Vua chúa muốn mưu việc trị nước, chăm học phải được đặt lên hàng đầu.
Câu nói này thật ý nghĩa sâu xa làm sao.
Do chuyên nghiên cứu về lịch sử triều đại Gia Tĩnh, Từ Ngôn có sự thấu hiểu toàn diện đối với vị đạo quân hoàng đế này.
Các tác phẩm thơ ca của vua Gia Tĩnh không nhiều, những bài lưu truyền đến đời sau lại càng hiếm hoi, nhưng vị thiên tử nhà Đại Minh này vẫn để lại được vài bài thơ hay.
Trong đó có một bài thơ được Gia Tĩnh đế sáng tác khi cảm hoạn từ việc ngự Kinh diên giảng giải "Đại học diễn nghĩa".
Toàn bài thơ là:
Vua chúa muốn mưu việc trị nước, chăm học phải đặt lên hàng đầu.
Dưới làm chủ của muôn dân, trên mới gánh vác ơn trời.
Lo việc trị nước cốt ở gốc, gốc vững thì tự khắc giáo hóa được yên.
Bậc quân vương học tập, thứ tự trước sau rõ ràng.
Chính tâm làm cho ý được thành, ý chí kiên định quyết không dời đổi.
Ý chí của ta đã định, đạo lý sao còn đảo điên.
Thân tu thì bản tâm ngay thẳng, trị nhà hay trị nước cũng một đạo lý ấy.
Nước trị thì mới sáng tỏ, muôn nước theo đó mà hòa hợp.
Nối theo điển chương vua Nghiêu, noi theo thiên văn chương của Văn vương.
Muôn nước bắt đầu từ việc tu thân, lòng trẫm vẫn luôn hằng ghi nhớ.
Kinh diên chính là việc bề tôi giảng học cho hoàng đế, mặc dù mô hình này đã được chính thức hóa từ triều đại nhà Tống, nhưng thực sự đạt đến đỉnh cao lại là vào triều đại nhà Minh.
Phương thức giảng dạy của Kinh diên nhà Minh được xác lập vào triều đại của Anh Tông.
Anh Tông lên ngôi khi còn nhỏ tuổi, Tam Dương vô cùng quan tâm đến vấn đề giáo dục của vị hoàng đế nhỏ tuổi, đã tự mình định ra nghi thức Kinh diên. Cứ vào các ngày mùng hai, mùng mười, hai mươi hằng tháng sẽ tiến hành vào giảng ba lần, hoàng đế ngự ở Văn Hoa điện, gặp trời lạnh hay nóng bức thì tạm hoãn.
Ngoài ba buổi Kinh diên bắt buộc mỗi tháng, còn có Nhật giảng, hay còn gọi là Tiểu giảng, Tiểu Kinh diên.
Người nhà Minh coi trọng Kinh diên vô cùng, cho rằng "Kinh diên một ngày không bỏ, thì thánh học thánh đức tăng thêm một ngày tiến bộ; một tháng không bỏ, thì thánh học thánh đức tăng thêm một tháng tiến bộ. Phàm tâm tư tinh thần của con người hễ vướng bận nhiều việc, thì tự nhiên sẽ trở nên lanh lợi mẫn tiếu. Kinh diên giảng học, chính là nơi để bậc nhân chủ mở rộng tâm tư, xốc vác tinh thần vậy."
Đế vương cũng là con người, đã là người thì ai chẳng có tính lười biếng, thời gian lâu dần liền đâm ra chán ghét việc ngự Kinh diên. Lý do bọn họ đưa ra cũng muôn hình vạn trạng, nào là long thể bất an, trời đông giá rét hay nắng hạn mùa hè, tìm đủ mọi cách để trốn tránh việc giảng học Kinh diên.
Đến lúc này chính là lúc các vị ngôn quan phát huy tác dụng, họ sẽ dâng lời can gián: "Đại tiết của đế vương không gì quan trọng hơn việc giảng học, giảng học không gì trọng yếu hơn Kinh diên."
Tóm lại, chiếm lấy cao điểm đạo đức để ép buộc quân vương chấp nhận Kinh diên.
Nói chung, những vị vua anh minh đều rất đồng tình với phương thức giảng học như Kinh diên này. Ví dụ điển hình nhất chính là Hoằng Trị đế.
So với điều đó, ấn tượng mà vua Gia Tĩnh để lại trong lịch sử lại chẳng tốt đẹp cho lắm. Nào là danh hiệu đạo quân hoàng đế, liên tiếp hai mươi năm không lên triều.
