Quo Vadis: Chuyện Thời Nero

Lượt đọc: 140 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 28

❊ ❊ ❊

PETRONIUS gửi VINICIUS: — “Hãy thương xót, carissime; đừng bắt chước người Lacedaemon hay Julius Cæsar trong thư từ của anh! Ước gì anh cũng có thể như Julius, viết rằng Veni, vidi, vici (Ta đến, ta thấy, ta chinh phục), thì anh có thể hiểu được sự vắn tắt của anh. Nhưng lá thư của anh hoàn toàn mang nghĩa Veni, vidi, fugi (Ta đến, ta thấy, ta trốn chạy). Vì cái kết cục ấy của sự việc hoàn toàn trái ngược với bản tính của anh, vì anh đang bị thương, và vì cuối cùng, những điều kỳ lạ đang xảy ra với anh, nên lá thư của anh cần được giải thích. Ta không thể tin vào mắt mình khi đọc thấy tên khổng lồ người Lygia đã hạ sát Croton dễ dàng như một con chó xứ Caledonia hạ sát sói trong những hẻm núi ở Hibernia. Gã đó đáng giá bằng trọng lượng vàng của chính mình, và việc gã có trở thành sủng thần của Cæsar hay không hoàn toàn tùy thuộc vào ý muốn của gã. Khi trở lại thành phố, ta phải làm quen thân thiết hơn với tên người Lygia đó, và đặt làm riêng một bức tượng đồng của hắn. Ahenobarbus sẽ tức phát nôn vì tò mò, khi ta bảo rằng bức tượng được tạc theo người thật. Những thể hình thực sự cường tráng ngày nay càng trở nên hiếm hoi ở Ý và Hy Lạp; phương Đông thì khỏi phải bàn; người Đức, dẫu to lớn, nhưng cơ bắp lại phủ đầy mỡ, bề thế hơn là sức mạnh. Hãy tìm hiểu xem người Lygia ấy có phải là một ngoại lệ hay không, hoặc liệu quê hương hắn có nhiều người như vậy không. Nếu có lúc nào đó anh hoặc ta đứng ra tổ chức các đại yến chính thức, thật tốt khi biết nơi nào để tìm kiếm những thể hình ưu tú nhất.

“Nhưng tạ ơn các vị thần phương Đông và phương Tây vì anh đã thoát khỏi đôi bàn tay ấy mà vẫn còn sống. Dĩ nhiên là anh đã thoát nạn, vì anh là một quý tộc và là con trai của một vị quan chấp chính; nhưng mọi chuyện xảy ra đều khiến ta kinh ngạc đến tột cùng — cái nghĩa địa nơi anh ở cùng những kẻ theo đạo Thiên Chúa, họ, cách đối xử của họ với anh, cuộc trốn chạy sau đó của Lygia; và cuối cùng, nỗi buồn cùng sự bất an kỳ lạ tỏa ra từ lá thư ngắn ngủi của anh. Hãy giải thích đi, vì có rất nhiều điểm ta không thể hiểu nổi; và nếu anh muốn nghe sự thật, ta sẽ nói thẳng rằng ta chẳng hiểu gì về những tín đồ Thiên Chúa, về anh, hay về Lygia. Đừng ngạc nhiên khi ta, kẻ chẳng màng đến điều gì trên đời ngoài bản thân mình, lại gặng hỏi anh tha thiết đến thế. Ta đã dự phần vào toàn bộ câu chuyện này của anh; thế nên trong chừng mực nào đó, nó cũng là chuyện của ta. Hãy viết thư sớm cho ta, vì ta không thể đoán trước chắc chắn khi nào chúng ta có thể gặp nhau. Trong cái