Tuyển Tập Truyện Ngắn Nga Hay Nhất

Lượt đọc: 103 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Anton P. Chekhov

❊ ❊ ❊

Olenka, con gái của vị viên chức kiểm tra thuế về hưu Plemyanikov, đang ngồi thẫn thờ trên bậc thềm cửa sau nhà. Trời oi bức, ruồi cứ vo ve quấy rầy, nghĩ đến cảnh chiều xuống chẳng mấy chốc mà dễ chịu làm sao. Những đám mây mưa đen kịt đang kéo đến từ hướng đông, chốc chốc lại phả ra một luồng gió ẩm dịu mát.

Kukin, người thuê trọ ở dãy nhà phụ ngay bên cạnh, đang đứng giữa sân ngước nhìn bầu trời. Ông là quản lý của Tivoli, một rạp hát ngoài trời.

“Lại nữa,” ông chán nản kêu lên. “Lại mưa. Mưa, mưa, mưa! Ngày nào cũng mưa! Cứ như thể chúng cố tình chống lại tôi vậy. Chắc tôi phải thắt cổ tự tử quách cho rồi. Tiêu đời tôi rồi. Ngày nào cũng lỗ nặng!” Ông vặn vẹo đôi bàn tay, rồi quay sang Olenka mà than thở: “Cuộc đời gì thế này, Olga Semyonovna ơi! Thật muốn phát khóc. Người ta làm việc, cố gắng hết sức, nỗ lực đến cùng cực, tự bầm dập thân xác, thức trắng bao đêm, ngày đêm trăn trở nghĩ suy để làm sao mọi thứ thật hoàn hảo. Thế rồi kết quả ra sao? Mang đến cho công chúng vở operetta hay nhất, vở kịch câm xuất sắc nhất, với những nghệ sĩ tài hoa. Nhưng họ có màng tới không? Họ có mảy may trân trọng không? Công chúng thật thô lỗ. Công chúng đúng là một lũ phàm phu. Họ chỉ thích gánh xiếc, mấy thứ nhảm nhí, dăm ba trò cười rẻ tiền. Đã thế lại còn cái thời tiết này. Nhìn xem! Gần như tối nào cũng mưa. Mưa từ mùng mười tháng Năm, rồi cứ thế kéo dài suốt cả tháng Sáu. Thật không thể chịu nổi. Khách khứa thì chẳng có ma nào, trong khi tiền thuê mặt bằng, tiền trả diễn viên thì lấy đâu ra?”

Hôm sau, vào lúc chạng vạng, mây đen lại kéo ùn ùn, Kukin cười một cách cay đắng:

“Thôi, mặc kệ. Muốn ra sao thì ra. Cho nó ngập chìm cả cái rạp hát này lẫn cái thân tôi luôn đi. Được thôi, kiếp này lẫn kiếp khác tôi chẳng bao giờ gặp may. Cứ để bọn diễn viên kiện tôi ra tòa đi. Tòa án thì sao chứ? Hay làày đọa đi Siberia khổ sai, thậm chí lên đoạn đầu đài đi? Ha, ha, ha!”

Ngày thứ ba mọi chuyện vẫn diễn ra y như vậy.

Olenka lắng nghe Kukin với vẻ mặt nghiêm nghị và lặng thỉnh. Thỉnh thoảng, đôi mắt cô rưng rưng ngấn lệ. Cuối cùng, bất hạnh của Kukin đã chạm đến trái tim cô. Cô đã đem lòng yêu ông. Ông thấp người, gầy gò, nước da ngả vàng, mái tóc xoăn ngược về phía sau trán, và chất giọng nam cao thanh mảnh. Giao diện ông nhăn nhúm lại mỗi khi cất lời. Nỗi tuyệt vọng hằn sâu trên khuôn mặt ấy. Thế nhưng, chính ông lại khơi dậy trong lòng Olenka một tình cảm chân thành và sâu sắc.

Cô vẫn luôn yêu một ai đó. Cô không thể sống thiếu tình yêu dành cho một ai đó. Cô từng yêu người cha ốm yếu suốt ngày ngồi lờ đờ trên chiếc ghế bành trong căn phòng tối mò, thở hồng hộc. Cô từng yêu người dì năm đôi ba lần lại từ Brianska đến thăm. Và trước đó nữa, khi còn là nữ sinh trường progymnasium, cô đã từng đem lòng ái mộ thầy giáo dạy tiếng Pháp. Cô là một thiếu nữ trầm tính, nhân hậu, giàu lòng trắc ẩn, với dáng vẻ dịu dàng, mềm mại. Cô tỏa ra một vẻ lành mạnh và phúc hậu. Ngắm nhìn đôi má bầu bạt phúng phính hồng hào, chiếc cổ trắng ngần có nốt ruồi đen, cùng nụ cười ngây thơ đôn hậu luôn trực nở trên môi mỗi khi nghe ai nói điều gì vui tai, đàn ông thường thầm nghĩ: “Cũng được đấy chứ,” rồi cũng mỉm cười theo; còn mấy bà khách quý đang trò chuyện dở chừng lại bất chợt nắm lấy tay cô mà thốt lên đầy phấn khích: “Cục cưng của tôi ơi!”

