
8
Mua một cuốn sách
Tặng một hình xăm
Í có con mèo
Lời khuyên chân thành: đừng bao giờ bước vào chỗ Cyclops xăm hình. Cái mùi ngửi một lần là nhớ mãi không quên luôn, kiểu như mùi của một cái vạc đun mực in và túi da ấy. Da Cyclops dày hơn da người nhiều, cần phải dùng kim siêu nóng để châm mực, thế nên mới có cái mùi thịt cháy dã man kia.
Làm sao ta biết ư? Ta đã có một quá khứ dài cực kì tồi tệ với họ nhà Cyclops.
Hơn ngàn năm trước, ta đã giết chết bốn Cyclops yêu quý của ông già nhà mình vì dám tạo ra những lưỡi tầm sét đoạt mạng con trai Asclepius của ta. (Và vì ta không thể ra tay với thủ phạm thực sự, e hèm, lão Zeus ấy.) Ta cũng vì vậy mà bị đày xuống trần lần đầu tiên. Cái mùi thịt Cyclops cháy ở đây rất nhanh đã làm sống dậy ký ức về trận đồ sát ngọt ngào ngày ấy.
Qua những năm dài, ta còn chạm mặt các Cyclops không ít lần nữa: cùng họ chiến đấu trong Cuộc chiến Titan lần thứ
nhất (với cái kẹp quần áo thường trực trên mũi), cố dạy họ cách chế tạo một cây cung đúng chuẩn khi đám người một mắt ấy chẳng hề có nhận thức về chiều sâu, bất ngờ xông vào phòng vệ sinh của một tên ở dưới Mê Cung trong chuyến hành trình cùng Meg và Grover. Cái hình ảnh mà ta có chết cũng không xóa khỏi đầu được.
Cơ mà này, ta không có vấn đề gì với Tyson hết nhé. Percy Jackson nhận Tyson là em trai. Sau cuộc chiến cuối cùng với Kronos, Zeus đã phong Tyson làm đại tướng và ban tặng một cây que rất bảnh.
Xét trên tiêu chuẩn Cyclops thì Tyson thuộc dạng chấp nhận được. Cậu ta chiếm chỗ chỉ tương đương một con người to xác. Cậu ta không rèn ra mấy tia sét giết chết người ta thương. Con mắt nâu to tròn hiền lành, nụ cười rộng mang đến cảm giác nhìn là muốn ôm như Frank vậy. Và hay nhất ở đây là cậu ta đã nguyện dốc hết sức mình để giúp nàng quái điểu Ella viết lại Bộ sách Sibylline đã thất lạc từ lâu.
Viết lại một bộ sách tiên tri thất lạc luôn là cách hay để chiếm được cảm tình của thần tiên tri.
Thế nhưng khi Tyson quay đi để dẫn bọn ta vào hiệu sách, ta đã phải nuốt xuống tiếng kêu kinh hãi. Nhìn như cậu ta đã xăm toàn bộ tiểu thuyết Charles Dickens lên lưng mình vậy. Từ gáy xuống tới giữa lưng cậu ta là từng dòng từng dòng những con chữ bé xíu thâm tím, chỉ bị ngắt ngang bởi những vết sẹo cũ trắng mờ.
Frank đứng cạnh ta hạ giọng “Đừng!”
Ta nhận ra mắt mình đã ngân ngấn lệ. Ta đang đau cái nỗi đau bị xăm từng ấy hình lên người, cũng như cái sự hành hạ cậu Cyclops đáng thương kia phải gánh chịu đến mức để lại nhiều sẹo như vậy. Ta thật muốn nghẹn ngào kêu Cậu nhóc đáng thương ơi! hay ôm ghì cậu Cyclops mình trần kia một cái (lần đầu tiên trong đời luôn đấy). Frank đang nhắc nhở ta đừng có làm to chuyện cái lưng của Tyson.
Đưa tay quệt mắt, ta cố trấn tĩnh lại.
Tyson vào tới giữa tiệm thì đứng lại, quay nhìn bọn ta. Cậu chàng cười toe toét, tự hào dang rộng hai tay. “Thấy không? Sách này!”
