãnh đang thượng triều.
Ta thu mình sau cái lan can xương người, ghé mắt nhìn xuống phòng chầu bên dưới, lòng thầm khấn đừng có cái thây ma nào nhìn lên rồi trông thấy bốn người. Hay ngửi thấy. Ôi, mùi cơ thể con người, sao ngươi phải nồng nàn đến thế chỉ sau vài tiếng leo núi chứ?
Ở bức tường phía xa, đặt giữa hai cột đá khổng lồ là một cái quách chạm trổ hình quái vật và dã thú, không khác mấy đám sinh vật trong cái đu quay công viên Tilden. Trên nắp quách nằm dài cái thứ từng là Tarquinius Superbus. Chiếc áo bào đã mấy ngàn năm không giặt, rũ quanh người như một tấm vải mục. Cơ thể gã khô quắt thành một bộ xương đen. Rêu mọc từng cụm quanh xương hàm và xương sọ, tạo thành một bộ râu tóc dị hợm. Những làn khói tím rực tỏa ra từ lồng ngực gã, lượn lờ quanh mấy khớp xương, quấn quanh cổ rồi len vào hộp sọ, thắp sáng hai hốc mắt trong sắc tím bập bùng.
Không rõ cái ánh sáng tím đó là gì, nhưng nó dường như là thứ giúp cho Tarquin hoạt động. Chắc không phải linh hồn đâu. Ta không nghĩ Tarquin có thứ đó. Quá nửa đó là tham vọng cùng nỗi căm hận của gã, cái quyết tâm lì lợm tuyệt đối không đầu hàng bất kể đã chết bao lâu.
Gã vua xem chừng đang khiển trách hai tên lính xương bị Hazel điều khiển.
“Ta có gọi bọn mi sao?” Gã vua hỏi. “Không. Không hề. Vậy tại sao bọn mi lại tới đây?”
Hai bộ xương nhìn nhau như cũng có cùng thắc mắc. “Trở về vị trí đi!” Tarquin quát.
Hai tên lính liền trở gót về lối cũ.
Vậy là còn lại ba con thi quỷ và nửa tá xác sống qua lại trong phòng nhưng ta linh cảm rằng còn rất nhiều nữa đang đứng ngay dưới ban công. Kinh khủng hơn nữa là bọn xác sốngvrykolakai/ muốn gọi thế nào cũng được, vốn là binh sĩ của quân đoàn. Hầu hết vẫn còn mặc trang phục chiến đấu, giáp móp méo, quần áo tả tơi, da thịt sưng phù, môi xanh mét, toàn thân đầy rẫy những vết thương hở miệng.
Vết thương ở bụng ta bỗng đau buốt lên, suýt thì không chịu nổi. Lời tiên tri Địa Cung Lửa cứ tua đi tua lại trong đầu ta: Apollo đối mặt tử thần. Apollo đối mặt tử thần.
Lavinia run rẩy bên cạnh ta, ngấn lệ lưng tròng. Cô dán chặt mắt vào một binh sĩ đã chết: một chàng trai trẻ, tóc nâu dài, má trái bị bỏng nặng. Một người bạn cũ, ta đoán thế. Hazel siết chặt vai Lavinia. Có lẽ để an ủi, hoặc để nhắc cô giữ im lặng. Meg quỳ bên tay còn lại của ta, cặp kính ánh lên loang loáng. Ta thật ước có một cây bút lông vĩnh viễn để tô đen hết mấy viên đá đính trên đó.
Cô bé xem chừng đang đếm số lượng quân địch, tính xem có thể hạ chúng trong bao nhiêu nốt nhạc. Ta có niềm tin rất lớn với kiếm thuật của Meg chí ít là khi cô bé không hoàn toàn kiệt sức vì điều khiển cành cây, nhưng ta cũng biết kẻ địch dưới kia quá đông và quá mạnh.
Ta khều đầu gối cô để gây chú ý. Ta lắc đầu, rồi nhịp nhịp lỗ tai, nhắc rằng cả bọn tới đây để thám thính chứ không phải đánh nhau.
Cô lè lưỡi.
Bọn ta hợp cạ nhau thế đấy.
Phía dưới kia, Tarquin làu bàu gì mà không có ai ra hồn để sai bảo. “Có ai thấy Caelius không? Hắn đâu rồi? CAELIUS!”
Một lúc sau, một con thi quỷ từ đường hầm bên hông lết ra. Nó quỳ xuống trước gã vua, rống lên, “ĂN THỊT! SỚM THÔI!”
Tarquin rít. “Caelius, ta đã nói với ngươi rồi mà. Tỉnh táo coi!”
Caelius tự vả mình một cái. “Vâng, thưa bệ hạ.” Giọng hắn dịu lại, mang khẩu âm người Anh. “Thành thật xin lỗi ngài. Đoàn thuyền vẫn theo đúng lịch trình. Ba ngày nữa hẳn sẽ tới nơi, vừa kịp lúc trăng máu mọc.”
“Tốt lắm. Còn quân ta thì sao?”
“ĂN THỊT!” Caelius tự vả thêm cái nữa. “Bệ hạ tha lỗi. Vâng, tất cả đã sẵn sàng. Bọn La Mã không nghi ngờ gì cả. Trong lúc bọn chúng quay lưng đối mặt các hoàng đế, chúng ta sẽ tấn công!”
“Tốt. Chúng ta bắt buộc phải chiếm thành phố trước. Ta muốn kiểm soát được tình hình trước khi bọn hoàng đế tới nơi! Chúng cứ việc đốt sạch Vùng Vịnh nếu muốn, nhưng thành phố là của ta.”
Meg siết chặt nắm tay đến trắng bệch như chỗ xương làm lan can. Từ ngày trải qua nạn lửa cùng các tiên cây ở Nam California, cô trở nên khá nhạy cảm mỗi khi lũ người xấu hoang tưởng tự đại đòi đốt rừng đốt đất.
Ta ném cho cô cái trừng mắt Bình tĩnh đi nghiêm túc nhất, nhưng cô chẳng hề nhìn sang.
Phía dưới kia, Tarquin lại tiếp, “Còn cái tên câm lặng”
“Được canh gác kĩ càng thưa bệ hạ,” Caelius chắc nịch nói. “Hừm,” Tarquin trầm ngâm. “Cứ tăng đàn lên gấp đôi đi. Chúng ta phải thật cẩn thận.”
“Tâu bệ hạ, bọn La Mã đâu thể nào biết tới Sutro…”
“Câm mồm!” Tarquin ra lệnh.
Caelius nên một tiếng. “Tuân lệnh bệ hạ. THỊT! Xin lỗi bệ hạ. ĂN THỊT!”
Tarquin ngẩng cái hộp sọ tỏa ánh tím về phía ban công. Cầu trời là gã không phát hiện. Lavinia ngưng nhai kẹo cao su. Hazel lộ vẻ tập trung cao độ, có lẽ đang dùng ý chí khiến tên vua thây ma quay đi chỗ khác.
Sau mười tiếng đếm, Tarquin cười khục lên. “Chà, Caelius, xem ra ngươi được ăn thịt sớm hơn ta tưởng rồi.”
“Bệ hạ?”
“Có kẻ đột nhập.” Tarquin cao giọng: “Bốn người các ngươi, xuống đây! Trình diện đức vua mới của mình đi nào!”
❀ ❀ ❀
[1] Loại mặt nạ được đắp khuôn từ chính gương mặt của người chết, dùng để thờ trong tang lễ và dùng làm hình ảnh chuẩn để điêu khắc tượng về sau.