Ngôi nhà thừa kế từ gia tiên mà cô gắn bó từ thủa lọt lòng tọa lạc ở vùng ngoại ô trên con đường Gypsy, cách rạp Tivoli không xa. Từ chập tối cho đến tận đêm khuya, cô có thể nghe rõ tiếng nhạc rập rình từ rạp hát vọng lại và tiếng pháo hoa nổ đì đùng; và cô cứ ngỡ như Kukin đang gầm gào chiến đấu với định mệnh, đang tổng tiến công vào kẻ thù truyền kiếp của mình: công chúng dửng dưng. Trái tim cô mềm nhũn ra, chẳng còn chút buồn ngủ nào, và khi Kukin trở về nhà vào lúc sáng tinh mơ, cô lại khẽ gõ lên khung cửa kính, để qua tấm rèm mỏng, ông nhìn thấy khuôn mặt cô, bờ vai trần và nụ cười hiền hậu dành riêng cho ông.

Ông ngỏ lời cầu hôn, và họ nên nghĩa vợ chồng. Đến khi được ngắm kỹ chiếc cổ trắng ngần cùng bờ vai đầy đặn, vạm vỡ của cô, ông vỗ tay đét một cái rồi thốt lên:

“Cục cưng của tôi đây rồi!”

Ông rất đỗi hạnh phúc. Nhưng vào ngày cưới trời lại đổ mưa, và vẻ tuyệt vọng chưa từng buông tha lấy khuôn mặt ông.

Cuộc sống chung của họ rất êm đềm. Cô ngồi trong phòng bán vé, lo quán xuyến rạp hát, ghi chép sổ sách thu chi và phát lương cho nghệ sĩ. Đôi má hồng hào cùng nụ cười ngây thơ đôn hậu tỏa sáng như vầng hào quang quanh khuôn mặt cô, xuất hiện ở ô cửa bán vé, ở hậu đắc lẫn trong quán cà phê. Cô bắt đầu khoe với bạn bè rằng rạp hát là nơi vĩ đại nhất, quan trọng nhất, thiết yếu nhất trên đời, rằng đó là chốn duy nhất để con người tìm thấy niềm vui đích thực, để trở nên văn minh và học thức hơn.

“Nhưng anh chị có nghĩ công chúng biết trân trọng điều đó không?” cô hỏi. “Thứ công chúng thèm thuồng là gánh xiếc cơ. Hôm qua anh Vanichka và em vừa diễn vở Faust Biếm Họa, thế mà gần như các lô ghế đều trống hoác. Giá như chúng em diễn dăm ba trò nhảm nhí xuẩn ngốc, em dám chắc rạp đã chật ních người xem rồi. Ngày mai chúng em sẽ diễn vở Orpheus Dưới Âm Phủ. Nhớ đến xem nhé.”

Bất cứ điều gì Kukin nói về rạp hát và diễn viên, cô đều đem ra lặp lại. Cô cũng tỏ thái độ khinh miệt công chúng, sự dửng dưng của họ đối với nghệ thuật và thói thô lỗ chẳng khác nào ông. Cô xía vào cả các buổi tổng duyệt, sửa lỗi cho diễn viên, giám sát cung cách của dàn nhạc; và khi trên tờ báo địa phương xuất hiện một bài chê bai, cô lại khóc lóc sướt mướt rồi chạy đến tận tòa soạn để tranh cãi với chủ bút.

Các diễn viên rất quý mến cô, thường gọi cô là “anh em Vanichka” và “cục cưng”. Cô thương họ và hay cho họ vay dăm ba đồng lẻ. Bị họ quỵt tiền, cô chẳng bao giờ phàn nàn với chồng; cùng lắm là trút vài giọt nước mắt rồi thôi.

Mùa đông đến, họ vẫn sống bên nhau vô cùng hạnh phúc. Họ thuê hẳn một nhà hát trong thị trấn suốt mùa đông rồi cho các đoàn kịch Tiểu Nga, các ảo thuật gia và hội kịch nghiệp dư địa phương thuê lại theo từng đợt ngắn.

Olenka ngày càng đẫy đà và lúc nào cũng ngập tràn mãn nguyện; trong khi Kukin thì gầy đi, da xanh xao hơn và suốt ngày ca cẩm về những khoản lỗ khổng lồ, mặc dù thực tế là suốt cả mùa đông công việc làm ăn của ông khá suôn sẻ. Đêm đêm ông ho sù sụ, cô liền pha si-rô quả mâm xôi và nước vôi cho ông uống, xức nước hoa eau de Cologne lên người ông rồi đắp cho ông những chiếc chăn thật êm ái.

“Anh là cục cưng quý giá của em,” cô vừa vuốt tóc ông vừa thủ thỉ bằng cả tấm lòng chân thật. “Anh đáng yêu làm sao.”

Đến mùa chay, ông phải lên Moscow để tụ họp đoàn kịch, và trong những ngày vắng bóng ông, Olenka chẳng tài nào chợp mắt nổi. Cô cứ ngồi lì bên cửa sổ suốt đêm, đắm đuối ngắm nhìn những vì sao. Cô tự ví mình như những con gà mái, cũng bồn chồn mất ngủ mỗi khi gà trống rời chuồng. Kukin bị giữ chân ở Moscow. Ông viết thư báo sẽ về vào tuần lễ Phục sinh, và trong thư còn bàn bạc trước về các kế hoạch cho rạp Tivoli. Thế mà vào một đêm muộn trước ngày thứ Hai Phục sinh, có tiếng gõ cửa wicket đầy điềm gở. Tiếng gõ vang lên đanh gọn như nện vào thùng gỗ—bùm, bùm, bùm! Người đầu bếp đang ngái ngủ lật đật chạy chân trần, bì bõm lội qua những vũng nước mưa để ra mở cổng.

