Quo Vadis: Chuyện Thời Nero

Lượt đọc: 179 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14

❊ ❊ ❊

Suốt nhiều ngày sau cuộc gặp gỡ đó, Chilo hoàn toàn biệt tích. Về phần Vinicius, từ khi hay tin từ Acte rằng Lygia yêu chàng, sự khao khát tìm kiếm nàng lại tăng lên gấp bội, khiến chàng phải tự thân vào cuộc. Chàng vừa không muốn, lại vừa chẳng thể cậy nhờ Xê-da – người lúc bấy giờ đang hoảng sợ tột cùng vì cơn bạo bệnh của tiểu công chúa Augusta.

Những buổi tế lễ trong các đền thờ chẳng mang lại kết quả, lời cầu nguyện cùng vật phẩm dâng hiến cũng vô ích, cả y thuật của các ngự y lẫn mọi thứ bùa chú mà họ cùng đường quay sang cầu cứu đều bất thành. Chỉ trong vòng một tuần, đứa trẻ qua đời. Nỗi tang tóc bao trùm triều đình và cả thành Rome. Xê-da, kẻ từng điên cuồng vì sung sướng khi công chúa chào đời, giờ đây lại phát cuồng vì tuyệt vọng. Hắn giam mình trong cung điện, tuyệt thực suốt hai ngày; và dẫu chốn hoàng cung đang lúc nhộn nhịp nghị sĩ cùng giới quý tộc Augustian đổ xô đến bày tỏ niềm tiếc thương lẫn sự đồng cảm, hắn vẫn kiên quyết đóng cửa từ chối tiếp kiến tất cả. Viện Nguyên lão nhóm họp trong một phiên họp đặc biệt, tại đó đứa trẻ đã khuất được tôn phong là nữ thần. Người ta quyết định sẽ lập cho tiểu công chúa một ngôi đền và cắt cử hẳn một tư tế riêng để phụng sự. Những buổi tế lễ mới được tổ chức tại các đền thờ khác để tưởng nhớ người đã khuất; những bức tượng của nàng được đúc bằng kim loại quý; và tang lễ của nàng trở thành một đại lễ vô cùng long trọng, nơi dân chúng không khỏi kinh ngạc trước những biểu hiện đau thương không kìm nén nổi của Xê-da. Họ khóc cùng hắn, giơ tay chờ nhận ban ơn, và hơn hết là mải mê thưởng thức một khung cảnh ngoạn mục chưa từng có trong lịch sử.

Cái chết ấy khiến Petronius cảm thấy bất an. Cả thành Rome đều biết Poppæa đổ tội đó cho bùa phép. Các ngự y, nhờ vậy mà có cái cớ để chối bỏ sự bất lực của mình, liền hùa theo nàng; tầng lớp tư tế với những buổi lễ tế vô nghiệm cũng làm thế, cùng với đám thuật sĩ đang run lẩy bẩy vì sợ mất mạng, và cả người dân nữa. Giờ đây, Petronius lại thấy mừng vì Lygia đã trốn thoát; bởi hắn không muốn điều ác giáng xuống đầu Aulus và Pomponia, đồng thời hắn cũng muốn bảo toàn cho chính mình lẫn Vinicius. Thế nên, khi cây tùng trồng trước đệm Palatine như một dấu hiệu tang tóc được dỡ bỏ, hắn liền đến tham dự buổi tiếp kiến dành cho các nghị sĩ và giới Augustian để dò xem Nero đã tin đến mức nào những lời đồn thổi về bùa ngải, từ đó tìm cách hóa giải những hậu quả tai hại có thể phát sinh từ niềm tin mù quáng ấy.

Hiểu rõ tính cách Nero, hắn thầm nghĩ rằng dẫu bạo chúa chẳng tin vào tà thuật, hắn vẫn sẽ vờ như tin để khuếch đại nỗi đau của chính mình, nhằm tìm kiếm một kẻ chịu tội thay, qua đó dập tắt những hoài nghi rằng các vị thần đang bắt đầu trừng phạt hắn vì những tội ác đã gây ra. Petronius vốn không tin Xê-da có thể yêu thương thật lòng và sâu sắc dẫu chỉ là đứa con ruột của mình; nhưng hắn chắc chắn rằng, dẫu có yêu thương say đắm đi chăng nữa, Nero cũng sẽ làm quá lên về nỗi đau ấy. Và hắn đã đoán không sai. Nero lắng nghe những lời chia buồn từ các hiệp sĩ và nghị sĩ với vẻ mặt lạnh như đá cùng ánh mắt đờ đẫn. Rõ ràng là, ngay cả khi đang đau đớn, hắn vẫn đang bận tâm đến một điều khác: Rằng nỗi đau của mình sẽ để lại ấn tượng gì trong mắt kẻ khác? Hắn đang đóng vai một nàng Niobe, diễn lại vở kịch làm cha đau khổ chẳng khác nào một diễn viên trên sân khấu. Hắn thậm chí chẳng đủ sức kiên nhẫn để chìm đắm trong nỗi đau câm lặng và tưởng chừng đã hóa đá của mình, bởi có lúc hắn làm bộ giơ tay định vốc bụi đất rắc lên đầu, có lúc lại rên rỉ thảm thiết. Nhưng vừa thoáng thấy Petronius, hắn liền chồm dậy, cất giọng bi thảm để tất cả những kẻ có mặt đều nghe rõ,—“Eheu! Chính ngươi là kẻ đã gây ra cái chết của con bé! Nhính lời khuyên của ngươi mà ác linh đã lọt vào chốn này – thứ ác linh chỉ với một cái nhìn đã rút cạn sự sống khỏi lồng ngực nó! Ôi khốn khổ cho ta! Phải chi đôi mắt ta chưa từng nhìn thấy ánh mặt trời Helios! Ôi khốn khổ cho ta! Eheu! Eheu!”

