Thật tuyệt vời làm sao sau bao ngày xa cách được thức dậy vào một buổi sáng ngập nắng và thấy mình đã ở chốn bình yên! Ferdinand gần như không thể tin rằng anh đã thực sự trở lại Armine. Anh giật mình chồm dậy trên giường, dụi mắt và ngắm nhìn những cảnh tượng vừa lạ lẫm vừa thân quen ấy; để rồi trong chốc lát, Malta và Trung đoàn Bộ binh Hoàng gia, Bath cùng vị hôn thê của anh tất cả đều như một giấc mơ; rồi anh nhớ lại chuyến ghé thăm của người mẹ kính yêu vào chính căn phòng này ngay trước ngày anh lên đường đi xa lần đầu tiên. Anh đã trở về; anh đã trở về bình an và hạnh phúc, để thực hiện mọi kỳ vọng của mẹ và đền đáp tấm lòng quan tâm sâu sắc của người. Chưa từng có ai cảm thấy mãn nguyện hơn Ferdinand Armine, mãn nguyện hơn và biết ơn hơn.
Anh đứng dậy và mở cánh cửa sổ; một làn hương thơm ngát và sảng khoái tràn ngập căn phòng; anh phóng tầm mắt nhìn khắp khu công viên rộng lớn và tươi đẹp với một cảm giác hân hoan và tự hào; những hàng cây cao vươn mình đổ những chiếc bóng dài hơn trên thảm cỏ xanh mờ sương sớm, và những làn sương cuối cùng đang tan dần khỏi những khu rừng phía xa, hòa quyện vào bầu trời không một gợn mây. Mọi thứ đều ngọt ngào và tĩnh lặng, ngoại trừ tiếng chim hót líu lo, hay tiếng chuông lanh lảnh của chú cừu đầu đàn nào đó đang chuyển động. Đó là một buổi sáng mùa thu trù phú. Thế nhưng, bất chấp mọi sự hào hứng trước những viễn cảnh mới trong đời và ý thức hạnh phúc ngập tràn của những người mình yêu quý, anh vẫn không khỏi cảm nhận thấy một sự thay đổi lớn lao đã diễn ra trong tâm hồn mình kể từ những ngày anh thường lang thang ở chốn quen thuộc thủa thiếu thời ấy. Sự ngây thơ của anh đã mất. Cuộc sống không còn là trạng thái đắm chìm sâu lắng và trọn vẹn trong nghĩa vụ và tình yêu mà từ đó anh từng bị đánh thức để rồi vướng bận biết bao lo toan; và nếu không phải là sự hối hận, thì ít nhất cũng là niềm cắn rứt khôn nguôi. Khi ấy anh chẳng có bí mật nào. Sự tồn tại khi đó không phải là một sự ngụy biện, mà là một trạng thái bình yên, chân thành của niềm vui thanh thản. Tình cảm khi ấy không bị thỏa hiệp vì lợi ích; và lúc đó người ta theo đuổi những giá trị cao đẹp, chứ không phải sự tiện lợi. “Nhưng có lẽ cuộc đời là thế,” Ferdinand lẩm bẩm; “chúng ta chỉ biết triết lý khi sự việc đã quá muộn màng; chẳng có gì ngớ ngẩn hơn là sự hối tiếc. Sự việc này dẫn đến sự việc khác: điều chúng ta mong đợi hiếm khi xảy ra; điều ít ngờ tới nhất thường lại đến; và thời gian mới là minh chứng rõ nhất cho việc điều gì có lợi nhất cho chúng ta. Và chắc chắn tôi là kẻ cuối cùng nên mang bộ mặt ủ dột. Dòng dõi cổ xưa của chúng ta vươn lên từ đống tro tàn; những người tôi yêu thương nhất trên đời không chỉ hạnh phúc, mà còn mang ơn tôi vì hạnh phúc ấy; còn bản thân tôi, với mọi ân huệ của vận mệnh bỗng chốc đổ dồn dưới chân, tôi còn có thể mong mỏi điều gì hơn thế nữa? Chẳng lẽ tôi chưa mãn nguyện? Tại sao tôi lại phải tự hỏi bản thân điều đó nhỉ? Thú thật là tôi chẳng biết. Nó cứ trồi lên trong tâm trí tôi như một con quỷ sứ và phá hỏng mọi thứ. Cô gái ấy trẻ trung, cao quý, xinh đẹp và yêu tôi. Còn tôi thì sao? Tôi yêu nàng, hay ít nhất tôi cho là mình yêu nàng. Dù sao đi nữa thì tôi cũng yêu nàng nhiều như tôi từng yêu, hoặc đã từng yêu, bất kỳ người phụ nữ nào khác. Do đó, chẳng có sự hy sinh lớn lao nào từ phía tôi cả; đáng lẽ không nên có và thực ra cũng chẳng có; trừ phi là một người đàn ông vốn dĩ chẳng mọc nổi sự tiếc nuối khi phải từ bỏ mọi cơ hội lãng mạn và đê mê mà không qua đấu tranh.”