“Làm ơn mở cửa giùm,” một giọng trầm đục vang lên. “Tôi có bức điện báo gửi cho cô.”

Olenka từng nhận không ít điện báo từ chồng; nhưng lần này, chẳng hiểu sao cô lại chết lặng vì sợ hãi. Cô run lẩy bẩy bóc bức điện và đọc:

“Ivan Petrovich qua đời đột ngột hôm nay. Mong nhận được chỉ thị gấp về việc tang lễ thứ Ba.”

Bức điện được viết nguyên văn như thế—từ “wuneral” (tang lễ) viết sai chính tả—và kèm theo một từ khó hiểu khác là “propt” (gấp). Bức điện do quản lý đoàn kịch opera ký tên.

“Trời ơi, anh yêu của em!” Olenka bật khóc nức nở. “Vanichka, cục cưng của em, người tình ngọc ngà của em. Tại sao em lại gặp anh cơ chứ? Tại sao em lại biết anh rồi yêu anh để làm gì? Giờ anh bỏ lại Olenka tội nghiệp của anh, bỏ lại đứa bất hạnh này cho ai đây?”

Kukin được an táng vào thứ Ba tại nghĩa trang Vagankov ở Moscow. Olenka trở về nhà vào ngày thứ Tư; và vừa bước chân qua ngưỡng cửa, cô liền lao ngay lên giường, gào khóc thảm thiết đến mức ngoài đường và mấy ngôi nhà bên cạnh đều nghe rõ tiếng.

“Cục cưng đấy ư!” mấy người hàng xóm vừa làm dấu thánh vừa nói. “Olga Semyonovna tội nghiệp, con bé đang đau đớn xót xa nhường nào!”

Ba tháng sau, Olenka đi lễ nhà thờ về với tâm trạng ủ rũ trong bộ tang phục màu đen tuyền. Đi cạnh cô cũng là một người vừa tan lễ về, Vasily Pustovalov, quản lý bãi gỗ của thương gia Babakayev. Ông đội mũ có cót, mặc áo ghi-lê trắng lấp lánh chiếc dây chuyền vàng, trông ra dáng một chủ đất bề thế hơn là một thương nhân.

“Mọi sự ở đời đều có an bài cả rồi, Olga Semyonovna,” ông cất giọng điềm đạm, thấm đượm vẻ đồng cảm. “Và nếu người thân yêu thiết của chúng ta qua đời, thì đó là ý Chúa, chúng ta phải ghi nhớ điều ấy và đón nhận với lòng kính cẩn vâng lời.”

Ông đưa cô về tận cửa phụ, chào tạm biệt rồi quay bước. Suốt cả ngày hôm đó, văng vẳng bên tai cô vẫn là giọng nói điềm đạm ấy; và hễ nhắm mắt lại là hình ảnh bộ râu đen rậm của ông lại hiện lên rõ mồn một trong tâm trí. Cô đâm ra thiện cảm sâu sắc với ông. Và rõ ràng ông cũng ấn tượng mạnh mẽ với cô; bởi chẳng lâu sau đó, một phụ nữ lớn tuổi, người quen xa của cô, ghé sang uống nước trà. Vừa ngồi vào bàn, bà liền lớn tiếng ca ngợi Pustovalov—rằng ông tốt tính nhường nào, chín chắn ra sao, và người phụ nữ nào lấy được ông làm chồng thì phúc đức phải biết. Ba ngày sau, chính Pustovalov đến thăm Olenka. Ông chỉ ở lại chừng mười phút và nói rất ít, nhưng Olenka đã đem lòng yêu ông, yêu đến mức cuồng nhiệt mất ngủ suốt đêm, người nóng ran như sốt. Sáng hôm sau, cô liền sai người sang gọi bà lão hàng xóm nọ đến. Chẳng bao lâu sau, Olenka và Pustovalov đính hôn, rồi đám cưới diễn ra ngay sau đó.

Pustovalov và Olenka sống rất hạnh phúc. Ông thường ở bãi gỗ đến tận giờ ăn trưa mới về nhà, sau đó lại đi lo việc làm ăn. Trong thời gian ông vắng nhà, Olenka thay chồng túc trực ở văn phòng cho đến tận tối muộn, lo liệu sổ sách kế toán và chuyển các đơn hàng đi.

“Bây giờ cứ mỗi năm là giá gỗ lại tăng lên hai mươi phần trăm đấy các anh ạ,” cô nói với khách hàng và những người quen biết. “Thật đấy, trước kia chúng ta toàn mua gỗ từ những khu rừng ngay quanh đây. Thế mà giờ đây anh Vasichka năm nào cũng phải cất công lặn lội sang tận tỉnh Mogilev để mua gỗ. Mà thuế má thì nặng nề làm sao!” cô thốt lên, lấy hai tay che mặt ra vẻ kinh hoàng. “Thuế với má thật khủng khiếp!”