Rồi cất cao giọng hơn nữa, hắn tru lên trong nỗi tuyệt vọng; nhưng ngay khoảnh khắc ấy, Petronius quyết định đánh cược tất cả vào một ván bài duy nhất. Vươn tay ra, hắn chộp lấy chiếc khăn lụa mà Nero vẫn thường quàng quanh cổ, đặt thẳng lên miệng vị Hoàng đế và cất giọng trang nghiêm,—“Tâu Bệ hạ, Rome và cả thế giới này đang tê dại vì đau đớn; nhưng xin Người hãy giữ lại giọng hát ấy cho chúng thần!”

Những kẻ có mặt đều chết lặng; bản thân Nero cũng ngẩn người ra trong giây lát. Chỉ riêng Petronius vẫn điềm nhiên; hắn quá rõ những gì mình đang làm. Hơn thế nữa, hắn còn nhớ rằng Terpnos và Diodorus đã có lệnh trực tiếp là phải bịt miệng Xê-da bất cứ khi nào hắn cất giọng quá cao và tự đặt mình vào vòng nguy hiểm.

“Tâu Xê-da!” hắn tiếp lời với vẻ mặt đầy nghiêm nghị và xót xa, “chúng ta đã gánh chịu một mất mát không gì bù đắp nổi; xin Người hãy giữ lại cho chúng thần báu vật duy nhất là giọng ca ấy!”

Khuôn mặt Nero giật giật, và một lát sau, những giọt nước mắt tuôn rơi từ khóe mắt hắn. Đột ngột, hắn đặt hai tay lên vai Petronius, gục đầu vào ngực hắn và bắt đầu nghẹn ngào lặp đi lặp lại,

“Chỉ có ngươi trong thiên hạ nghĩ đến điều này – chỉ có mình ngươi, hỡi Petronius! Chỉ có một mình ngươi thôi!”

Tigellinus tức đến xanh cả mặt; nhưng Petronius vẫn điềm tĩnh tiếp tục,—

“Hãy đến Antium! Nơi đó là chốn con bé chào đời, nơi niềm vui từng tuôn chảy trong ngươi, và cũng nơi ấy sẽ mang lại sự xoa dịu cho ngươi. Hãy để gió biển thanh lọc cổ họng thần thánh của ngươi; hãy để lồng ngực ngươi hít thở bầu không khí ẩm mặn của sóng nước. Chúng thần, những kẻ tận tụy của ngươi, sẽ theo chân ngươi đến bất cứ đâu; và khi chúng ta xoa dịu nỗi đau của ngươi bằng tình bằng hữu, ngươi sẽ lại ủy an chúng ta bằng tiếng hát.”

“Đúng vậy!” Nero buồn bã đáp, “Ta sẽ viết một khúc ca ngợi nó và tự tay phổ nhạc.”

“Và rồi Người sẽ tìm thấy ánh mặt trời ấm áp ở Baiæ.”

“Và sau đó – sự lãng quên nơi đất nước Hy Lạp.”

“Nơi chôn nhau cắt rốn của thi ca và âm nhạc.”

Và tâm trạng u ám, lạnh lẽo của Nero dần tan biến, tựa như những đám mây đang che khuất mặt trời từ từ trôi đi; để rồi sau đó, một cuộc trò chuyện vang lên, dẫu vẫn đượm buồn nhưng đã tràn ngập những kế hoạch cho tương lai – nào là chuyện du ngoạn, những buổi biểu diễn nghệ thuật, và thậm chí cả những nghi thức tiếp đón được yêu cầu cho chuyến thăm sắp tới của Tiridates, Vua xứ Armenia. Tigellinus quả thực có thử lái câu chuyện quay lại vấn đề bùa phép; nhưng Petronius, lúc này đã nắm chắc phần thắng trong tay, liền trực tiếp đáp trả thách thức đó.

