Người Ta Sẽ Nghĩ Gì?

Lượt đọc: 311 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24

❊ ❊ ❊

Trên đường đến khách sạn Ritz-Carlton, Forbes ghé qua ngân hàng để rút ít tiền. Anh quyết định mang theo một trăm đô-la cho có vẻ ấn tượng khi trả tiền bồi bàn. Anh thừa nhận rằng việc này sẽ kéo số dư tài khoản của mình xuống dưới mức tối thiểu cho phép, nhưng anh nghiến răng tự nhủ phải làm cho tới bến, dù có làm cho chính phủ phá sản đi chăng nữa. Anh có lẽ sẽ cần phần lớn số tiền còn lại trước khi tuần này kết thúc, và đành phải bắt đầu tiết kiệm lại khi khoác lên mình bộ quân phục.h

Anh rút tiền, thong thả đi bộ đến khách sạn, hỏi tìm Fernand và gặp ông ta cạnh một tấm vách kính trong căn phòng sang trọng trải dài từ phố này sang phố khác. Vô số chiếc ghế đỏ bày la liệt trên sàn, còn chiếc trần nhà màu trắng chạm khắc huy hiệu là một hình elip khổng lồ trông rộng lớn chẳng kém quỹ đạo Trái Đất.

Fernand tỏ ra nhã nhặn một cách thận trọng cho đến khi biết cô Cabot là người đã giới thiệu Forbes tới; lúc đó ông ta bỗng trở nên ân cần như một người cha. Forbes nhét kín vào tay ông ta tờ mười đô-la, và Fernand lắng nghe gần như trìu mến khi Forbes giải thích:

"Tôi muốn tổ chức một bữa tiệc trưa nhỏ — không cầu kỳ gì đâu, nhưng mà... ừm, nói chung là một bữa ăn tương đối lịch sự."

"Hoàn toàn được, thưa ngài. Và sẽ có bao nhiêu vị khách ạ?"

Fernand nói tiếng Anh trôi chảy, với chút giọng lơ lớ nặng nề không đáng kể.

"Chúng tôi có bảy người," Forbes nói.

"Rất tốt, thưa ngài. Ngài sẽ tự chọn món theo ý muốn, hay là..."

Ông ta đưa cho Forbes thực đơn trong ngày. Forbes nhìn lướt qua những cái tên bằng tiếng Pháp. Anh có thể đọc các hồi ký quân sự và tác phẩm chiến lược bằng tiếng Pháp, nhưng lại hoàn toàn đầu hàng trước các thuật ngữ chuyên ngành ẩm thực. Nhìn thoáng qua giá cả càng làm anh thêm chồn chân mỏi gối; nhưng anh đành hỏi: "Anh có gợi ý gì không — tôi vừa ở châu Á về nên cảm thấy hơi bỡ ngỡ với cảnh tượng ngoài này."

"Nếu ngài cho phép," Fernand nói với vẻ háo hức của một kẻ đồng lõa nhân từ, một nghệ sĩ mang trong mình sứ mệnh cao cả, "tôi sẽ sắp xếp và mang đến cho ngài một vài bất ngờ thú vị."

Forbes nuốt xuống một chút bối rối nghẹn ngào, và cẩn thận hỏi một cách bâng quơ:

"Khoảng bao nhiêu tiền vậy nhỉ?"

Anh muốn chặn trước ít nhất là một bất ngờ.

" Ồ, không nhiều lắm đâu," Fernand mỉm cười, với cái dáng điệu ân cần của một vị bác sĩ gia đình. "Cô Cabot rất ghét đồ ăn nặng bụng. Chỉ một chút cocktail, và vài thìa trứng cá muối Astrakhan để khai vị; có lẽ thêm chút súp nữa chứ; à, thế thì tốt hơn! Cô ấy thích món súp nhuyễn St.-Germain. Và sau đó là một chút thịt gà với xà lách, một món tráng miệng, hoặc phô mai, rồi cà phê — không gì hơn! Đơn giản bao giờ cũng là tuyệt nhất."