Cô có cảm giác như mình đã buôn bán gỗ từ thủa đời nào, rằng điều quan trọng và thiết yếu nhất trên đời chính là gỗ. Cách cô thốt ra những từ như “xà”, “vì kèo”, “ván”, “nan hoa”, “thanh lạt”, “bệ pháo”, “cùm kẹp” mang một vẻ đáng yêu và cảm động làm sao. Đêm đến, trong giấc mơ cô thấy cả những ngọn núi gỗ ván chất cao như núi, những đoàn xe ngựa nối đuôi nhau dài bất tận chở gỗ đi đâu đó, xa tít tắp ngoài thành phố. Cô mơ thấy cả một trung đoàn những cây xà kích thước 36 x 5 inch đang đứng thẳng tắp xung phong tấn công bãi gỗ; rồi xà, vì kèo, cùm kẹp va đập vào nhau kêu lách tách giòn tan như gỗ khô, tất cả đổ rạp xuống rồi lại chồm dậy, chồng chất lên nhau. Olenka kêu thét lên trong giấc ngủ, và Pustovalov liền dịu dàng trấn an cô:

“Olenka em yêu, sao thế em? Làm dấu thánh đi em.”

Mọi quan điểm của chồng đều là quan điểm của cô. Nếu anh ấy bảo căn phòng quá nóng, cô cũng thấy thế. Nếu anh ấy than việc làm ăn ế ẩm, cô cũng nghĩ công việc đang ế ẩm. Pustovalov không thích những nơi vui chơi giải trí và thường ở nhà trong các dịp lễ tết; cô cũng làm y như vậy.

“Lúc nào cũng thấy chị ở nhà hoặc ở văn phòng,” mấy người bạn trêu. “Sao chị không ra rạp hát hay đi xem xiếc gì đi, cục cưng?”

“Anh Vasichka và em chẳng bao giờ đi xem hát bao giờ,” cô đáp lại với vẻ trang nghiêm. “Bọn em còn bao việc phải làm, đâu có thời gian cho mấy thứ nhảm nhí ấy. Đi xem hát thì được tích sự gì chứ?”

Vào các ngày thứ Bảy, hai vợ chồng cùng đi lễ chiều, còn ngày lễ thì đi lễ sớm. Lúc về, họ sóng bước bên nhau với khuôn mặt rạng ngời phúc hậu, từ cả hai người tỏa ra một mùi hương dễ chịu và chiếc váy lụa của cô kêu sột soạt vui tai. Về đến nhà, họ uống trà ăn bánh mì sữa cùng đủ loại mứt, rồi ăn bánh nướng. Trưa nào cũng vậy, từ trong sân nhà và ngoài cổng ngập tràn hương thơm kích thích vị giác của món canh bắp cải, thịt cừu quay hoặc thịt vịt; còn vào những ngày chay tịnh thì là mùi cá nướng. Không ai đi ngang qua cánh cổng ấy mà lại không bị cơn thèm ăn cồn cào níu chân lại. Chiếc ấm samovar lúc nào cũng sôi sùng sục trên bàn làm việc, và khách khứa luôn được mời trà bánh chu đáo. Mỗi tuần một lần, hai vợ chồng cùng đi nhà tắm công cộng rồi trở về với gương mặt đỏ lựng, sóng bước bên nhau.

“Cuộc sống của chúng tôi ơn Chúa vẫn tốt đẹp lắm,” Olenka khoe với bạn bè. “Cầu xin Chúa cho tất cả mọi người đều được ấm êm hạnh phúc như vợ chồng Vasichka và tôi.”

Những khi Pustovalov phải đi tỉnh Mogilev để mua gỗ, cô nhớ chồng đến đứt từng khúc ruột, đêm nào cũng trằn trọc không ngủ và khóc sướt mướt. Thỉnh thoảng, viên bác sĩ thú y của trung đoàn, Smirnov—một thanh niên trẻ tuổi thuê trọ ở dãy nhà phụ—lại ghé sang chơi vào buổi tối. Anh kể cho cô nghe mấy mẩu chuyện phiếm, hoặc họ ngồi đánh bài cùng nhau. Nhờ thế mà cô nguôi ngoai phần nào. Những câu chuyện thú vị nhất của anh chính là về cuộc đời trôi nổi của bản thân. Anh đã có vợ và một đứa con trai; nhưng vì bị vợ phản bội nên anh đã ly thân, giờ đây anh căm hận người đàn bà ấy và mỗi tháng vẫn gửi bốn mươi rúp để nuôi con. Olenka thở dài, lắc đầu và tỏ ý thương xót cho hoàn cảnh của anh.

“Thôi, ơn Chúa phù hộ cho cậu,” cô nói khi tiễn anh ra tận cửa dưới ánh nến. “Cảm ơn cậu đã sang đây giết thời gian cùng tôi nhé. Chúc cậu muôn sự bình an. Lạy Chúa trên cao!” Cô ăn nói rất mực điềm đạm, khôn ngoan hệt như cách của chồng mình. Viên bác sĩ thú y vừa khuất sau cánh cửa, cô lại gọi với theo: “Này Vladimir Platonych, cậu nên làm hòa với vợ đi thôi. Hãy tha thứ cho cô ấy, dẫu sao cũng vì đứa con trai. Đứa bé hiểu hết đấy, cậu cứ tin tôi đi.”