Thực ra vào thuở ban đầu mới lên ngôi, vua Gia Tĩnh vẫn rất chăm chỉ hiếu học.
Được tôn lên ngôi với thân phận là hoàng thân quốc thích, ông vô cùng cần dùng lễ pháp để chứng minh cho thân phận của mình.
Mà việc thường xuyên ngự Kinh diên, tạo dựng hình ảnh một vị vua cần mẫn là vô cùng quan trọng. Chưa kể đến những thao tác cơ bản như lâm triều xử lý chính sự.
Có thể nói là trước năm Gia Tĩnh thứ mười lăm, vị hoàng đế này vẫn rất xứng làm tròn trách nhiệm.
Chuyện vua Gia Tĩnh không lên triều là ở giai đoạn trung và hậu kỳ, nguyên nhân thì có muôn hình vạn trạng. Bước ngoặt quan trọng nhất là vào năm Gia Tĩnh thứ hai mươi mácth, thiên tử ngự ở Dực Khôn cung, lại suýt bị cung nữ siết cổ đến chết ngay trong giấc mộng.
Vua Gia Tĩnh may mắn thoát chết trong gang tấc vẫn còn cảm thấy sợ hãi hú vía, bèn dọn hẳn ra khỏi Tử Cấm Thành để chuyển đến ở Tây Uyển. Cứ thế, ông bắt đầu cuộc đời tiêu sái không lên triều suốt hai mươi năm.
Bài thơ ngự Kinh diên giảng giải "Đại học diễn nghĩa" cảm hoạn này tất nhiên là do vua Gia Tĩnh sáng tác vào thời kỳ đầu. Lúc đó ông vẫn là một tấm gương cần cù hiếu học, với tư cách là quân phụ lấy thân mình làm gương để làm biểun mẫu cho sĩ tử trong thiên hạ.
Nền tảng thống trị của nhà Minh có hai điểm, một là Hiếu.
Đúng như câu triều đình thánh minh lấy chữ hiếu để trị thiên hạ.
Thứ hai chính là Học.
Thái tổ hoàng đế Chu Nguyên Chương đã sáng lập ra chế độ hộ tịch, phân chia con dân trong thiên hạ thành các loại như hộ dân, hộ lính, hộ thợ, hộ nhạc... Cha làm nghề gì, con cái cũng bắt buộc phải đời đời nối nghiệp nghề ấy.
Đúng là "Rồng sinh rồng, phượng sinh phượng, con chuột thì biết đào hang."
Cứ như vậy thời gian lâu dần, ắt sẽ không tránh khỏi việc xuất hiện hiện tượng phân hóa giai cấp.
Thế thì chế độ khoa cử chính là con đường duy nhất để điều tiết sự cân bằng, giúp cho bách tính bình dân thay đổi vận mệnh của chính mình.
Tứ thư ngũ kinh rất rườm rà, văn bát cổ rất khó viết, nhưng chính vì thế mà bách tính bình dân mới có được hy vọng.
Những công tử nhà giàu sang quyền quý suốt ngày chìm đắm trong yến tiệc linh đình, thê thiếp xinh đẹp vây quanh, quen sống nhàn nhã tất nhiên sẽ không đời nào chịu làm cái việc vất vả nhường ấy. Nếu vận may tốt, lại còn có thể được ân phong quan chức để làm, tệ nhất thì đến Quốc Tử Giám làm một tên giám sinh cũng là chuyện vô cùng tuyệt vời.
Nếu việc đọc sách mà đơn giản dễ dàng, e rằng những vị công tử nhà giàu này sẽ dập tắt luôn cả tia hy vọng duy nhất của bách tính bình dân.
Mở khoa thi chọn sĩ dù có những điểm hạn chế, nhưng đó lại là phương thức tuyển chọn hợp lý nhất vào thời điểm bấy giờ.
Sáng làm anh nông dân cày ruộng, chiều đã bước lên điện của thiên tử.
Mười năm đèn sách không ai hỏi tới, một bước thành danh thiên hạ đều hay.
Đều nói về đạo lý này vậy.
Thiên tử muốn tuyên truyền việc chăm học, tự nhiên phải lấy bản thân mình ra làm biểu mẫu. Giống như việc Đại Minh coi trọng nông nghiệp, hoàng đế sẽ tự mình "cày ruộng" vậy.