Cậu ta chẳng hề nói ngoa. Từ quầy thu ngânbàn dịch vụ đặt giữa phòng đến mấy cái kệ kéo dài bốn phía đều đầy ắp những quyển sách đủ mọi hình dạng kích cỡ. Hai cái thang dẫn lên tầng lửng có lan can, trên đó cũng là một bức tường toàn sách với sách. Những chiếc ghế đọc sách căng phồng đặt ở các góc. Các ô cửa sổ khổng lồ nhìn ra đường dẫn nước của thành phố cùng dãy đồi xa xa. Nắng soi nghiêng đượm vàng như mật, mang đến cảm giác thoải mái mơ màng cho cửa hiệu.
Đây hẳn sẽ là một nơi lí tưởng để nằm dài thưởng thức một quyển tiểu thuyết giải trí, nếu không có cái mùi dầu sôi và da thuộc muốn bể mũi kia. Không thấy thiết bị phun xăm gì xung quanh, nhưng ở bức tường cuối phòng là một tấm rèm nhung dày, trên treo tấm bảng đề BỘ SƯU TẬP ĐẶC BIỆT, có vẻ là dẫn đến một căn phòng phía sau.
“Hay đấy,” ta bảo, cổ không lên giọng thành câu hỏi.
“Sách!” Tyson lặp lại. “Vì đây là hiệu sách!”
“Tất nhiên.” Ta gật đầu đồng ý. “Đây là… ừm, cửa hiệu của cậu à?”
Tyson bĩu môi. “Không. Kiểu kiểu thế. Chủ cũ chết rồi. Trong cuộc chiến. Buồn lắm.”
“À.” Ta không biết phải nói gì. “Dù sao thì cũng rất vui được gặp lại cậu, Tyson ạ. Chắc cậu không nhận ra ta trong hình dạng này đâu, nhưng…”
“Ông là Apollo!” Cậu cười phá lên. “Nhìn ông bây giờ mắc cười quá.”
Frank che miệng ho một tiếng nhất định là để giấu nụ cười. “Tyson à, Ella có ở đây không? Tôi muốn Apollo nghe những gì hai người khám phá được.”
“Ella ở phía sau. Cô ấy đang xăm hình cho tôi!” Cậu ta nghiêng người về phía ta, hạ giọng “Ella xinh lắm. Nhưng suỵt. Cô ấy không thích tôi cứ mở miệng là khen. Cô ấy mắc cỡ. Rồi làm tôi mắc cỡ theo.”
“Ta sẽ không nói gì đâu,” ta hứa hẹn. “Dẫn đường đi nào, đại tướng Tyson.”
“Đại tướng” Tyson phá lên cười lần nữa. “Phải. Là tôi đó. Tôi đập vỡ được vài cái đầu trong trận chiến hồi đó!”
Nói đoạn cậu ta phóng vọt đi như phi ngựa, lao thẳng qua tấm rèm nhung.
Một phần trong ta chỉ muốn quay lưng ra khỏi đây, dẫn Frank đi uống một ly cà phê nữa. Ta sợ cái mình sẽ tìm được bên kia tấm rèm.
Thế rồi thứ gì đó dưới chân ta kêu meo một tiếng.
Con mèo tìm thấy ta rồi. Đó là một con mèo khổng lồ lông cam vằn vện, chắc hẳn đã thịt hết tất cả những con mèo khác trong hiệu sách để đạt tới kích cỡ hiện giờ. Nó dụi dụi đầu vào chân ta.
“Nó chạm vào ta kìa,” ta than.
“Là Aristophanes.” Frank cười nói. “Nó không làm gì ngài đâu. Vả lại ngài cũng biết người La Mã nghĩ gì về mèo mà.”
“Phải, phải, đừng có nhắc ta.” Ta đó giờ vốn không hảo gì dòng họ nhà mèo. Chúng là một lũ tự cao tự đại chỉ biết có bản thân, nghĩ rằng mình sở hữu cả thế giới này. Nói cách khác… Thôi được, để ta nói thẳng. Ta không thích có đối thủ cạnh tranh.
Tuy nhiên với người La Mã, mèo là biểu tượng của tự do và độc lập. Chúng được phép đi tới mọi nơi, kể cả trong đền. Suốt mấy trăm năm đó, ta nhiều lần phát hiện bàn thờ mình có mùi như địa bàn mới đánh dấu của một con mèo đực vậy.
Meo, Aristophanes lại kêu. Đôi mắt lờ đờ xanh màu vỏ chanh dường như muốn nói, Giờ ngươi là của ta, chút nữa ta sẽ tè lên ngươi.
“Ta phải đi rồi,” ta bảo con mèo. “Frank Zhang à, tìm cô nàng quái điểu của chúng ta thôi.”