Khi Pustovalov về đến nhà, cô liền thì thầm kể cho chồng nghe chuyện về viên bác sĩ thú y cùng gia cảnh bất hạnh của anh ta; hai vợ chồng lại cùng nhau thở dài, lắc đầu và bàn tán về đứa bé chắc đang khát khao bóng hình người cha. Rồi chẳng biết do sự liên tưởng kỳ lạ nào, cả hai dừng lại trước những bức ảnh thánh, cúi rạp người làm dấu và cầu xin Chúa ban cho họ những đứa con.

Cứ thế, vợ chồng Pustovalov sống bên nhau trọn sáu năm trời đằng đẵng, yên bình, lặng lẽ trong tình yêu thương và sự hòa hợp tuyệt đối. Thế nhưng vào một ngày mùa đông nọ, sau khi uống một cốc trà nóng, Vasily Andreyich đi ra bãi gỗ mà không đội mũ, thế là bị nhiễm lạnh rồi ngã bệnh. Dù được những danh y giỏi nhất tận tình cứu chữa, căn bệnh ngày một nặng thêm và ông qua đời sau bốn tháng trời bạo bệnh. Olenka lại một lần nữa lâm vào cảnh góa bụa.

“Anh bỏ em lại cho ai đây hở cục cưng?” cô gào khóc thảm thiết sau đám tang. “Giờ này không có anh thì thân cò lẻ loi khốn khổ này biết sống ra sao đây. Xin hãy thương lấy tôi, hỡi bà con cô bác, thương lấy kẻ không cha không mẹ, trơ trọi một mình giữa cõi đời này!”

Cô diện bộ tang phục đen thẫm đeo khăn tang rủ rượi, vĩnh viễn từ giã những chiếc mũ thời trang và găng tay. Cô hầu như chẳng bước chân ra khỏi nhà ngoại trừ đi lễ nhà thờ và thăm mộ chồng. Cuộc sống của cô chẳng khác nào một nữ tu.

Mãi cho đến sáu tháng sau, cô mới chịu tháo khăn tang và mở mấy tấm chớp cửa sổ. Cô bắt đầu thỉnh thoảng đi chợ buổi sáng cùng người đầu bếp. Nhưng cách cô sinh hoạt trong nhà ra sao và có những chuyện gì xảy ra ở đó, người ta chỉ có thể đoán già đoán non. Người ta đoán được là qua việc người ta thấy cô ngồi uống trà trong khu vườn nhỏ với tay bác sĩ thú y khi anh ta đọc to báo cho cô nghe, và cả việc một lần tình cờ gặp người quen ở bưu điện, cô đã nói thế này:

“Công tác kiểm dịch động vật ở thị trấn chúng ta chẳng ra làm sao cả. Thảo nào mà dịch bệnh hoành hành nhiều thế. Cứ nghe người ta bàn tán hoài chuyện mắc bệnh do uống sữa nhiễm khuẩn rồi lây từ ngựa với bò sang người. Lẽ ra sức khỏe của súc vật nuôi trong nhà cũng phải được quan tâm chăm sóc kỹ lưỡng chẳng kém gì con người ấy chứ.”

Cô đem y nguyên lời của viên bác sĩ thú y ra lặp lại và ôm khăng khăng mọi quan điểm của anh ta về tất cả mọi chuyện. Rõ ràng là cô không thể sống nổi lấy một năm mà không bám víu vào ai đó, và cô lại tìm thấy niềm hạnh phúc mới ngay tại dãy nhà phụ của mình. Nếu là người khác thì điều này đã bị dị nghị; nhưng chẳng ai có thể nghĩ xấu về Olenka. Mọi ngóc ngách trong cuộc đời cô đều trong sáng đến kỳ lạ. Cô và viên bác sĩ thú y chẳng bao giờ đả động đến sự thay đổi trong mối quan hệ của họ. Thực ra họ đã cố gắng giấu giếm, nhưng bất thành; bởi Olenka vốn chẳng thể giữ nổi điều gì làm bí mật. Mỗi khi các đồng nghiệp của viên bác sĩ từ trung đoàn đến chơi, cô lại ra tay rót trà, dọn đồ nhắm và huyên thuyên với họ về bệnh dịch gia súc, bệnh lở mồm long móng cùng các lò mổ của thành phố. Viên bác sĩ vô cùng ngượng ngùng, và khi khách đã về hết, anh túm lấy tay cô rồi rít lên giận dữ:

“Tôi đã bảo cô đừng có bàn vào mấy chuyện mình không hiểu cơ mà? Khi tụi tôi đang bàn công chuyện y khoa, làm ơn đừng có xía vào. Phiền phức quá đủ rồi đấy.”

Cô ngước nhìn anh đầy kinh ngạc và hoảng hốt, rồi hỏi:

“Thế Volodichka ơi, thế em phải nói chuyện gì cơ chứ?”

Rồi cô ôm chầm lấy cổ anh, đôi mắt ngấn lệ và nài nỉ anh đừng giận. Và thế là họ lại hạnh phúc bên nhau.

Nhưng hạnh phúc ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Viên bác sĩ thú y phải theo trung đoàn chuyển đến một nơi xa tít tắp tận biên giới Siberia, và Olenka lại bơ vơ một mình.