Nghe có vẻ hợp lý đến mức Forbes bắt đầu nhen nhóm hy vọng. Anh hỏi:

"Cô ấy — họ — anh có chuẩn bị loại rượu nào không?"

"Cô Cabot không thích sâm-panh; còn ông Enslee — có phải ngài vừa nhắc là ông ấy sẽ tham gia cùng chứ?"

Forbes nào đã nói thế đâu, và anh đỏ bừng mặt khi nghĩ rằng tất cả mọi người, ngay cả một người trưởng phòng phục vụ, cũng đang gán ghép tên tuổi của Persis với Enslee. Nhưng hơn bao giờ hết, lúc này anh phải bảo đảm không để dọn ra một bữa ăn tồi tàn. Trong lòng ngẩng cao đầu, anh trả lời câu hỏi bằng một cái gật đầu thản nhiên:

"Vâng, ông Enslee sẽ có mặt."

Fernand cất giọng với vẻ thương hại khoan dung: "Ông Enslee thường chỉ dùng một ly rượu mạnh Scotland pha loãng (highball). Nhưng tôi nghĩ ngài có thể dụ dỗ cả hai người họ bằng một ít rượu sherry — để dùng kèm với món gà. Tôi có loại rượu sherry ngon tuyệt hảo."

"Ngon đến mức nào?" Forbes hỏi, cố tỏ ra ba hoa ngay trong đám tang của chính mình.

"Tám đô-la một chai. Nhưng tuyệt hảo lắm! Chắc chắn tất cả mọi người sẽ rất thích."

Nghe đến con số giá cả cụ thể, Forbes đâm ra bồn chồn và hỏi thẳng thừng: "Anh có thể cho tôi biết — khoảng bao nhiêu tiền cho bữa trưa này?"

Forbes cảm thấy xấu hổ vì phải bàn chuyện tiền nong, mặc dù nhiều kẻ giàu có hơn, đặc biệt là Enslee, chắc chắn sẽ cò kè bớt một thêm hai từ đầu đến cuối và làm một bài diễn văn về sự bòn rút của chủ nhà hàng. Nhưng Fernand bắt đầu tính toán:

"Để tôi xem nào; bảy ly cocktail giá hai mươi lăm xu là một đô-la bảy mươi lăm. Trứng cá muối là một đô-la hai mươi lăm một người; cho bảy người sẽ là tám đô-la bảy mươi lăm. Món súp nhuyễn St.-Germain chúng ta sẽ làm đặc biệt — cứ cho là khoảng năm đô-la đi. Tôi xin gợi ý món gà tơ om nấm cèpes; giá hai đô-la rưỡi một người. Ngài thực sự không cần món rau nào khác, ngoại trừ măng tây. Ồ, măng tây sáng nay ngon tuyệt! Tôi đã tận mắt thấy đấy! Măng tây nhé?" Forbes gật đầu đầy tuyệt vọng. "Thế thì thêm bảy đô-la nữa; nhưng bù lại ngài sẽ không cần xà lách — không, ngài sẽ không cần xà lách đâu, dù rau diếp xoăn rất — thôi, chúng ta không dùng rau diếp xoăn vậy. Về món tráng miệng, ngài có muốn đặt làm riêng không? Không, thế thì hơi quá; bánh pudding Nesselrode rất ngon. Cô Cabot cực kỳ thích hạt dẻ — được đấy! Chúng ta có thể dọn kèm phô mai, dù hơi thừa thãi một chút. Nhưng cứ chuẩn bị sẵn đi. Sau đó là cà phê đặc biệt, và có lẽ thêm một ly rượu mùi — vâng chứ? Cô Cabot rất thích bạc hà trắng. Tất nhiên sẽ có xì-gà cho các quý ông — và các quý bà sẽ hút thuốc lá cùng ly cà phê ngay bậc thềm ngoài này, tôi đoán thế. Nào, để tôi xem." Ông ta lẩm bẩm tính nhẩm một lát, rồi tung ra tin tức động trời. "Tổng cộng là — khoảng năm mươi bốn đô-la bảy mươi lăm. Vâng — à không! Chúng ta chưa tính tiền rượu sherry — một chai, hoặc có lẽ hai chai. Thế nên thưa ngài, tính sơ sơ thì chi phí sẽ rơi vào khoảng sáu mươi... sáu mươi lăm đô-la."