“Tigellinus,” hắn nói, “ngươi nghĩ rằng bùa chú có thể làm hại được các vị thần ư?”

“Chính Xê-da đã nhắc đến chúng,” viên cận thần cãi.

“Đó là nỗi đau đang thốt lên, chứ không phải Xê-da; còn ngươi – ý kiến của ngươi về chuyện này thế nào?”

“Các vị thần quá vĩ đại nên không thể bị chi phối bởi bùa ngải.”

“Vậy ra ngươi muốn phủ nhận thần tính của Xê-da và gia tộc ngài sao?”

“Peractum est!” Eprius Marcellus lầm bầm khi đứng gần đó, lặp lại câu khẩu hiệu mà dân chúng vẫn thường hô vang trong đấu trường mỗi khi một võ sĩ gục ngã trước đòn quyết định chẳng cần đến nhát kiếm thứ hai.

Tigellinus nuốt cục giận vào trong. Giữa hắn và Petronius từ lâu đã tồn tại một cuộc cạnh tranh ngầm để chiếm lấyân sủng của Nero. Tigellinus có lợi thế hơn ở chỗ Nero cư xử ít giữ kẽ trước mặt hắn, hay nói đúng hơn là chẳng màng phép tắc nào; bù lại, cho đến nay Petronius luôn đánh bại Tigellinus trong mọi cuộc đối đầu bằng sự châm biếm và trí tuệ sắc sảo.

Và lần này cũng vậy. Tigellinus đành ngậm tăm, chỉ âm thầm ghi khắc vào trí nhớ những nghị sĩ và hiệp sĩ vừa nãy – khi Petronius lui về phía góc phòng – đã lập tức vây quanh hắn, đinh ninh rằng sau sự kiện này, Petronius chắc chắn sẽ trở thành sủng thần số một của Xê-da.

Rời khỏi cung điện, Petronius lập tức tìm đến Vinicius và kể lại cuộc đụng độ của mình với Xê-da cùng Tigellinus.

“Không những ta đã gạt bỏ được mối hiểm họa,” hắn nói, “cho Aulus Plautius, Pomponia, và cả chúng ta, mà còn cho cả Lygia nữa. Bọn chúng sẽ chẳng thèm tìm nàng đâu, cốt vì ta đã thuyết phục được con khỉ Râu Đồng chịu đi Antium, rồi từ đó tới Naples hoặc Baiæ, và chắc chắn hắn sẽ đi. Ta biết rõ hắn vẫn chưa dám xuất hiện công khai trước công chúng tại các nhà hát; và ta cũng thừa biết từ lâu rằng hắn đang ấp ủ dự định đó tại Naples. Hơn nữa, hắn đang mơ về Hy Lạp, nơi hắn muốn cất tiếng hát ở mọi thành phố lớn rồi tiến vào Rome trong khúc khải hoàn, mang trên đầu tất cả vòng nguyệt quế mà đám ‘Græculi’ sẽ dâng hiến. Trong khoảng thời gian đó, chúng ta sẽ có thể thảnh thơi tìm kiếm Lygia và cất giấu nàng ở một nơi an toàn. Nhưng mà, nhà triết học cao quý của chúng ta vẫn chưa ghé lại đây sao?”

“Nhà triết học cao quý của ngươi chỉ là một tên bịp bợm. Không; lão chẳng thèm bén mảng đến đây, và sẽ chẳng bao giờ quay lại nữa đâu!”

“Nhưng ta lại đánh giá cao sự khôn ngoan của lão, dẫu chưa chắc đã tin vào phẩm giá. Lão đã rút tiền từ túi ngươi được một vố rồi, và sẽ còn quay lại để vơ vét thêm lần nữa đấy.”

“Cứ để lão đề phòng cái mạng của mình thì hơn.”

“Đừng vội ra tay; hãy kiên nhẫn chờ cho đến khi ngươi tận mắt chứng kiến trò lừa đảo của lão. Đừng đưa thêm tiền mặt, thay vào đó hãy hứa thưởng hậu hĩnh nếu lão mang lại tin tức chính xác. Thế còn ngươi, ngươi đã tự mình tiến hành việc gì chưa?”

“Hai tên gia nô được phóng thích của ta là Nymphidius và Demas đang lùng sục khắp nơi cùng sáu mươi tay sai. Ta đã hứa trả tự do cho bất cứ kẻ nào tìm ra nàng. Ngoài ra, ta còn phái người túc trực trên tất cả các ngả đường dẫn ra khỏi Rome, dò hỏi ở mọi quán trọ dọc đường về người con gái xứ Lygia. Chính ta cũng ngày đêm lặn lội khắp thành phố, hy vọng vào một cơ hội tình cờ gặp mặt.”