Đúng như ta đoán, phòng lưu trữ các bộ sưu tập đặc biệt đã được chuyển đổi thành phòng xăm.
Các kệ sách có bánh xe bị đẩy sang bên, trên chất đống những quyển sách bìa da, hộp gỗ đựng quyển trục và các tấm đất sét khắc chữ tiền tượng hình. Chiếm trọn không gian giữa phòng là một chiếc ghế dựa bọc da đen với phần tay vịn có thể gấp lại, một ngọn đèn LED sáng rực chiếu thẳng xuống ghế. Bàn làm việc đặt ngay bên cạnh, trên bàn là bốn cái máy xăm mũi kim thép đang kêu rè rè, nối vào ống bơm mực.
Ta chưa từng xăm hình. Hồi còn là thần, nếu muốn có hình xăm thì ta chỉ việc biến ra. Nhưng cái dàn máy móc này làm ta nhớ đến mấy trò Hephaestus hay thử nghiệm: một ca thí nghiệm nhổ răng điên rồ kiểu thần linh chẳng hạn.
Cuối góc phòng một cái thang dẫn lên tầng lửng, tương tự như ngoài phòng chính. Trên đó bày hai chỗ ngủ: một bên là ổ quái điểu lót rơm, vải và giấy vụn; bên còn lại là một mớ thùng cạc tông quây lại như pháo đài. Ta quyết định không tìm hiểu sâu.
Ella đi qua đi lại trước ghế xăm, lầm bà lầm bầm như đang đấu khẩu với chính mình.
Aristophanes cũng đi vào theo bọn ta. Nó bắt đầu bám đuôi nàng quái điểu, cố gắng dụi đầu vào đôi chân chim phủ lông của Ella. Thỉnh thoảng một cọng lông vũ màu đỏ sậm rụng xuống liền bị Aristophanes vồ lấy. Ella hoàn toàn không ngó tới con mèo. Một mèo một chim này đúng là cặp đôi Elysium sinh mà.
“Lửa…” Ella lẩm bẩm. “Lửa với… gì đó, gì đó… cầu gì đó. Hai lần gì đó, gì đó… Hừmm.”
Cô nàng có vẻ bồn chồn, nhưng ta đoán đó chỉ là trạng thái bình thường của cô mà thôi. Từ những gì ta biết thì Percy, Hazel, Frank đã tìm thấy Ella ở Portland, Oregon. Cô nàng trú ngụ trong thư viện chính, sống qua ngày nhờ lượm lặt thức ăn thừa và làm ổ giữa những quyển sách bị vứt bỏ. Bằng cách nào đó, nàng quái điểu này đã có cơ duyên đọc được bản sao Bộ sách Sibylline, ba tập sách mà mọi người đều cho rằng đã biến mất vĩnh viễn trong cuộc hỏa hoạn cuối thời kì Đế chế La Mã. (Tìm được một bản sao như thế chẳng khác gì khám phá ra bản thu âm không ai biết của Bessie Smith, hay có được tập một truyện Người Dơi ấn bản năm 1940 còn mới toanh vậy, có điều… ờ… mang tính tiên tri hơn.)
Với cái trí nhớ hình ảnh có phần rời rạc, Ella bây giờ là nguồn tra cứu duy nhất cho những lời tiên tri cổ kia. Percy, Hazel, Frank đã đưa cô về Trại Jupiter, nơi cô có thể an toàn sinh sống, với hy vọng sẽ gây dựng lại được bộ sách đã mất bên cạnh sự giúp đỡ của Tyson, anh chàng người yêu hết lòng hết dạ. (Cyclops-yêu? Nửa kia khác loài?)
Bỏ qua khía cạnh đó, Ella quả thật là một sinh vật bí hiểm bọc trong lớp lông đỏ và đầm vải lanh.
“Không, không không!” Cô lùa tay vào mái tóc đỏ rực, gãi mạnh tới mức ta chỉ sợ cô làm tróc cả da đầu. “Không đủ chữ. ’Chữ, chữ, toàn là chữ. Hamlet, hồi hai, cảnh hai.”
Từng là một quái điểu sống bụi đời, nhưng cô bây giờ nhìn khá khỏe mạnh. Gương mặt con người góc cạnh, song không mang nét hốc hác. Hai cánh tay phủ lông được chải chuốt cẩn thận. Cân nặng của cô xem chừng cũng đúng chuẩn loài biết bay, có nghĩa cô đã được ăn rất nhiều hạt kê, bánh taco và tất cả những gì quái điểu thích ăn. Đôi chân móng vuốt đi qua đi lại đến mòn cả thảm.