Forbes thấy từ "sơ sơ" quả là rất phù hợp. Trong cõi lòng anh vang lên một âm thanh hệt như tiếng nước cuối cùng chảy ọc ạch trong bồn tắm đang rút cạn. Anh cộng nhẩm thêm mười đô-la đã đưa cho Fernand, và mười đô-la tiền típ phải trả cho người phục vụ. Anh tự hỏi liệu sắc mặt mình có tái nhợt như cảm giác trong lòng không; có thảm hại như tờ một trăm đô-la của anh không. Anh từng ấp ủ một ý nghĩ điên rồ là mời tất cả mọi người đi ăn tối, xem kịch và ăn khuya nhảy tango. Nếu một bữa trưa khiêm tốn đã đẩy anh vào hoàn cảnh này, anh tự hỏi một buổi tối như thế sẽ khiến anh ra nông nỗi nào. Xét theo khía cạnh đó, anh coi như đã thoát nạn với cái giá rẻ mạt. Dù sao thì anh cũng đã vượt qua sông Rubicon rồi. Anh quá nghèo để có thể dám keo kiệt. Nếu anh là một kẻ thừa kế gia sản như Enslee, anh đã có thể đãi khách bánh mì nướng và nước cất mà chẳng ai dám nghi ngờ mình nghèo túng.

Và một khi đã dấn thân vào con đường mình chọn, anh thà khánh kiệt cả gia đình còn hơn là bủn xỉn trong chuyện thết đãi khách khứa. Anh là một quý ông; có thể là một kẻ ngốc, nhưng đích thị là một quý ông.

Anh ra lệnh cho Fernand cứ tiến hành mọi việc. Fernand có chút bối rối vì thời gian quá gấp gáp, nhưng vẫn hứa sẽ làm hết sức mình. Forbes đảo mắt tìm một chiếc bàn tốt.

Fernand giơ tay ra hiệu: "Cô Cabot có chiếc bàn ưa thích của cô ấy. Ngài sẽ được sắp xếp chiếc bàn đó, kèm theo cả người quản lý và nhân viên phục vụ quen thuộc của cô ấy nữa."

Forbes chợt nhớ lại lời cảnh báo của Persis.

"Nhưng bữa trưa này thực ra là để vinh danh bà Neff cơ mà," anh nói.

"À, nếu vậy thì ngài sẽ muốn dùng bàn của bà ấy. Bà ấy thích phía bên kia hơn, gần dàn nhạc hơn."

Vì còn chút ít thời gian rảnh, Forbes quyết định đi dạo một vòng quanh khu nhà. Anh chợt nhận ra rằng tờ một trăm đô-la quý giá mà anh vừa rút ra để làm sang sẽ bốc hơi sạch sẽ chẳng còn lại gì. Anh quay lại ngân hàng và viết một tấm séc rút thêm năm mươi đô-la nữa. Khi đứng đợi trước ô cửa kính của nhân viên giao dịch, anh có cảm giác như một kẻ làm tiền giả đang rút số tiền mình không có quyền sở hữu. Nhưng nhân viên thu ngân chẳng hề tỏ ra ngạc nhiên chút nào. Khi Forbes quay lại khách sạn Ritz-Carlton, anh thấy các vị khách của mình đã tề tựu đông đủ ở sảnh chờ. Willie Enslee đến muộn và mang bộ mặt cáu kỉnh. Anh ta giải thích rằng tên đầy tớ của mình dám cả gan lâm bệnh, bỏ mặc anh ta phải tự mặc quần áo lấy.

Họ uống cocktail, rồi Forbes dẫn bầy cừu nhỏ của mình bước lên thảm cỏ xanh mướt. Anh phải xin phép đi qua một nhúm người đang nài nỉ vô vọng những chiếc bàn ở khu vực vòng cung. Họ đang bị đẩy dạt sang các phòng bên cạnh dành cho tầng lớp bình thường.