“Hễ có tin tức gì, hãy báo cho ta ngay, vì ta phải đi Antium đây.”

“Ta sẽ làm thế.”

“Và nếu có buổi sáng nào thức dậy mà ngươi tự nhủ rằng, ‘Thật chẳng đáng để hành hạ bản thân vì một người con gái, và chuốc lấy lắm phiền toái nhường này,’ thì hãy đến Antium. Ở đó chẳng thiếu phụ nữ hay những chốn vui chơi giải trí đâu.”

Vinicius bắt đầu bước đi những bước dài dồn dập. Petronius lẳng lặng quan sát chàng một lúc, rồi cất lời,—“Hãy trả lời ta thật chân thành, không phải bằng cái đầu nóng của một kẻ đang mê muội tự chuốc lấy bấn loạn, mà bằng trí tuệ của một người đàn ông tỉnh táo đang đối đáp với bạn mình: Ngươi thực sự vẫn còn tơ tưởng đến con bé Lygia đó lắm sao?”

Vinicius khựng lại trong giây lát, nhìn Petronius như thể chưa từng quen biết; rồi chàng lại tiếp tục sải bước. Rõ ràng là chàng đang kìm nén một cơn bộc phát. Cuối cùng, sự bất lực, niềm xót xa, cơn phẫn nộ cùng nỗi nhớ nhung khôn nguôi đã khiến hai giọt nước mắt trào ra khóe mắt, lay động Petronius mạnh mẽ hơn cả những lời lẽ hùng hồn nhất.

Đoạn, trầm ngâm trong chốc lát, chàng nói,—“Kẻ gánh vác thế giới trên vai chẳng phải Atlas, mà là phụ nữ; và đôi khi họ đùa giỡn với nó tựa như một trái bóng.”

“Đúng vậy,” Petronius đáp.

Rồi họ bắt đầu chào tạm biệt nhau. Nhưng đúng lúc đó, một người hầu báo tin rằng Chilo Chilonides đang đợi ở tiền sảnh và khẩn khoản xin được yết kiến chủ nhân.

Vinicius liền ra lệnh cho phép lão vào ngay, còn Petronius thì bảo,—“Ha! Ta đã nói rồi chứ gì? Vì Hercules! Hãy giữ cho bình tĩnh, bằng không lão sẽ sai khiến ngươi đấy.”

“Xin kính chào vị bách hộ khả kính của quân đội và ngài đây,” Chilo vừa bước vào vừa cất giọng. “Mong rằng hạnh phúc của các ngài cũng sánh ngang với danh tiếng, và danh tiếng ấy sẽ vang dội khắp thế gian từ những cột trụ của Hercules cho đến tận biên thùy xứ Arsacidæ.”

“Chào ngươi, hỡi nhà lập pháp của đức hạnh và trí tuệ,” Petronius đáp lễ.

Nhưng Vinicius với vẻ mặt cố tỏ ra bình thản liền gặng hỏi, “Ngươi mang tin gì đến thế?”

“Lần trước khi đến, ta mang lại cho ngài niềm hy vọng, thưa ngài; còn lần này, ta mang đến sự chắc chắn rằng nàng thiếu nữ kia sẽ được tìm thấy.”

“Nghĩa là ngươi vẫn chưa tìm ra nàng chứ gì?”

“Đúng vậy, thưa ngài; nhưng ta đã tìm ra ý nghĩa của ký hiệu mà nàng từng vẽ. Ta biết rõ những kẻ đã giải cứu nàng là ai, và ta biết phải tìm nàng trong số những tín đồ của vị thần nào.”

Vinicius toan chồm dậy khỏi chiếc ghế đang ngồi; nhưng Petronius đặt tay lên vai chàng, quay sang Chilo và cất lệnh,—“Nói tiếp đi!”

“Ngài có chắc chắn hoàn toàn rằng con bé đã vẽ hình một con cá trên cát không?”

“Đúng thế,” Vinicius bực dọc thốt lên.

“Vậy thì nàng là một tín đồ Cơ Đốc, và chính những kẻ theo đạo Cơ Đốc đã cướp nàng đi.” Cả căn phòng chìm vào im lặng trong giây lát.

“Lắng nghe đây, Chilo,” Petronius lên tiếng. “Bà con của ta đã hứa dành sẵn cho ngươi một khoản tiền khá lớn nếu tìm được cô gái, nhưng đồng thời cũng chuẩn bị sẵn một số lượng roi da không kém phần long trọng nếu ngươi dám lừa gạt ngài ấy. Trong trường hợp đầu, ngươi có thể mua được không chỉ một mà tận ba tên chép sử; còn trong trường hợp sau, triết lý của cả bảy hiền triết cộng lại, cộng thêm cả cái triết lý của riêng ngươi nữa, cũng chẳng đủ để mua nổi chút thuốc xức mỡ mà xoa dịu cái lưng đâu.”