đầu của Râu Đồng, các kế hoạch thay đổi chẳng khác nào gió mùa thu. Hiện tại, khi đang dừng chân ở Beneventum, hắn lại có ý định đi thẳng tới Hy Lạp mà không thèm quay về Rome. Tuy nhiên, Tigellinus khuyên hắn nên ghé thăm thành phố dẫu chỉ chốc lát, vì dân chúng đang quá khao khát bóng dáng hắn (xin đọc là ‘đòi trò giải trí và bánh mì’) có thể sẽ nổi loạn. Thế nên ta chẳng thể nói trước mọi thứ sẽ ra sao. Nếu xứ Achaea chiếm ưu thế, có lẽ chúng ta sẽ muốn ngắm nghía cả Ai Cập nữa. Ta sẽ hết lòng nài nỉ anh đến cùng, bởi ta nghĩ rằng trong tâm trạng hiện tại của anh, những chuyến du ngoạn và các cuộc vui chơi của chúng ta sẽ là một liều thuốc bổ, nhưng có thể anh sẽ chẳng tìm thấy chúng ta đâu. Vậy hãy cân nhắc xem trong trường hợp đó, việc nghỉ ngơi tại điền trang của anh ở Sicily có phải sẽ tốt hơn là ở lại Rome hay không. Hãy viết cho ta thật tỉ mỉ về bản thân anh, và chúc anh bảo trọng. Lần này ta chẳng thêm lời chúc nào ngoài sức khỏe; vì, thề có Pollux! ta chẳng biết phải chúc anh điều gì nữa.”

Vinicius, khi nhận được lá thư này, thoạt đầu không hề cảm thấy muốn hồi đáp. Cậu có cảm giác rằng việc đáp lời chẳng đáng chút nào, rằng một câu trả lời sẽ chẳng mang lại ích lợi gì cho ai, rằng nó chẳng thể giải thích được điều gì. Sự bất mãn và cảm giác về sự phù phiếm của cuộc đời bao trùm lấy cậu. Hơn nữa, cậu nghĩ rằng Petronius sẽ chẳng thể nào thấu hiểu mình, và có một điều gì đó đã xảy ra khiến họ cách xa nhau. Cậu thậm chí chẳng thể hòa hợp được với chính mình. Khi từ khu Trans-Tiber trở về dinh thự lộng lẫy của mình, cậu kiệt sức, và trong những ngày đầu, cậu tìm thấy một sự thỏa mãn nhất định trong việc nghỉ ngơi cùng sự tiện nghi, sung túc xung quanh. Tuy nhiên, niềm thỏa mãn ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Cậu sớm cảm thấy rằng mình đang sống trong sự phù phiếm; rằng tất cả những gì bấy lâu nay tạo nên mối quan tâm trong đời cậu hoặc đã ngưng tồn tại, hoặc đã thu mình lại đến mức khó mà nhận thấy. Cậu mang cảm giác như thể những sợi dây từng gắn kết cậu với cuộc sống đã bị cắt đứt trong tâm hồn, và chẳng có sợi dây mới nào được dệt nên. Trước ý nghĩ rằng mình có thể đến Beneventum rồi từ đó sang Achaea, để đắm mình trong một cuộc sống xa hoa và trụy lạc cuồng loạn, cậu cảm thấy trống rỗng. “Để làm gì chứ? Ta sẽ thu được gì từ đó?” Đó là những câu hỏi đầu tiên lướt qua tâm trí cậu. Và cũng là lần đầu tiên trong đời, cậu nghĩ rằng nếu mình ra đi, những lời trò chuyện của Petronius, sự dí dỏm, sự sắc sảo, cách phác họa tư tưởng tinh tế và khả năng chọn lựa từ ngữ chuẩn xác cho mọi ý niệm của ông ta có thể sẽ làm cậu phiền lòng.