Forbes cảm thấy phấn chấn làm sao khi được chào đón bằng sự cung kính gọi đúng tên và được dẫn thẳng đến bàn của mình. Chiếc bàn bày biện thật lộng lẫy với dao nĩa bạc, ly tách và khăn trải bàn đã được chuẩn bị sẵn sàng, ở giữa là một bó hoa tử đinh hương tươi thắm khổng lồ.

Fernand thì thầm với Forbes rằng ông ta đã mạo muội thay đổi thực đơn đi một chút. Kết quả là một sự bất ngờ dành cho những cái miệng sành ăn vốn đã quen nuông chiều, và các vị khách của Forbes thích thú cười đùa như những đứa trẻ. Forbes được bầu chọn là một chuyên gia ẩm thực, nhưng anh khiêm tốn nhường lại lời khen cho Fernand đang lảng vảng bên cạnh. Anh vẫn còn đủ thành thực để làm điều đó, dù không đủ dũng khí để thừa nhận bữa trưa này đã vét cạn túi tiền tiết kiệm của mình đến mức nào.

Tuy nhiên, khi ngắm nhìn chiến tích của mình, anh cảm thấy sự giàu có quả là một điều cao quý. Giá như ngày nào anh cũng có thể thết đãi những bữa tiệc nghệ thuật thế này! Giá như anh có thể thường xuyên lui tới những nơi như thế này và hiên ngang đứng vững giữa đám đông rực rỡ kia! Biết bao nhiêu, bao nhiêu con người có lắm tiền nhiều của. Hàng ngàn người trong số họ đang yến tiệc linh đình ở đây và ở các nhà hàng khác, cổ vũ cho mọi loại nghệ thuật từ kiến trúc cho đến cách trộn xà lách. Cớ sao anh lại bị tước đoạt quyền tận hưởng những sở thích vốn có của mình?

Anh định sụp lạy xin lỗi Persis vì tội ngủ quên. Nhưng cô từ chối coi đó là một tội lỗi nghiêm trọng, thay vào đó cô chúc mừng anh vì đã có đủ dũng khí và lòng thành thật thú nhận lý do thực sự khiến anh vắng mặt. Anh bảo cô rằng, nhìn ánh mắt lanh lợi và long lanh của cô, anh chắc chắn cô cũng đã ngủ quên, nhưng cô thề là không có chuyện đó, và anh lại ngạc nhiên tự hỏi tại sao một vẻ đẹp mỏng manh nhường ấy lại có thể đi kèm với sức sống bền bỉ đến vậy.

Ngoại trừ những lúc bị ngắt quãng bởi những lời trầm trồ tán thưởng dành cho cách chọn món, hay những tiếng xuýt xoa ngon lành như trẻ con trước độ tinh tế của các món ăn, câu chuyện xoay quanh sắc lệnh của ngài thị trưởng đóng cửa các buổi trà khiêu vũ (thés dansants).

"Họ gọi đây là một đất nước tự do," bà Neff lầm bầm, "vậy mà họ lại bảo chúng ta không được phép khiêu vũ trong lúc uống trà!"

"Cũng đáng đời lắm!" Enslee nói. "Đã đến lúc ai đó phải đứng ra can thiệp trước khi cả đất nước này phát cuồng vì cái trò khiêu vũ này. Lố bịch thêm chút nữa chắc họ bắt bê bồi bàn bưng súp ra vừa nhảy vừa phục vụ mất."

"Thế chúng ta biết làm gì với những buổi chiều đây?" Winifred thở dài.

"Trước đây các cô làm gì?" Willie hỏi.

"Chịu thôi; nhưng em chắc chắn là nó nhàm chán chết đi được."

Ten Eyck, vị cứu tinh, liền nhảy vào giải vây. "Thôi đừng thở dài nữa các quý cô! Thị trấn cổ kính này vẫn sẽ còn nhảy múa chán cho đến khi tất cả chúng ta chống gậy vào nghĩa trang Woodlawn. Này Forbesy, cậu đã bao giờ đến Công viên quốc gia Yellowstone chưa?"

"Rồi."