“Nàng thiếu nữ ấy là một tín đồ Cơ Đốc, thưa ngài,” tên người Hy Lạp khăng khăng kêu lên.

“Khoan đã, Chilo. Ngươi không phải là kẻ đần độn. Chúng ta đều biết Junia và Calvia Crispinilla từng buộc tội Pomponia Græcina vì dám theo đuổi thứ mê tín dị đoan của đạo Cơ Đốc; nhưng ta cũng thừa biết một hội đồng gia đình đã tuyên án vô tội cho bà ấy. Ngươi lại muốn khơi lại chuyện này sao? Ngươi muốn thuyết phục chúng ta rằng Pomponia, và cùng với bà ấy là Lygia, lại có thể thuộc về đám kẻ thù của loài người, bọn đầu độc giếng nước và mạch ngầm, lũ thờ đầu lừa, những kẻ sát hại trẻ thơ và buông thả trong những trụy lạc dơ bẩn hay sao? Hãy suy nghĩ cho kỹ đi, Chilo, liệu cái luận điểm mà ngươi đang mang ra bày biện ở đây có quay đầu quật lại chính tấm lưng của ngươi không đấy?”

Chilo dang rộng hai tay ra hiệu rằng đó chẳng phải lỗi của mình, rồi cất giọng phân bua,—“Thưa ngài, xin ngài hãy thốt lên câu này bằng tiếng Hy Lạp: Jesus Christ, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế.” [Iesous Christos, Theou Uios, Soter.]

“Được rồi, ta đã nói thế đấy. Thì sao nào?”

“Bây giờ xin ngài hãy lấy chữ cái đầu tiên của mỗi từ đó và ghép lại thành một từ duy nhất.”

“Cá!” Petronius kinh ngạc thốt lên. [Ichthus, tiếng Hy Lạp nghĩa là “con cá”.]

“Đấy, chính vì thế mà con cá đã trở thành mật khẩu nhận diện của tín đồ Cơ Đốc,” Chilo tự đắc đáp lời.

Một khoảng lặng lại bao trùm. Nhưng những lập luận của gã người Hy Lạp quả thực mang sức nặng khiến hai người bạn không khỏi ngỡ ngàng.

“Vinicius, ngươi có nhầm lẫn gì không?” Petronius quay sang hỏi. “Lực sĩ Lygia thực sự đã vẽ hình một con cá cho ngươi xem chứ?”

“Vì tất cả các vị thần dưới âm phủ, muốn phát điên lên mất thôi!” chàng thanh niên kích động kêu lên. “Nếu con bé vẽ cho ta một con chim, ta đã nói là con chim rồi.”

“Thế nên nàng đích thị là một tín đồ Cơ Đốc,” Chilo lặp lại khẳng định.

“Điều này có nghĩa là,” Petronius lẩm bẩm, “Pomponia và Lygia đi đầu độc giếng nước, sát hại trẻ con bắt được trên đường phố, và đắm chìm trong trụy lạc ư? Thật là nhảm nhí! Ngươi đấy, Vinicius, đã ở nhà họ một thời gian, còn ta cũng từng ghé qua dăm bữa; nhưng ta hiểu rõ Pomponia và Aulus đến mức nào, thậm chí ta cũng đủ hiểu Lygia để biết đó là những điều hoang đường và ngu ngốc! Nếu con cá thực sự là biểu tượng của đạo Cơ Đốc – điều mà khó lòng phủ nhận, và nếu những người phụ nữ ấy theo đạo Cơ Đốc, thì, nhân danh Proserpina! rõ ràng là tín đồ Cơ Đốc chẳng hề tệ hại như những gì thiên hạ vẫn tưởng tượng.”

“Ngài nói chuyện hệt như Socrates vậy, thưa ngài,” Chilo đáp lời. “Đã có ai từng thực sự tìm hiểu về tín đồ Cơ Đốc chưa? Ai đã từng thấu thấu triệt giáo lý của họ? Ba năm trước, khi ta đang trên đường từ Naples về Rome (ôi, sao ta lại không ở lại Naples cơ chứ!), một người đàn ông tên là Glaucus đã đồng hành cùng ta, kẻ mà thiên hạ đồn đại là một tín đồ Cơ Đốc; vậy mà bất chấp điều đó, ta vẫn tự mình chứng thực rằng lão là một con người lương thiện và đức hạnh.”

“Chẳng lẽ chính từ con người đức hạnh đó mà ngươi đã học được ý nghĩa của biểu tượng con cá này sao?”