Trong mắt vua Gia Tĩnh, "chăm học" là một đại sự có tầm quan trọng ngang hàng với "làm ruộng".
Cho nên ông mới có thể sáng tác ra câu thơ "Vua chúa muốn mưu việc trị nước, chăm học phải đặt lên hàng đầu".
So với điều đó, buôn bán kinh doanh chỉ có thể coi là con đường mạt đạo.
Việc vua Gia Tĩnh sai Uông thái giám chuyển lời đến Từ Ngôn rằng "Vua chúa muốn mưu việc trị nước, chăm học phải đặt lên hàng đầu", chính là để răn dạy cậu phải chăm chỉ hiếu học, đi theo con đường khoa cử chính đồ.
Có thể nói, đây là việc chỉ rõ phương hướng tương lai cho Từ Ngôn.
Trong mắt Từ tiểu lang quân, câu nói này của vua Gia Tĩnh thực sự quá ư quan trọng!
Mặc dù hoàng đế không ban tước phong quan tiến chức cho cậu, nhưng điều đó lại tương đương với việc ban cho cậu một lời hứa hẹn. Chỉ thiếu điều nói thẳng rằng tiểu tử ngươi hãy chăm chỉ học hành, thi cử cho thật tốt. Chỉ cần ngươi thi đỗ tiến sĩ, trẫm nhất định sẽ trọng dụng ngươi.
Bốn chữ "lưu dấu trong lòng vua" nói thì dễ, nhưng để làm được thực sự rất khó.
Hoàng đế trăm công nghìn việc, muốn ghi nhớ một tên đồng sinh chưa có tước vị quan lại là điều vô cùng khó khăn.
Thế mà Từ Ngôn lại làm được.
Việc dâng hiến thụy khí không những giúp cho tuần phủ Chu Hoàn, tri phủ Mã Thiện Viễn, tri huyện Triệu Nhược Hải cùng một đám người được thăng quan tiến tước, mà còn khiến cho vua Gia Tĩnh ghi nhớ cái tên Từ Ngôn này.
Hạt giống một khi đã được vùi sâu trong lòng đất, ngày sau nhất định sẽ nảy mầm sinh trưởng, hoàn toàn không cần phải lo lắng gì.
Mà việc vua Gia Tĩnh không công khai ban thưởng cho Từ Ngôn trên mặt nổi, giờ ngẫm lại hóa ra lại là sự bảo vệ dành cho cậu.
Cái gọi là trong cái rủi có cái may.
Nếu Từ Ngôn đi theo con đường khoa cử, cậu nhất định phải bảo vệ danh tiếng của mình cho thật tốt.
Đám người đọc sách là thể loại bảo thủ nhất, cái gọi là thanh lưu khinh bỉ tất cả những kẻ leo lên bằng con đường nịnh bợ luồn cúi.
Trước có quan truyền phụng thời Thành Hóa bị các ngôn quan thanh lưu phản đối, sau có tể tướng từ thanh từ Nghiêm Tung bị các gián thần dâng sớ khóc ra máu đàn hạch.
Cho nên mới nói, việc dâng hiến thụy khí cũng giống như một con dao hai lưỡi.
Từ Ngôn không tự mình đứng ra, mà thông qua tuyến đường quan trường Chiết Giang, có thể nói là vô cùng kín đáo.
Vua Gia Tĩnh cũng rất rõ ràng những uẩn khúc trong đó, rất chú trọng đến việc bảo vệ Từ Ngôn, nên đã không hạ thánh chỉ ban thưởng linh đình cho cậu.
Như vậy Từ Ngôn vừa nhân cơ hội này tạo ân huệ với quan lại lớn nhỏ khắp cõi Chiết Giang, vừa bảo toàn được chiếc ghế của Chu Hoàn, lại vừa trở thành tiểu lang quân hồng nhân được hoàng đế để tâm khắc ghi, quả thực là một mũi tên trúng ba đích.
Ban đầu Từ Ngôn cũng không ngờ tới sẽ đạt được hiệu quả tốt đẹp nhường này, nhưng hiện tại xem ra lựa chọn lúc ban đầu của cậu quả thực quá ư chính xác.
Từ Ngôn lờ mờ cảm thấy sự xuất hiện của cậu đã dần dần thay đổi quỹ đạo của lịch sử, hiệu ứng cánh bướm đang dần hiện rõ, còn về việc có thể dẫn dắt Đại Minh đi đến phương hướng nào thì cứ để thời gian chứng minh tất cả vậy!
---❊ ❖ ❊---