"Cậu có thấy mạch nước phun Old Faithful phun trào không?"

"Có."

"Cậu có nhớ nó nằm im lìm như cái chậu suốt cả tiếng đồng hồ, rồi bỗng nhiên nổi giận phun một cột nước lên tận mây xanh, làm rùm beng cả lên trong vài phút, rồi lại lăn ra ngủ tiếp không?"

"Có."

"Chà, cải cách ở New York hay bất kỳ thành phố lớn nào cũng y hệt thế. Bây giờ thì náo loạn cả lên; sẽ có các bài xã luận, bài giảng đạo, các cuộc đột kích của cảnh sát và việc thu hồi giấy phép trong vài ngày. Rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đấy, và chỉ trong một tuần là tất cả các phòng nhảy cũ sẽ hoạt động trở lại như trước thôi."

Willie đổi chủ đề với vẻ đột ngột quen thuộc của anh ta. Nãy giờ anh ta cứ tỏ ra hào hứng đến kỳ lạ với lùm hoa tử đinh hương màu tím ở giữa bàn. Anh ta cứ kéo những cành ở gần nhất về phía mình và hít hà hương thơm của chúng.

"Các cậu có biết là tớ cực kỳ mê hoa tử đinh hương không," anh ta mỉm cười. "Ở điền trang của tớ ở miền quê, chúng chắc phải đẹp lộng lẫy lắm. Người làm vườn viết thư báo cho tớ là chưa bao giờ chúng nở đẹp như năm nay. Tớ ước gì được ngắm chúng."

Chẳng ai thèm bận tâm đến cảm xúc của anh ta cho lắm, cho đến một lúc sau, anh ta bỗng thốt lên:

"Ôi trời, tớ nghĩ chắc tớ phải phóng về quê một chuyến để ngắm hoa tử đinh hương và hít thở bầu không khí trong lành một đêm mới được."

"Ý kiến hay đấy," Winifred nói; "tất cả chúng ta cùng đi đi."

"Ồ không, các cậu không đi được đâu," Willie đáp. "Nhà cửa ở đó có mở cửa đâu. Chẳng có ai ngoài người làm vườn và mấy phụ tá của ông ta."

Điều này chỉ chặn đứng Winifred trong giây lát, rồi cô lại xông lên tấn công.

"Thế lại càng vui chứ sao," cô thốt lên. "Tất cả chúng ta hãy kéo lên đó trải qua dịp cuối tuần đi."

"Nhưng tớ đã bảo là ở đó không có người hầu cơ mà," Willie khăng khăng.

"Đấy mới là cái thú vị chứ," Winifred nói, đang say sưa với nguồn cảm hứng của mình. "Đó sẽ là một chuyến phiêu lưu tuyệt vời. Ở thành phố này chẳng có việc gì để làm cả."

"Chúng ta còn phải ăn uống chứ, cậu quên à," Willie lạnh lùng nhắc nhở; "và chẳng có ai nấu nướng cả."

"Tớ nấu ăn cừ lắm nhé," Winifred nói. "Và tớ đã từng nghía qua căn bếp nhà cậu ở trên đó rồi. Nó là một kiệt tác — đồ điện tử tự động các thứ đủ cả. Tớ sẽ nấu ăn nếu mấy cậu chịu khó nhóm lửa, dọn giường và rửa bát đĩa."

"Ôi, Winifred, thôi đi cái kiểu trẻ con ấy đi!" Willie bĩu môi.

"Nhưng Winifred nào có chịu thôi. Cô cứ nài nỉ kế hoạch của mình cho đến khi khơi gợi được sự hứng thú pha lẫn tò mò ở những người khác đối với cuộc phiêu lưu này. Dù sao thì đó cũng là một điều mới lạ.

"Chúng ta luôn có thể chuồn về bất cứ lúc nào nếu muốn," Winifred giải thích như một nhát búa đóng đinh. "Ngồi xe hơi vài tiếng là lại về đến thành phố rồi."

"Nhưng tớ đã bảo là ở đó không có người hầu cơ mà," Willie nhắc lại. "Cậu không thực sự định kéo nhau lên đó rồi tự tay làm mọi việc đấy chứ?"