“Đáng tiếc thay, thưa ngài, dọc đường tại một quán trọ nọ, có kẻ đã đâm một nhát dao vào vị lão ông đáng kính ấy; còn vợ con lão thì bị bọn buôn nô lệ bắt đi. Ta đã mất đi hai ngón tay này trong lúc cố gắng bảo vệ họ; và vì người ta đồn rằng trong cộng đồng Cơ Đốc chẳng thiếu những phép lạ, ta vẫn hy vọng hai ngón tay ấy sẽ mọc trở lại trên bàn tay mình.”

“Sao cơ? Ngươi đã cải đạo sang Cơ Đốc giáo rồi đấy phỏng?”

“Kể từ ngày hôm qua, thưa ngài, chính là từ ngày hôm qua! Hình con cá đã biến ta thành một tín đồ Cơ Đốc. Nhưng ngài hãy xem sức mạnh ẩn chứa trong đó kìa. Chỉ trong vài ngày tới, ta sẽ là kẻ cuồng nhiệt nhất trong số những kẻ cuồng nhiệt, để họ dung nạp ta vào mọi bí mật của mình; và một khi đã bước vào vòng bí mật ấy, ta sẽ biết chính xác nơi nàng thiếu nữ đang ẩn náu. Biết đâu khi ấy, đức tin Cơ Đốc của ta lại đem lại lợi lộc nhiều hơn cả triết học của ta nữa. Ta cũng đã thề với thần Mercury rằng, nếu ngài giúp ta tìm thấy cô gái, ta sẽ hiến tế cho ngài hai con bò cái có cùng vóc dáng lẫn màu sắc và thếp vàng sừng của chúng.”

“Thế ra đức tin Cơ Đốc từ ngày hôm qua của ngươi cùng triết học lâu năm của ngươi lại cho phép ngươi thờ phụng cả thần Mercury nữa cơ à?”

“Ta luôn tin vào những gì ta cần phải tin; đó chính là triết lý của ta, thứ triết lý hẳn phải làm hài lòng thần Mercury chứ lị. Đáng tiếc thay (hai vị tôn kính thừa biết ngA ngài là một vị thần đa nghi nhường nào), ngài chẳng buồn tin tưởng cả lời hứa của những triết học gia vô tội, và thích nhận bò cái dâng trước hơn; khổ nỗi khoản chi phí ấy lại quá lớn. Đâu phải ai cũng giàu có như Seneca, và ta thì chẳng kham nổi khoản hiến tế ấy; ngộ nhỡ ngài Vinicius đây có nhã ý muốn trợ giúp đôi chút, tính trên khoản tiền thưởng đã hứa—”

“Một đồng obolus cũng không, hỡi Chilo!” Petronius ngắt lời, “chẳng có đồng obolus nào hết. Sự hào phóng của Vinicius sẽ vượt cả mong đợi của ngươi, nhưng chỉ khi nào Lygia được tìm thấy – nghĩa là khi ngươi chỉ ra được chỗ ẩn nấp của nàng. Thần Mercury đành phải tin tưởng ngươi vụ hai con bò cái vậy, dẫu ta chẳng có gì ngạc nhiên khi ngài không muốn làm thế; qua chuyện này ta mới thấy được sự sắc sảo của ngài ta.”