“Ella, nhìn này!” Tyson thông báo. “Bạn bè!”
Ella cau mày, liếc mắt qua Frank và ta như thể bọn ta chỉ là một chút phiền toái nhỏ nhặt, kiểu bức tranh treo lệch trên tường.
“Không” cô phán. Những cái móng tay dài gõ vào nhau nghe lạch cạch. “Tyson cần phải xăm thêm.”
“Được!” Tyson cười toe toét như nghe được tin mừng. Cậu ta nhảy phóc lên cái ghế dựa.
“Chờ đã,” ta kêu lên. Ngửi mùi xăm đã kinh lắm rồi. Phải chứng kiến tận mắt cảnh xăm trổ thì chắc ta ọe hết xuống người Aristophanes quá. “Ella, trước khi bắt đầu thì cô có thể giải thích giùm ta chuyện này là sao được không?”
“Chuyện Này Là Sao,” Ella nói. “Marvin Gaye, 1971.”
“Ừ, ta biết,” ta nói. “Ta giúp sáng tác bài hát đó mà.”
“Không.” Ella lắc đầu. “Do Renaldo Benson, Al Cleveland, và Marvin Gayes sáng tác; lấy cảm hứng từ một vụ cảnh sát hành hung.”
Frank nhếch môi cười với ta. “Không cãi nổi nàng quái điểu đó đâu.”
“Đúng” Ella đồng tình. “Không nổi đâu.”
Cô nhích tới để quan sát ta kĩ hơn, đưa mũi ngửi cái bụng quấn băng rồi dùng tay chọc chọc ngực. “Apollo, cô nói.
“Nhưng ngài không có chỗ nào đúng hết. Sai cơ thể rồi. Cuộc Xâm Lăng Của Người Nhân Bản, Don Siegel đạo diễn, 1956.”
Ta không thích bị so sánh với một bộ phim kinh dị trắng đen, ta cũng vừa được bảo là đừng có tranh cãi với nàng quái điểu.
Tyson trong lúc đó đã chỉnh cái ghế xăm thành giường nằm. Cậu nằm sấp xuống, những dòng chữ còn tím mực gợn lên dọc theo tấm lưng cơ bắp hằn “Sẵn sàng!” Cậu thông báo.
seo.
Cuối cùng ta cũng ngộ ra cái sự thật hiển nhiên.
“Lửa thiêu rụi những lời ký ức,” ta nhớ lại. “Cô đang dùng kim nóng viết lại Bộ sách Sibylline lên lưng Tyson. Đó chính là điều lời tiên tri muốn nói.”
“Phải.” Ella chọc chọc mấy ngấn mỡ trên người ta như để xem nó có thích hợp làm bề mặt viết chữ hay không. “Ừm. Không được. Bèo nhèo quá.”
“Cảm ơn” ta làu bàu.
Frank đổi đổi chân, bỗng dưng đâm ra lo ngại cho bề mặt viết chữ của mình. “Ella nói đây là cách duy nhất để ghi lại các từ theo đúng thứ tự” cậu giải thích. “Trên da sống”
Đúng ra ta không nên bất ngờ. Trong vòng mấy tháng qua ta đã giải các lời tiên tri bằng cách lắng nghe những tiếng nói điên loạn trong rừng cây, gặp ảo giác trong hang tối, băng qua một câu đố ô chữ đỏ lửa. So với mấy chuyện đó thì soạn thảo một bản viết tay lên lưng Cyclops thật sự là quá văn minh rồi.
“Nhưng… nhưng cô viết được tới đâu rồi?” Ta hỏi.
..
“Ngang lưng” Ella đáp.
Cô nàng chẳng hề tỏ vẻ nói chơi.
Nằm úp mặt trên cái giường tra tấn, Tyson hào hứng lắc lư hai chân. “SẴN SÀNG RỒI! Mèn ôi! Xăm hình nhột lắm luôn!”
“Ella à,” ta có lần nữa, “ta muốn hỏi là: cô đã tìm được gì có ích liên quan đến… sao ta… hiểm họa trong bốn ngày nữa chưa? Frank nói cô có manh mối rồi?”
“Phải, tìm thấy ngôi mộ rồi.” Cô chọc cái ngấn mỡ thêm lần nữa. “Chết, chết, chết. Toàn là cái chết.”