Giờ đây cô hoàn toàn trơ trọi. Cha cô đã qua đời từ lâu, chiếc ghế bành của ông nằm phủ đầy bụi trên gác mái và đã gãy mất một chân. Cô gầy rộc đi, nhan sắc phai tàn, và những người qua đường chạm mặt cô không còn ai ngước nhìn hay mỉm cười với cô như trước nữa. Rõ ràng những năm tháng rực rỡ nhất của đời cô đã qua đi, chìm vào dĩ vãng, và một cuộc đời mới, mờ mịt bất định sắp sửa bắt đầu—thứ mà tốt hơn hết là đừng nên nghĩ đến thì hơn.

Buổi tối, Olenka ngồi thừ trên bậc thềm nghe tiếng nhạc rập rình và tiếng pháo hoa nổ đì đùng từ rạp Tivoli vọng lại; nhưng chúng chẳng còn gợi lên chút rung động nào trong lòng cô nữa. Cô thẫn thờ nhìn vào khoảng sân trống không, chẳng nghĩ ngợi gì, chẳng ham muốn gì, và khi đêm buông xuống, cô lên giường ngủ mà trong đầu chẳng vương vấn giấc mơ nào ngoài khoảnh khắc cái sân vắng ngắt. Cô ăn uống như một thứ nghĩa vụ bắt buộc phải làm.

Và điều tồi tệ nhất là cô chẳng còn giữ bất kỳ quan điểm nào cho riêng mình nữa. Cô thấy và hiểu mọi chuyện diễn ra xung quanh, nhưng chẳng thể đưa ra nổi một chính kiến. Cô chẳng biết phải nói gì. Thật là khủng khiếp làm sao khi không có lấy một quan điểm riêng! Chẳng hạn như, bạn nhìn thấy một cái chai, hay thấy trời đang mưa, hoặc thấy một gã nông phu đang đánh xe ngựa đi qua. Nhưng mục đích của cái chai, của cơn mưa hay của gã nông phu ấy để làm gì, hay ý nghĩa của tất cả những thứ đó là gì—bạn hoàn toàn không tài nào cắt nghĩa nổi, dù có cho một ngàn rúp cũng chịu. Thời của Kukin, của Pustovalov rồi đến viên bác sĩ thú y, Olenka luôn có sẵn lời giải thích cho mọi vấn đề và sẵn sàng bày tỏ quan điểm một cách phóng khoáng về bất cứ chuyện gì. Thế nhưng giờ đây, trong trái tim lẫn khối óc cô trống rỗng y như cái sân nhà cô vậy. Cảm giác ấy cay đắng và nhức nhối chẳng khác nào vị ngải cứu.

Dần dần, thị trấn mở rộng khắp mọi hướng. Con đường Gypsy nay đã trở thành một dãy phố sầm uất, và nơi từng là rạp Tivoli cùng bãi gỗ giờ đây mọc lên san sát những ngôi nhà và các con hẻm nhỏ. Thời gian trôi đi nhanh làm sao! Ngôi nhà của Olenka ngày càng u ám, mái ngói han gỉ, nhà kho siêu vẹo. Cỏ dại và ké mọc um tùm khắp sân. Bản thân Olenka cũng già nua và xấu xí đi nhiều. Mùa hè, cô ngồi thẫn thờ trên bậc thềm, tâm hồn trống rỗng, ảm đạm và đắng ngắt. Thiệt thỏang hít phải hơi thở của mùa xuân, hoặc khi gió cuốn theo tiếng chuông nhà thờ ngân vọng, một dòng ký ức bỗng ùa về ngập tràn trong cô, trái tim cô thắt lại với một chút ấm áp dịu dàng, và những giọt nước mắt trào ra khóe mi. Nhưng cảm giác ấy chỉ kéo dài chớp nhoáng. Để rồi sau đó sự trống rỗng lại quay về, kèm theo câu hỏi day dứt, Sống để làm gì cơ chứ? Chú mèo đen Bryska dụi đầu vào người cô kêu rè rè nhè nhẹ, nhưng sự ve vãn của con vật nhỏ bé chẳng thể chạm đến tâm can Olenka. Đó không phải là thứ cô cần. Thứ cô cần là một tình yêu thiêu đốt toàn bộ sinh lực, lý trí và tâm hồn cô, mang lại cho cô những ý tưởng, một mục đích sống, và sưởi ấm dòng máu đang già đi của cô. Và cô tức giậnất hất con mèo đen khỏi vạt áo, quát lên:

“Đi chỗ khác! Mày làm gì ở đây hả?”

Cứ thế hết ngày này qua tháng khác, năm này qua năm nọ chẳng một niềm vui, chẳng một quan điểm sống. Marva, người nấu bếp, bảo gì cô cũng nghe theo tất thảy.

Vào một buổi chiều tháng Bảy oi bức, khi đàn gia sức của thị trấn được lùa qua làm cả góc sân mịt mù khói bụi, bỗng có tiếng gõ cửa cổng dồn dập. Chính Olenka ra mở cổng, và cô đứng chết trân không nói nên lời khi nhận ra viên bác sĩ thú y Smirnov đang đứng trước mặt. Tóc anh đã điểm bạc và anh mặc thường phục. Mọi ký ức xưa cũ bỗng ùa về ngập tràn tâm hồn, không kìm nén được nữa, cô òa khóc nức nở và tựa đầu vào ngực Smirnov không thốt nên lời. Quá đỗi bàng hoàng xúc động, cô hoàn toàn không hay biết họ đã bước vào nhà và ngồi xuống bàn uống trà từ lúc nào.