Nhưng sự cô độc cũng bắt đầu làm cậu bực bội. Tất cả những người quen của cậu đều đang ở cùng Cæsar tại Beneventum; thế nên cậu buộc phải ở nhà một mình, với một cái đầu đầy những suy nghĩ và một trái tim ngập tràn những cảm xúc mà cậu chẳng thể phân tích nổi. Dẫu vậy, vẫn có những khoảnh khắc cậu đánh giá rằng nếu mình có thể trò chuyện với ai đó về tất cả những gì diễn ra bên trong mình, biết đâu cậu có thể nắm bắt được nó bằng cách nào đó, sắp xếp lại và đánh giá nó thấu đáo hơn. Dưới ảnh hưởng của niềm hy vọng ấy, và sau vài ngày chần chừ, cậu quyết định đáp thư cho Petronius; và dẫu không chắc chắn rằng mình có gửi bức thư đi hay không, cậu đã viết nó bằng những lời sau đây:

“Anh muốn ta viết chi tiết hơn, được thôi; liệu ta có thể viết rành mạch hơn hay không, ta chẳng dám chắc, bởi có rất nhiều nút thắt mà chính ta cũng không biết phải cởi gỡ ra sao. Ta đã kể cho anh nghe về quãng thời gian ta lưu lại giữa những tín đồ Thiên Chúa, và cách họ đối xử với kẻ thù — những kẻ mà họ có quyền coi cả ta lẫn Chilo là một trong số đó; cuối cùng là sự ân cần mà họ đã dùng để chăm sóc ta, và sự biến mất của Lygia. Không, bạn hiền của ta ơi, ta không được dung tha chỉ vì là con trai của một vị quan chấp chính. Những cân nhắc kiểu đó không tồn tại đối với họ, bởi họ đã tha thứ cho cả Chilo, dẫu cho ta đã giục họ hãy chôn vùi lão trong khu vườn. Đó là những con người mà thế giới từ trước đến nay chưa từng thấy, và giáo lý của họ là thứ mà thế giới cho tới tận lúc này chưa từng được nghe qua. Ta chẳng thể nói gì hơn, và bất kỳ ai dùng thước đo của chúng ta để đo lường họ đều là kẻ lầm lẫn. Ta bảo anh rằng, nếu ta nằm với một cánh tay gãy trong chính ngôi nhà của mình, và nếu người nhà của ta, thậm chí cả gia đình ta chăm sóc ta, dĩ nhiên ta sẽ có nhiều tiện nghi hơn, nhưng ta sẽ chẳng thể nhận lấy nổi một nửa sự chăm sóc tận tụy mà ta tìm thấy ở nơi họ.

“Hãy biết điều này nữa, rằng Lygia cũng giống như tất cả bọn họ. Giá như nàng là chị hay vợ ta đi nữa, nàng cũng chẳng thể chăm sóc ta dịu dàng hơn thế. Niềm hạnh phúc đã ngập tràn trái tim ta không chỉ một lần, bởi ta đánh giá rằng chỉ có tình yêu mới truyền cảm hứng cho sự dịu dàng nhường ấy. Hơn một lần ta nhìn thấy tình yêu trong ánh mắt, trên gương mặt nàng; và anh có tin ta không? Giữa những con người giản dị ấy trong căn phòng nghèo nàn nọ, nơi vừa là nhà bếp vừa là phòng ăn, ta đã cảm thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết. Không; nàng không hề thờ ơ với ta — và cho đến tận ngày nay ta vẫn không thể nghĩ rằng nàng từng thờ ơ. Thế nhưng chính Lygia đó lại rời khỏi căn nhà của Miriam trong bí mật vì nguyên do là ta. Bây giờ ta ngồi suốt cả ngày với đầu tựa trên hai bàn tay và suy nghĩ, Tại sao nàng lại làm thế? Ta đã viết cho anh rằng ta từng tình nguyện đưa nàng trở về với Aulus chứ? Đúng vậy, nàng tuyên bố điều đó là bất khả thi ở thời điểm hiện tại, bởi Aulus và Pomponia đã đi Sicily, và vì tin tức về sự trở lại của nàng truyền từ nhà này sang nhà khác qua miệng đám nô lệ sẽ lọt đến tai hoàng cung Palatine, và Cæsar có thể lại cướp nàng đi khỏi Aulus. Nhưng nàng thừa biết rằng ta sẽ không truy đuổi nàng