“Xin hãy lắng nghe ta, hai vị tôn kính. Phát hiện mà ta đạt được là vô cùng vĩ đại; bởi dẫu ta chưa tìm ra thiếu nữ, ta đã tìm ra con đường mà mình buộc phải đi để kiếm tìm. Các ngài đã phái gia nô và nô lệ đi khắp thành phố lẫn vùng phụ cận, có ai mang về cho các ngài chút manh mối nào chưa? Không! Chỉ có một mình ta là tìm ra được. Ta còn nói cho các ngài biết điều này nữa. Trong số đám nô lệ của các ngài rất có thể đang ẩn giấy những tín đồ Cơ Đốc mà các ngài chẳng hề hay biết, bởi thứ tà giáo này đã lan rộng khắp nơi; và bọn chúng, thay vì giúp đỡ, sẽ bán đứng các ngài. Thật bất tiện khi chúng nhìn thấy ta có mặt ở đây; vì thế, xin ngài Petronius cao quý hãy dặn dò Eunice giữ kín miệng; và ngài Vinicius cao quý cũng hãy tung tin rằng ta đang bán cho ngài một loại thuốc xức mỡ giúp ngựa chiến giành chiến thắng ở đấu trường Circus. Chỉ một mình ta sẽ lùng sục và đơn độc tìm ra những kẻ trốn chạy; các ngài hãy cứ tin tưởng ta, và hãy nhớ rằng bất cứ khoản tiền ứng trước nào ta nhận được cũng sẽ là sự khích lệ lớn lao, bởi ta sẽ luôn hy vọng vào những điều lớn hơn và cảm thấy chắc chắn rằng phần thưởng đã hứa sẽ không bao giờ tuột mất. À phải rồi! Dù là một triết gia, ta khinh bỉ tiền bạc – dẫu cho cả Seneca, Musonius hay Cornutus chẳng ai khinh bỉ nó cả, dù họ chẳng hề mất ngón tay nào vì bảo vệ người khác và còn tự viết sách lưu danh hậu thế. Nhưng gác lại chuyện mua nô lệ mà ta đang dự tính, gác lại cả thần Mercury với lời hứa dâng bò – mà các ngài thừa biết súc vật thời nay đắt đỏ nhường nào – thì bản thân công cuộc tìm kiếm cũng ngốn vô số chi phí rồi. Xin các ngài hãy kiên nhẫn lắng nghe ta. Chà, suốt mấy ngày qua đôi chân ta đã rớm máu vì đi bộ không ngừng nghỉ. Ta đã lê la khắp các tửu quán để trò chuyện với thiên hạ, từ tiệm bánh, hàng thịt, chỗ bán dầu ô-liV cho đến tận những phường đánh cá. Ta đã sục sạo qua từng con đường góc phố; đã đặt chân đến cả những hang ổ của đám nô lệ trốn chạy; ta đã thua sạch gần một trăm đồng ases khi chơi trò mora; ta đã lân la đến các tiệm giặt là, nhà phơi phóng, những bếp ăn bình dân; ta đã gặp gỡ đám phu xe lẫn thợ chạm khắc; ta đã tiếp xúc với những kẻ chữa bệnh bàng quang và chuyên nhổ răng; ta nói chuyện với cả người bán vả khô; ta đã mò ra tận nghĩa địa; và các ngài có biết để làm gì không? Chính là vì mục đích này: Để vẽ phác hình con cá ở khắp mọi nơi, nhìn thẳng vào mắt mọi người và nghe xem họ bàn tán gì về ký hiệu đó. Suốt một thời gian dài ta chẳng thu được gì, cho đến khi cuối cùng ta bắt gặp một lão nô lệ bên vòi nước công cộng. Lão đang múc nước bằng gàu và khóc nức nở. Đến gần, ta ân cần hỏi nguyên nhân dòng lệ. Khi cả hai cùng ngồi xuống những bậc thềm bên vòi nước, lão thổ lộ rằng suốt cuộc đời mình, lão đã dành dụm từng đồng sestertium một để chuộc lại đứa con trai yêu quý; nhưng chủ nhân của lão, một kẻ tên là Pansa, sau khi nhận đủ số tiền liền nuốt lời, quyết giữ lại người con làm nô lệ. ‘Thế nên ta mới khóc,’ lão già ngậm ngùi nói, ‘bởi dẫu ta cứ tự nhủ rằng hãy để ý chí của Chúa được thực hiện, kẻ tội đồ nghèo hèn là ta đây vẫn chẳng tài nào kìm được nước mắt.’ Ngay lúc đó, tựa như bị một thứ linh tính mách bảo, ta nhúng ngón tay xuống nước và vẽ cho lão hình một con cá. Lão liền đáp lại, ‘Niềm hy vọng của ta cũng đặt nơi Chúa Kitô.’ Ta bèn gặng hỏi, ‘Có phải ngươi vừa nhận ra ta qua ký hiệu đó không?’ ‘Phải,’ lão đáp; ‘và bình an ở cùng ngươi.’ Ta liền khéo léo gặng hỏi thêm, và người lão già lương thiện ấy đã kể cho ta nghe tuốt tuột. Tự bản thân chủ nhân của lão – gã Pansa kia – cũng là một nô lệ được phóng thích của đại gia đình Pansa; gã chuyên chở đá theo dòng Tiber về Rome, nơi lũ nô lệ và nhân công thuê mướn sẽ dỡ chúng khỏi thuyền rồi gác đêm chuyển đến các công trình xây dựng để không làm cản trở giao thông ban ngày. Rất nhiều tín đồ Cơ Đốc làm việc trong số phu phen ấy, và con trai lão cũng là một trong số đó; vì công việc quá sức chịu đựng, lão mới muốn chuộc con. Nhưng Pansa lại giở trò tham lam, giữ lại cả tiền lẫn người con. Kể đến đây, lão lại sụt sùi khóc; và ta cũng hòa dòng lệ cùng lão – nước mắt vốn rất dễ trào ra từ một trái tim nhân hậu như ta, chưa kể đôi chân đang nhức nhối vì đi lại quá nhiều. Ta bắt đầu than thở rằng vì mới từ Naples đến đây dã mấy ngày, ta chẳng quen biết ai trong đạo và chẳng hay các tín đồ thường tụ tập cầu nguyện ở chốn nào. Lão tỏ vẻ ngạc nhiên vì tín đồ Cơ Đốc ở Naples lại chẳng cấp cho ta bức thư giới thiệu nào khi tới Rome; nhưng ta giải thích rằng những bức thư ấy đã bị cướp mất dọc đường. Thế rồi lão dặn ta hãy đến bên bờ sông vào ban đêm, lão sẽ giới thiệu cho ta những anh em sẵn sàng dẫn đường đến các nhà nguyện và gặp gỡ những trưởng lão đang cai quản cộng đồng Cơ Đốc. Nghe xong, ta mừng rỡ đến mức móc hầu bao trao ngay số tiền cần thiết để chuộc con trai lão, với niềm hy vọng rằng ngài Vinicius hào phóng sẽ hoàn trả lại cho ta gấp đôi.”