“Cục cưng của em!” cô thì thầm, run lên vì hạnh phúc. “Vladimir Platonych, từ đâu mà Chúa lại đưa anh đến đây thế này?”

“Tôi muốn về đây định cư luôn,” anh đáp. “Tôi đã xin thôi việc và đến đây để thử vận may với tư cách là một người tự do, ổn định cuộc sống. Hơn nữa, cũng đến lúc cho thằng bé vào học trường cấp ba rồi. Nó lớn lắm rồi đấy. Cô biết không, vợ chồng tôi đã đoàn tụ rồi.”

“Thế cô ấy đâu?” Olenka hỏi.

“Đang ở khách sạn cùng thằng bé. Tôi đang tìm nhà trọ.”

“Lạy Chúa tôi, xin ơn trên phù hộ, anh hãy dọn đến nhà tôi đi. Sao nhà tôi lại không được cơ chứ? Ôi trời ơi! Em có lấy tiền thuê nhà của anh đâu nào,” Olenka phấn khích thốt lên rồi lại òa khóc. “Anh cứ sống ở đây, còn em ở khu nhà phụ là quá đủ rồi. Ôi lạy Chúa, hạnh phúc làm sao!”

Ngay ngày hôm sau, phần mái nhà được sơn sửa lại còn các bức tường được quét vôi trắng tinh, và Olenka chống nạnh đi vòng quanh sân để giám sát thợ thuyền. Khuôn mặt cô bừng sáng nụ cười của những ngày xưa cũ. Toàn bộ cơ thể cô như được hồi sinh và tươi trẻ lại, tựa hồ vừa bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài. Vợ con của viên bác sĩ thú y đã đến. Vợ anh là một người phụ nữ gầy gò, nhan sắc bình thường, với nét mặt lúc nào cũng cau có. Cậu nhóc Sasha, trông có vẻ còi cọc so với cái tuổi lên mười, là một đứa bé mũm mĩm với đôi mắt xanh trong veo và má lúm đồng tiền. Vừa bước chân vào sân, nó liền sà đến chỗ con mèo, và tiếng cười giòn tan của nó vang lên khắp khu vườn.

“Đây là mèo nhà cô đấy ạ?” nó hỏi Olenka. “Lúc nào nó đẻ mèo con, cô cho cháu một con nhé. Mẹ cháu sợ chuột lắm ạ.”

Olenka ân cần trò chuyện, pha trà cho cậu bé, và cô cảm thấy lồng ngực mình bỗng ấm áp lạ thường, tim thắt lại dịu ngọt cứ như thể đó là đứa con dứt ruột sinh ra của chính mình.

Buổi tối, khi cậu bé ngồi ở phòng ăn chăm chú học bài, cô trìu mến ngắm nhìn và lẩm bẩm một mình:

“Cục cưng của tôi, đẹp trai của tôi. Con khôn ngoan và đáng yêu làm sao.”

“Một hòn đảo là vùng đất được bao bọc xung quanh hoàn toàn bởi nước,” cậu bé đọc bài.

“Một hòn đảo là vùng đất được bao bọc xung quanh hoàn toàn bởi nước,” cô lặp lại theo—ý niệm đầu tiên được khẳng định đầy quả quyết sau ngần ấy năm tháng im lặng và trống rỗng trong tâm trí.

Giờ đây cô đã có lại những chính kiến của riêng mình, và vào bữa tối, cô cùng cha mẹ Sasha bàn luận về việc bài vở ở trường cấp ba ngày càng trở nên nặng nhọc đối với lũ trẻ, nhưng suy cho cùng, học chương trình cổ điển vẫn tốt hơn thương mại, bởi vì sau khi tốt nghiệp cấp ba, cánh cửa hướng tới bất kỳ ngành nghề nào cũng rộng mở trước mắt bạn. Thích thì bạn có thể làm bác sĩ, còn không thì làm kỹ sư.

Sasha bắt đầu đi học ở trường cấp ba. Mẹ cậu bé đi thăm người chị ở Kharkov và không bao giờ quay lại nữa. Người cha ngày nào cũng bận rộn đi kiểm tra gia súc, có khi vắng nhà liền ba ngày trời, khiến Olenka có cảm giác Sasha bị bỏ rơi hoàn toàn, bị đối xử như thể một kẻ thừa thãi và chắc đang chết đói đến nơi. Thế là cô dọn đồ đạc của cậu sang khu nhà phụ ở cùng mình và sửa soạn cho thằng bé một căn phòng nhỏ thật ấm cúng.

Sáng nào cũng vậy, Olenka bước vào phòng và thấy cậu bé đang ngủ say sưa, một tay luồn dưới má, ngoan ngoãn đến mức tưởng chừng như chẳng thở. Thật nhẫn tâm làm sao khi phải đánh thức thằng bé dậy, cô thầm nghĩ.

“Sashenka,” cô xót xa gọi. “Dậy đi con, cục cưng. Đến giờ đi học rồi.”

Cậu bé thức dậy, thay quần áo, đọc kinh xong rồi ngồi vào bàn uống trà. Nó uống liền ba cốc trà, ăn hai cái bánh vòng lớn và nửa chiếc bánh mỳ phết bơ. Vơn vất cơn ngái ngủ chưa tan hết, cậu nhóc tỏ ra hơi cáu kỉnh.