nữa; rằng ta đã từ bỏ con đường bạo lực; rằng, dẫu không thể ngừng yêu nàng hay sống thiếu nàng, ta vẫn sẽ đưa nàng bước qua cánh cửa được kết hoa vào dinh thự của mình, và đặt nàng ngồi lên tấm da linh thiêng bên ngọn lửa sưởi của ta. Thế mà nàng vẫn trốn chạy! Tại sao chứ? Chẳng có gì đe dọa nàng cả. Nếu nàng không yêu ta, nàng đã có thể cự tuyệt ta rồi. Ngay trước ngày nàng trốn chạy, ta đã làm quen với một con người kỳ diệu, một kẻ nào đó tên là Phao-lô thành Tarsus, người đã nói với ta về Chúa Christ cùng giáo lý của Người, và cất lời với sức mạnh mãnh liệt đến mức từng lời của ông, dẫu ông không hề cố ý, đã thiêu rụi mọi nền tảng của xã hội chúng ta thành tro bụi. Chính con người ấy đã đến thăm ta sau khi nàng bỏ đi, và nói rằng: ‘Nếu Thiên Chúa mở mắt cho anh để nhìn thấy ánh sáng, và cất đi tấm ván che mắt anh như Người đã làm với ta, anh sẽ cảm thấy rằng nàng đã hành xử đúng đắn; và khi ấy, có lẽ anh sẽ tìm lại được nàng.’ Và giờ đây ta đang vắt óc suy nghĩ về những lời này, tựa như thể ta vừa nghe chúng phát ra từ miệng nhà tiên tri ở Delphi vậy. Ta dường như láng mang hiểu được điều gì đó. Dẫu họ yêu thương con người, những tín đồ Thiên Chúa lại là kẻ thù của lối sống chúng ta, các vị thần của chúng ta, và những tội ác của chúng ta; thế nên nàng đã trốn chạy khỏi ta, như trốn chạy một kẻ thuộc về xã hội của chúng ta, kẻ mà nàng sẽ phải sẻ chia một cuộc sống bị những người theo đạo Thiên Chúa coi là tội ác. Anh sẽ bảo rằng vì nàng có thể cự tuyệt ta, nên nàng chẳng cần phải rút lui. Nhưng nhỡ đâu nàng yêu ta thì sao? Trong trường hợp đó, nàng muốn trốn chạy khỏi tình yêu. Ngay tại ý nghĩ này, ta chỉ muốn phái đám nô lệ tỏa ra khắp mọi con hẻm ở Rome, và ra lệnh cho chúng cất tiếng kêu vang khắp các ngôi nhà rằng, ‘Hãy quay về, hỡi Lygia!’ Nhưng ta lại chẳng thể hiểu nổi tại sao nàng phải trốn chạy. Ta sẽ không ngăn cản nàng tin vào vị Chúa Christ của nàng, và chính ta sẽ dựng lên một ngọn lửa thờ phụng Người ngay giữa sảnh đường. Thêm một vị thần nữa thì có hại gì cho ta chứ? Tại sao ta lại không thể tin vào Người, — ta, kẻ vốn chẳng tin tưởng lắm vào các vị thần cổ xưa? Ta biết rõ một cách chắc chắn rằng những tín đồ Thiên Chúa không hề nói dối; và họ kể rằng Người đã sống lại từ cõi chết. Con người ta không thể sống lại từ cõi chết. Con người Phao-lô thành Tarsus đó, dẫu là một công dân La Mã, nhưng với tư cách là một người Do Thái, ông am hiểu những văn bản cổ của người Hebrew, đã nói với ta rằng sự giáng thế của Chúa Christ đã được các nhà tiên tri hứa hẹn từ hàng ngàn năm trước. Tất cả những điều đó đều là chuyện phi thường, nhưng chẳng phải sự phi thường vẫn vây quanh chúng ta ở mọi ngã đường hay sao? Người ta vẫn chưa ngừng bàn tán về Apollonius thành Tyana. Lời khẳng định của Phao-lô rằng chỉ có một vị Chúa duy nhất, chứ không phải cả một hội đồng các vị thần, nghe có vẻ rất hợp lý đối với ta. Có lẽ Seneca cũng có chung quan điểm này, và trước ông ta còn rất nhiều người khác. Chúa Christ đã sống, đã hiến mình chịu đóng đinh trên thập giá để cứu rỗi thế gian, và đã sống lại từ cõi chết. Tất cả những điều đó hoàn toàn xác thực. Do đó, ta không thấy có lý do