"Sao lại không?" Winifred nói. "Đã đến lúc các cậu học cách sử dụng đôi bàn tay lười biếng của mình trước khi chúng rụng xuống vì tội bỏ xó."

"Không, cảm ơn nhé!" Willie từ chối. "Nếu đã bắt buộc phải đi, chúng ta sẽ kéo theo vài gã thủy thủ tập sự. Cậu thấy sao, Persis?"

"Điểm duy nhất tớ thích ở ý tưởng này," Persis nói, "chính là sự vắng bóng của lũ đầy tớ. Tớ chẳng thể nhớ nổi lần nào chúng không đứng kè kè trợn mắt nhìn hay nghếch tai nghe lén qua khe cửa. Ôi trời, thật tuyệt vời làm sao khi được thoát khỏi cái ách kìm kẹp của chúng vài ngày!"

"Chúng ta không thể mạo hiểm với tai tiếng được," Willie nói. "Người hầu chính là những người giám thị tốt nhất đời. Nếu chúng ta kéo lên đó mà không có chúng, thể nào trên báo chí cũng nổi sóng gió cho xem."

"Cậu và cái bệnh sợ báo chí của cậu đúng là hết thuốc chữa!" Winifred đáp trả. "Họ có bao giờ biết đâu."

"Các cậu không thể xách mé lên nhà tớ mà không có người giám thị nào đi cùng!" Willie gắt lên với vẻ kiên quyết hờn dỗi. "Tớ có mở quán trọ ven đường đâu cơ chứ."

"Nếu cậu bắt buộc phải có người giám thị, hay là cậu chọn tôi nhé," bà Neff nói.

"Bà á!" Willie cười mỉa mai. "Rồi ai sẽ giám thị cả người giám thị đây? Bà còn gây ra lắm trò quỷ quái hơn bất kỳ ai ấy chứ. Mối quan hệ của bà với ông Lord — à xin lỗi, ông Ward — đã là đề tài bàn tán rôm rả khắp thị trấn rồi đấy."

"Tiếng cười của bà Neff là sự pha trộn giữa việc chế giễu khả năng đó và nỗi khát khao rằng biết đâu nó lại có thật. Lời bình luận của bà mang đậm tinh thần trào phúng."

"Nhưng nếu sau đó tôi cưới ông ấy thì mọi chuyện xì-gà xì-khói sẽ chấm dứt ngay thôi."

"Mẹ ơi, mẹ đúng là vô duyên hết chỗ nói!" cô con gái cất giọng lanh lảnh với vẻ ngây thơ hiếu chiến.

"Cảm giác đắc chí của một lời quở trách như thế quá ngọt ngào đối với trái tim chưa tàn phai của bà Neff nên bà chẳng dại gì bỏ qua. Bà liền bỏ phiếu ủng hộ ý kiến của Winifred và Persis.

Forbes không dám lên tiếng, nhưng trong lòng anh đang rực cháy viễn cảnh về vài ngày sống bên Persis ở chốn điền viên. Khi vượt qua cả lục địa, anh đã nhìn thấy dấu vết của mùa xuân ở khắp mọi nơi; khắp nơi tên họa sĩ điên cuồng ấy đang thắp lên những đốm lửa trên thân cây, bụi cỏ và thảm cỏ. Từ cửa sổ tàu hỏa, anh đã ngắm nhìn khung cảnh lộng lẫy tua tua mở ra như một cuộn phim di động. Anh từng ao ước được nhảy ù xuống khỏi toa tàu và lang thang cùng ai đó — cùng một bóng hồng mơ hồ nào đó. Và giờ đây anh đã tìm thấy nàng, và cơ hội ngàn vàng đang gõ cửa kính.

Willie đôi co với Winifred cho đến khi bữa trưa kết thúc. Sau đó họ lui vào phòng chờ để uống cà phê. Ở đây phụ nữ được quyền hút thuốc nơi công cộng, và họ nhả khói phì phèo trông chẳng khác gì mấy cậu nhóc tì. Winifred lại tiếp tục khơi mào trận chiến cho chuyến dã ngoại.