“Bài ngụ ngôn con chưa thuộc kỹ đâu đấy, Sashenka,” Olenka nhìn cậu bé với ánh mắt giống như thể đang tiễn người đi xa. “Con mới khổ sở làm sao. Cố gắng học hành chăm chỉ vào con nhé, và phải vâng lời thầy cô đấy.”

“Ôi, mặc kệ cháu đi, làm ơn đấy,” Sasha lầm bầm.

Rồi cậu nhóc đi dọc con phố đến trường cấp ba, một cậu bé thấp lùn đội chiếc mũ rộng và đeo chiếc cặp sách nặng trĩu trên lưng. Olenka lẽo đẽo bước theo sau không một tiếng động.

“Sashenka ơi,” cô gọi với theo.

Cậu quay lại và cô nhét vào tay nó quả chà là hoặc chiếc kẹo dẻo ngọt ngào. Khi đến sát cổng trường, cậu nhóc quay phắt lại, vẻ ngượng ngùng vì bị một người phụ nữ cao lớn, đẫy đà lẽo đẽo bám theo:

“Cô về đi thôi. Đoạn đường còn lại cháu tự đi được mà.”

Cô khựng lại, đứng ngẩn ngơ ngắm nhìn theo bóng cậu bé cho đến khi khuất hẳn vào cánh cổng trường.

Trời ơi, cô yêu nó biết bao! Chưa có mối tình nào trước kia của cô lại sâu nặng đến thế. Chưa bao giờ cô hiến dâng trọn vẹn, vô điều kiện và hoan hỉ đến vậy như lúc bản năng người mẹ trong cô thức tỉnh. Vì đứa trẻ không phải ruột thịt này, vì má lúm đồng tiền trên má nó và chiếc mũ to sụ của nó, cô sẵn sàng dâng hiến cả sinh mạng, dâng hiến trong niềm hân hoan và những giọt nước mắt hạnh phúc tột cùng. Tại sao ư? Chà, tại sao lại thế nhỉ?

Tiễn Sasha đến trường xong, cô thong thả quay về nhà trong tâm trạng mãn nguyện, thanh thản và ngập tràn tình yêu thương. Gương mặt đã trẻ trung hơn trong nửa năm qua của cô nở nụ cười rạng rỡ. Những người quen gặp cô trên đường đều mỉm cười chào đón đầy thiện cảm.

“Dạo này thế nào rồi Olga Semyonovna, cục cưng? Cuộc sống vẫn ổn chứ, cưng ơi?”

“Chương trình học cấp ba bây giờ nặng lắm các anh chị ạ,” cô khoe ngoài chợ. “Đâu phải chuyện đùa. Hôm qua lớp một phải học thuộc lòng cả một bài ngụ ngôn, dịch bài tiếng Latinh và giải toán. Trẻ con bé bỏng thế kia làm sao gánh nổi ngần ấy thứ?”

Và cô say sưa kể về thầy giáo, bài học cùng sách giáo khoa, nhắc lại y chang những gì Sasha đã phàn nàn.

Đúng ba giờ chiều họ dùng bữa. Buổi tối họ cùng nhau chuẩn bị bài vở, và Olenka lại khóc sụt sùi cùng Sasha trước những bài toán khó. Đến giờ bắt cô đi ngủ, cô nán lại rất lâu để làm dấu thánh và lầm rầm cầu nguyện cho cậu bé. Và khi nằm trên giường, cô lại mơ mộng về một tương lai xa xôi mờ ảo, khi Sasha học xong trở thành bác sĩ hoặc kỹ sư, có một ngôi nhà to lớn của riêng mình với ngựa xe đầy đủ, lập gia đình và sinh con đẻ cái. Cô chìm vào giấc ngủ trong khi ý nghĩ ấy vẫn vương vấn, và những giọt nước mắt lăn dài từ đôi mắt đang nhắm nghiền xuống gò má. Con mèo đen nằm bên cạnh kêu rè rè: “Mrr, mrr, mrr.”

Bỗng vang lên những tiếng gõ cổng dồn dập. Olenka bừng tỉnh, thở không ra hơi, tim đập thình thịch liên hồi. Nửa phút sau lại một tiếng gõ nữa vang lên.

“Điện báo từ Kharkov rồi,” cô thầm nghĩ, toàn thân run lập cập. “Mẹ nó muốn gọi Sasha về Kharkov. Ôi lạy Chúa tôi!”

Cô rơi vào tuyệt vọng. Đầu óc, tay chân lạnh ngắt. Cô cảm thấy mình là sinh vật bất hạnh nhất trên cõi đời này. Nhưng chỉ một phút sau, cô nghe thấy tiếng người nói chuyện. Hóa ra là viên bác sĩ thú y đi câu lạc bộ về.

“Ơn Chúa,” cô thầm nghĩ. Gánh nặng trong lòng dần tan biến, cô lại thấy nhẹ nhõm bình yên. Và cô quay trở lại giường, nghĩ về Sasha đang say ngủ ở căn phòng bên cạnh, miệng đôi khi lẩm bẩm mớ:

“Tao cho mày biết tay! Tránh ra! Đừng có giở trò quậy phá nữa!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.