gì để khăng khăng giữ một quan điểm ngược lại, hay tại sao ta lại không thể dựng cho Người một bệ thờ, nếu như ta sẵn sàng dựng một bệ thờ cho Serapis chẳng hạn. Thậm chí việc từ bỏ các vị thần khác cũng chẳng mấy khó khăn đối với ta, vì hiện tại chẳng có một bộ óc lý trí nào còn tin vào chúng nữa. Nhưng dường như tất cả những điều đó vẫn chưa đủ đối với những tín đồ Thiên Chúa. Tôn vinh Chúa Christ thôi là chưa đủ, người ta còn phải sống theo giáo lý của Người; và ở đây, anh đang đứng bên bờ của một đại dương mà họ bắt buộc anh phải lội qua.

“Nếu ta hứa sẽ làm thế, chính họ cũng sẽ cảm nhận được rằng lời hứa ấy chỉ là những âm thanh rỗng tuếch. Phao-lô đã nói thẳng với ta như vậy. Anh thừa biết ta yêu Lygia nhường nào, và biết rằng chẳng có điều gì là ta không thể làm vì nàng. Dẫu vậy, ngay cả theo nguyện vọng của nàng, ta cũng chẳng thể nhấc nổi núi Soracte hay Vesuvius lên đôi vai mình, hay đặt hồ Thrasymene vào lòng bàn tay, hoặc biến đôi mắt đen của mình thành màu xanh như mắt của những người Lygia. Nếu nàng muốn thế, ta có thể có ước muốn ấy, nhưng sự thay đổi đó nằm ngoài tầm kiểm soát của ta. Ta không phải là một triết gia, nhưng ta cũng chẳng đến nỗi ngu đần như có lẽ đã hơn một lần anh thấy. Giờ đây ta xin tuyên bố những điều sau: Ta không biết những tín đồ Thiên Chúa sắp đặt cuộc sống của họ ra sao, nhưng ta biết rằng nơi nào tôn giáo của họ bắt đầu, thì luật lệ La Mã kết thúc, chính Rome kết thúc, lối sống của chúng ta kết thúc, sự phân biệt giữa kẻ bị chinh phục và kẻ chinh phục, giữa giàu và nghèo, giữa chủ nhân và nô lệ chấm dứt, chính quyền chấm dứt, Cæsar chấm dứt, luật pháp và toàn bộ trật tự của thế giới đều chấm dứt; và xuất hiện thay thế cho những điều đó là Chúa Christ, cùng một lòng trắc ẩn nào đó chưa từng tồn tại trước đây, và sự tử tế, trái ngược hoàn toàn với bản năng con người cũng như bản năng La Mã của chúng ta. Sự thật là Lygia có ý nghĩa với ta hơn toàn bộ Rome và quyền bá chủ của nó; và ta sẵn sàng để xã hội này tan biến nếu có thể giữ nàng lại trong dinh thự của mình. Nhưng đó lại là chuyện khác. Sự đồng thuận về mặt lời nói không làm thỏa mãn những tín đồ Thiên Chúa; con người ta phải cảm nhận được rằng giáo lý của họ là chân lý, chứ không được phép cúng nạp bất cứ thứ gì khác trong tâm hồn mình. Thế nhưng điều đó, có các vị thần làm chứng, lại vượt quá khả năng của ta. Anh có hiểu điều đó nghĩa là gì không? Có một cái gì đó trong bản tính của ta run rẩy trước tôn giáo này; và dẫu môi ta có tụng ca nó, dẫu ta có tuân theo những giới luật của nó, thì tâm hồn và lý trí của ta vẫn sẽ lên tiếng rằng ta làm thế vì tình yêu dành cho Lygia, và ngoài nàng ra thì trên đời này chẳng có gì khiến ta ghê tởm hơn thế. Và, một điều kỳ lạ thay, Phao-lô thành Tarsus hiểu được điều này, và cả vị đạo sĩ già Peter kia nữa — người dẫu mang tất cả sự giản dị và xuất thân thấp kém nhưng lại là kẻ cao cả nhất trong số họ, và từng là môn đồ của Chúa Christ. Và anh có biết họ đang làm gì không? Họ đang cầu nguyện cho ta, và khẩn cầu một thứ gì đó mà họ gọi là ân sủng; nhưng chẳng có gì giáng xuống ta cả, ngoại trừ sự bất an, và nỗi khao khát Lygia mãnh liệt hơn.