Ten Eyck theo dõi cuộc tranh cãi với một nụ cười toe toét. Cuối cùng anh ta lên tiếng: "Thật là một cuộc chiến tranh dễ thương. Chủ nhà bất đắc dĩ đang cố thuyết phục khách rằng họ không được mời. Các vị khách thì bảo, 'Chúng tôi cứ đến đấy.' Tốt hơn là đầu hàng trong hòa bình đi thôi, Willie, kẻo họ chiếm đoạt nhà cửa rồi khóa cửa tống cổ cậu ra ngoài đấy."

Thế là Willie đành đầu hàng, với lý do là Persis muốn thế. Anh ta cố tỏ ra ga-lăng ngượng ngùng và ám chỉ chuyện lãng mạn một cách kín đáo. Trong trái tim băng giá cằn cỗi của mình, anh ta hình như cũng có chút rung động của tháng Tư. Forbes nhói lòng trước sự cạnh tranh đó; nhưng bằng bất cứ giá nào, anh cũng muốn được ở bên Persis nơi mùa xuân đang ngự trị.

Willie, đành ngậm ngùi đóng vai người chủ nhà bất đắc dĩ (hôt malgré lui), thông báo rằng một khi họ đã quyết định xâm chiếm dinh cơ tổ tiên đáng kính của anh ta, thì càng làm nhanh gọn chừng nào càng tốt chừng nấy. Persis và những người còn lại đều là những sinh vật của sự bốc đồng, luôn vui mừng khi có một hứng thú bộc phát, và họ đồng ý chuyến trốn chạy nhanh như một đàn chim bay lượn. Mọi cuộc hẹn hò đều bị họ gác lại. Các cô hầu phòng của họ có thể gửi điện telegram cáo lỗi rằng do vắng mặt đột xuất khỏi thị trấn nên... v.v.

Willie đi gọi điện cho người làm vườn của mình để mở cửa nhà cho thoáng khí và ra lệnh chuẩn bị sẵn thực phẩm tươi sống.

Anh ta vừa đi thì một cậu phục vụ mang thông báo đến cho Persis rằng bố cô muốn nói chuyện điện thoại với cô.

Cô giật mình tỏ vẻ sợ hãi khi đứng dậy. Forbes dõi theo bước chân cô, thầm cầu nguyện không có tin dữ nào đang chờ đợi cô. Cô uyển chuyển và kiên cường làm sao khi di chuyển. Anh biết cô đang sợ hãi, nhưng cô vẫn chào hỏi những người qua đường với vẻ duyên dáng vô tư lự nhất có thể. Cô nhanh chóng quay lại với vẻ lo lắng không tài nào giấu giếm. Cô giải thích rằng bố cô sắp khởi hành đi Chicago trên chuyến tàu Twentieth Century và muốn gọi điện chào tạm biệt cô. Cô chỉ có vừa đủ thời gian để về đến nhà trước khi ông khởi hành.

Forbes ngỏ ý muốn đi cùng cô về nhà. Cô kiên quyết bắt anh ở lại với các vị khách của mình. Winifred và bà Neff đứng phắt dậy ngay lập tức, tuyên bố họ cũng phải về để chuẩn bị cho chuyến đi chơi.

Forbes chào tạm biệt họ với vẻ hơi luống cuống. Anh lấy làm tiếc vì sự hỗn loạn khi ra về với tư cách là chủ nhà, nhưng anh nhất quyết không bỏ lỡ cơ hội này để được ở riêng với Persis.

Cô quá lo lắng cho bố mình nên đã quên béng sự tồn tại của Willie, và chẳng để lại lời nhắn nào cho anh ta. Khi Willie vừa kết thúc cơn thịnh nộ trong bốt điện thoại và truyền đạt xong mệnh lệnh cho bác làm vườn trưởng, anh ta quay ra thì thấy bà Neff và Winifred đang đứng đợi xe hơi của họ. Họ giải thích việc Persis bỗng dưng bỏ đi và sắp xếp thời gian, địa điểm gặp mặt cho chuyến hành trình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.