“Chilo,” Petronius ngắt lời, “trong câu chuyện của ngươi, sự dối trá nổi lềnh bềnh trên bề mặt sự thật, hệt như dầu nổi trên mặt nước. Ngươi đã mang về những thông tin quan trọng; ta không phủ nhận điều đó. Thậm chí ta còn khẳng định rằng một bước tiến lớn đã được thực hiện trong việc tìm kiếm Lygia; nhưng đừng có ngụy trang tin tức của ngươi bằng những lời bị đặt. Kẻ già cả đã cho ngươi biết tín đồ Cơ Đốc nhận diện nhau qua hình vẽ con cá ấy tên là gì?”

“Euricius. Một lão già nghèo khổ và đáng thương! Lão gợi cho ta nhớ đến Glaucus – kẻ mà ta từng xả thân bảo vệ khỏi bọn sát nhân, và đó chính là điều khiến ta chạnh lòng hơn cả.”

“Ta tin là ngươi đã tìm ra lão ta, và sẽ biết cách tận dụng mối quan hệ đó; nhưng ngươi chẳng hề cho lão một đồng nào cả. Ngươi không hề bố thí cho lão dù chỉ một đồng as; ngươi hiểu ý ta chứ? Ngươi chẳng mất một xu nào hết.”

“Nhưng ta đã giúp lão nhấc gàu nước, và ta đã nói về đứa con trai của lão bằng tất cả sự đồng cảm sâu sắc nhất. Vâng, thưa ngài, có điều gì qua mắt được sự sắc sảo của Petronius cơ chứ? Thôi được, ta không đưa tiền cho lão, hay nói đúng hơn, ta đã trao nó bằng tinh thần, bằng tâm nguyện – thứ mà nếu lão là một triết gia thực thụ, thì chừng đó cũng đủ để thỏa mãn rồi. Ta làm thế bởi ta nhận thấy hành động ấy là tối quan trọng và vô cùng hữu ích; ngài hãy nghĩ xem, hành động ấy đã thu phục toàn bộ tín đồ Cơ Đốc về phía ta nhanh đến nhường nào, mở ra cánh cửa tiếp cận họ ra sao, và khơi dậy lòng tin tưởng của họ sâu sắc thế nào.”

“Đúng thế,” Petronius thừa nhận, “và đó là bổn phận ngươi phải làm.”

“Chính vì lý do đó nên ta mới đến đây để xin phương tiện thực hiện điều ấy.”

Petronius quay sang Vinicius,—“Hãy ra lệnh đếm giao cho lão năm ngàn sestertia, nhưng cứ trả bằng tinh thần, bằng tâm nguyện đi.”

“Ta sẽ cắt cử một gã thanh niên đi cùng ngươi,” Vinicius nói, “nó sẽ mang theo số tiền cần thiết; ngươi sẽ nói với Euricius rằng chàng trai ấy là nô lệ của ngươi, và ngươi sẽ đếm tiền trao tận tay lão già ngay trước mặt nó. Vì ngươi đã mang về những tin tức quan trọng, ngươi cũng sẽ nhận được một khoản tương đương cho chính mình. Hãy đến nhận người và tiền vào chiều tối nay.”

“Ngài quả là một Xê-da đích thực!” Chilo cảm thán. “Xin ngài cho phép ta được dâng hiến công sức này cho ngài; nhưng cũng xin lượng thứ cho ta vì chiều nay ta chỉ đến để nhận tiền thôi, bởi Euricius bảo rằng tất cả các thuyền đều đã được dỡ hàng, và những chiếc thuyền mới từ Ostia phải vài ngày nữa mới cập bến. Bình an ở cùng các ngài! Đó là cách những tín đồ Cơ Đốc chào tạm biệt nhau đấy. Ta sẽ tự mua cho mình một ả nô lệ nữ – ý ta muốn nói là một tên nô lệ nam mới phải. Cá thì phải dùng mồi để câu, còn tín đồ Cơ Đốc thì phải dùng cá. Fax vobiscum! pax! pax! pax!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.