“Ta đã viết cho thư cho anh rằng nàng đã bỏ đi trong bí mật; nhưng khi đi nàng đã để lại cho ta một cây thánh giá mà nàng tự kết từ những nhành cây hoàng dương. Khi tỉnh dậy, ta tìm thấy nó ở gần giường mình. Hiện tại ta đang giữ nó trong phòng thờ gia thần, và ta vẫn đến gần nó, dẫu chẳng thể cắt nghĩa tại sao, tựa như có một điều gì đó thần thánh ẩn chứa trong đó — nghĩa là với sự kính sợ và tôn nghiêm. Ta yêu nó vì bàn tay nàng đã kết nên nó, và ta ghét nó vì nó chia rẽ chúng ta. Có những lúc ta ngỡ rằng có thứ bùa phép nào đó trong toàn bộ câu chuyện này, và vị đạo sĩ Peter, dẫu tự nhận mình chỉ là một mục tử khiêm nhường, lại vĩ đại hơn cả Apollonius cùng tất cả những kẻ đi trước ông ta, và rằng ông đã trói buộc tất cả chúng ta — Lygia, Pomponia, và cả ta — vào trong vòng tay họ.

“Anh đã viết rằng trong bức thư trước của ta, sự bất an và nỗi buồn hiển hiện rõ rệt. Buồn rầu là điều tất yếu, bởi ta đã lại mất đi nàng một lần nữa, và bất an là vì có điều gì đó đã thay đổi trong con người ta. Ta nói thật với anh rằng, chẳng có gì phản trắc với bản tính của ta hơn tôn giáo đó, thế nhưng ta vẫn không thể nhận ra chính mình kể từ khi gặp Lygia. Đó là bùa phép, hay là tình yêu? Circe từng biến đổi thể xác con người bằng những cái chạm tay, nhưng tâm hồn ta mới là thứ bị biến đổi. Chẳng ai khác ngoài Lygia có thể làm được điều đó, hay đúng hơn là Lygia thông qua tôn giáo kỳ diệu mà nàng tôn sùng. Khi ta trở về dinh thự của mình từ chỗ những tín đồ Thiên Chúa, chẳng có ai đợi ta cả. Đám nô lệ cứ đinh ninh rằng ta đang ở Beneventum và sẽ chẳng sớm quay về; thế nên trong nhà vô cùng hỗn loạn. Ta bắt gặp đám nô lệ đang say sưa, và một bữa tiệc linh đình mà chúng tự bày ra ngay tại phòng ăn của ta. Chúng thà đối mặt với cái chết còn hơn là nhìn thấy ta, và có lẽ chúng đã chẳng hoảng sợ đến thế nếu thần chết xuất hiện. Anh biết rõ bằng một bàn tay cứng rắn nhường nào ta quản hạt ngôi nhà của mình; thế mà tất cả đến người cuối cùng đều quụp sụp xuống đầu gối, và một số kẻ ngất lịm đi vì khiếp sợ. Nhưng anh có biết ta đã hành xử ra sao không? Vào khoảnh khắc đầu tiên, ta muốn thét gọi roi vọn và sắt nung, nhưng ngay lập tức một thứ cảm giác hổ thẹn ùa đến, và anh có tin không? một thứ lòng trắc ẩn dành cho những con người khốn khổ ấy. Trong số đó có những tên nô lệ già nua mà ông nội ta, Marcus Vinicius, từng mang về từ bên bờ sông Rhine vào thời của Augustus. Ta tự giam mình một mình trong thư viện, và những suy nghĩ còn kỳ lạ hơn thế lại kéo đến trong đầu ta; ấy là, sau những gì ta đã nghe và thấy nơi những tín đồ Thiên Chúa, ta không còn xứng đáng để đối xử với đám nô lệ như cách ta từng làm bấy lâu nay nữa — rằng bọn chúng cũng là con người. Trong suốt mấy ngày liền, chúng đi lại trong nỗi sợ hãi tột cùng, đinh ninh rằng ta đang trì hoãn để nghĩ ra những hình phạt tàn khốc hơn, nhưng ta không hề trừng phạt, và ta không trừng phạt bởi vì ta không thể làm thế. Khi triệu tập chúng vào ngày thứ ba, ta nói rằng: ‘Ta tha thứ cho các ngươi; hãy cố gắng lấy sự phục vụ tận tụy để sửa chữa lỗi lầm của mình!’ Bọn chúng quỳ rạp xuống, giấu gương mặt đẫm nước mắt vào đôi tay, giơ cao đôi tay với những tiếng rên rỉ, và gọi ta là chúa thượng lẫn cha hiền; nhưng ta — thật hổ thẹn làm sao khi viết ra điều này — cũng xúc động không kém. Ta cảm thấy rằng vào khoảnh khắc ấy, ta đang nhìn vào gương mặt ngọt ngào của Lygia, và đôi mắt nàng ngấn lệ, cảm ơn ta vì hành động đó. Và, thẹn chưa kìa! Ta cảm thấy khóe môi mình cũng ẩm ướt. Anh có biết ta sẽ thú nhận với anh điều gì không? Rằng ta không thể sống thiếu nàng, rằng ta cảm thấy tồi tệ khi chỉ có một mình, rằng ta thực sự bất hạnh, và nỗi buồn của ta lớn lao hơn những gì anh có thể thừa nhận. Nhưng, đối với đám nô lệ của ta, có một điều đã thu hút sự chú ý của ta. Sự dung tha mà chúng nhận được không những không khiến chúng trở nên xấc láo, không những không làm suy yếu kỷ luật, mà chưa bao giờ nỗi sợ hãi lại có thể thúc đẩy chúng phục tùng hăng hái như lòng biết ơn. Không chỉ phục dịch, chúng dường như còn tranh nhau đoán xem ta muốn gì. Ta nhắc đến chuyện này với anh bởi vì, vào cái ngày trước khi ta rời bỏ những tín đồ Thiên Chúa, khi ta nói với Phao-lô rằng xã hội sẽ sụp đổ vì tôn giáo của ông, giống như một cái thùng không có đai nẹp, ông đã đáp lại rằng: ‘Tình yêu là chiếc đai nẹp vững chắc hơn cả nỗi sợ hãi.’ Và giờ đây ta thấy rằng trong một số trường hợp, quan điểm của ông hoàn toàn đúng đắn. Ta cũng đã kiểm chứng điều đó đối với những khách tòng phụng, những kẻ khi nghe tin ta trở về đã vội vã đến chào mừng ta. Anh biết đấy, ta chưa bao giờ keo kiệt với họ; nhưng cha ta đối xử với các khách tòng phụng một cách ngạo mạn theo nguyên tắc, và dạy ta đối xử với họ y như vậy. Thế nhưng khi nhìn thấy những tấm áo choàng sờn rách và những gương mặt đói khát của họ, ta lại có một cảm giác giống như lòng trắc ẩn. Ta ra lệnh mang thức ăn tới cho họ, và ngoài ra còn trò chuyện cùng họ — gọi tên một số người, hỏi han một số người về vợ con họ — và một lần nữa trước mắt ta lại xuất hiện những giọt nước mắt; một lần nữa ta lại có cảm giác như Lygia đang nhìn thấy những gì ta đang làm, rằng nàng đang ngợi khen và cảm thấy vô cùng thích thú. Phải chăng tâm trí ta đang bắt đầu u mê, hay tình yêu đang làm rối tung cảm xúc của ta lên? Ta không thể nói được. Nhưng có một điều ta biết rõ: ta luôn có cảm giác nàng đang dõi theo mình từ đằng xa, và ta sợ phải làm bất cứ điều gì có thể làm nàng phiền lòng hoặc tổn thương.

“Sự tình là thế đấy, hỡi Caius! Nhưng họ đã thay đổi tâm hồn ta, và đôi khi vì thế mà ta cảm thấy thật bình yên. Lại có những lúc ta bị dằn vặt bởi ý nghĩ ấy, bởi ta sợ rằng sự nam tính và nghị lực của mình đã bị tước đoạt; rằng có lẽ ta đã trở nên vô dụng, không chỉ đối với việc mưu tính, phán quyết, yến tiệc, mà thậm chí cả cho chiến trận. Đây đích thị là những bùa phép! Và ta đã thay đổi đến mức ta cũng phải nói với anh điều này, thứ đã lóe lên trong đầu ta khi ta nằm chịu thương tích: rằng nếu Lygia cũng giống như Nigidia, Poppæa, Crispinilla, và những người phụ nữ đã ly dị của chúng ta, nếu nàng cũng đê tiện, tàn nhẫn, và rẻ mạt như họ, ta đã chẳng yêu nàng sâu đậm như bây giờ. Nhưng chính vì ta yêu nàng vì điều đang chia rẽ chúng ta, nên anh có thể đoán được cái hỗn mang đang dâng trào trong tâm hồn ta, ta đang sống trong bóng tối nhường nào, ta mù mịt trước những con đường phía trước ra sao, và ta cách xa việc biết phải bắt đầu từ đâu biết chừng nào. Nếu cuộc đời có thể được ví như một dòng suối, thì trong dòng suối của ta, sự bất an đang tuôn chảy thay vì dòng nước. Ta sống bằng niềm hy vọng rằng có lẽ mình sẽ được gặp nàng, và đôi khi ta ngỡ rằng mình chắc chắn sẽ gặp lại nàng. Nhưng điều gì sẽ xảy ra với ta trong một hay hai năm nữa, ta không hề hay biết, và chẳng thể nào đoán định. Ta sẽ không rời khỏi Rome. Ta không thể chịu đựng nổi hội đồng của bè lũ Augustan; và hơn thế nữa, niềm an ủi duy nhất trong nỗi buồn và sự bất an của ta chính là ý nghĩ rằng ta đang ở gần Lygia, rằng thông qua y sư Glaucus, người đã hứa đến thăm ta, hoặc thông qua Phao-lô thành Tarsus, đôi khi ta có thể biết được đôi chút tin tức về nàng. Không; ta sẽ chẳng rời khỏi Rome đâu, dẫu các anh có trao cho ta quyền thống trị Ai Cập đi chăng nữa. Anh cũng nên biết rằng, ta đã ra lệnh cho nhà điêu khắc tạc một tấm bia đá cho Gulo, kẻ mà ta đã hạ sát trong cơn giận dữ. Quá muộn màng ta mới nhận ra rằng lão từng ẵm bồng ta trên tay, và là người đầu tiên dạy ta cách giương cung đặt tên. Ta chẳng hiểu tại sao ký ức về lão lại trỗi dậy trong ta với đầy nỗi buồn và sự dằn vặt. Nếu những điều ta viết khiến anh kinh ngạc, ta xin đáp lại rằng nó cũng khiến ta kinh ngạc chẳng kém, nhưng những điều ta viết đều là sự thật thuần túy. — Chúc bảo trọng.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.