“Tôi không hiểu sao nữa, nhưng có những khoảnh khắc tôi gần như ước gì mình không có cha lẫn mẹ; chà! không lấy một người bạn hay họ hàng nào trên thế giới này, và ước gì Armine chìm sâu xuống tận tâm địa trái đất. Nếu chỉ đứng một mình trên cõi đời này, ngẫm lại tôi có lẽ sẽ tìm được chốn phù hợp với mình; còn giờ đây mọi thứ dường như đã được định đoạt sẵn cho tôi từ trước. Tâm hồn tôi chẳng có khoảng không để tự do tung hoành. Có điều gì đó thì thầm vào tai tôi rằng, bất chấp sự thịnh vượng rực rỡ này, cách sống ấy chẳng khôn ngoan cũng chẳng tốt đẹp gì. Chúa biết tôi không phải kẻ vô cảm và rất biết ơn; thế nhưng nếu cuộc đời này chẳng thể mang lại cho tôi một sự đồng cảm sâu sắc nào hơn những gì tôi từng trải qua, thì tôi buộc phải coi nó, dẫu có đi kèm với mọi suy tư ngọt ngào đi nữa, chẳng khác nào một sự ảo tưởng tẻ nhạt.”
Trong lúc Ferdinand đang mải triết lý bên khung cửa sổ, Glastonbury xuất hiện phía bên dưới; và sự hiện diện của ông đã xua tan đi đám mây mù đang tụ lại ấy. “Chúng ta hãy cùng ăn sáng nhé,” Ferdinand đề nghị. “Tôi đã ăn sáng cách đây hai tiếng rồi,” vị ẩn sĩ ở cổng đáp. “Tôi hy vọng rằng trong đêm đầu tiên trở về Armine, anh đã có những giấc mơ cát tường.”
“Cái giường và tôi là những người bạn cũ,” Ferdinand nói, “và chúng tôi hợp nhau lắm. Nói cho anh nghe điều này nhé, Glastonbury thân mến, sáng nay chúng ta sẽ đi dạo cùng nhau và bàn về những dự định của chúng ta tối qua. Hãy vào thư viện và xem qua các tập phác thảo của tôi đi: anh sẽ thấy chúng để trên hộp súng lục của tôi, rồi tôi sẽ ra ngay với anh.”
Đúng giờ hẹn, hai người bạn bắt đầu chuyến dạo chơi. Ferdinand nhanh chóng trở nên phấn khích trước những gợi ý đa dạng của Glastonbury nhằm hoàn thiện lâu đài; còn bản thân ông lão, đứng giữa các công trình kiến trúc do chính mình tạo ra và việc phục hưng dòng họ mà ông đã tận tụy bấy lâu, chìm đắm trong niềm nhiệt huyết say sưa, tạo nên một sự đối lập thú vị với phong thái điềm đạm và ôn hòa thường ngày của ông.
“Ông nội của anh là một người vĩ đại,” Glastonbury nói, người mà vào những ngày trước hiếm khi dám nhắc đến tên của ngài Ferdinand lừng danh: “chắc chắn ngài là một người vô cùng vĩ đại. Ngài có những tư tưởng lớn lao. Ngài sẽ tự hào biết bao về viễn cảnh hiện tại của chúng ta! Thật lạ lùng làm sao khi tôi luôn nuôi dưỡng một niềm tin mãnh liệt vào vận mệnh của gia tộc anh. Tôi vẫn đinh ninh rằng Đứa Trời sẽ không bỏ rơi chúng ta. Chắc chắn chúng ta phải làm một cái cửa sắt nâng.”
“Chắc chắn rồi, một cái cửa sắt nâng,” Ferdinand nói; “chính anh sẽ tự tay phác thảo mọi bản vẽ, Glastonbury thân mến ạ, và giám sát mọi công việc. Chúng ta sẽ không để lọt một lỗi sai niên đại nào cả. Mọi thứ phải thật hoàn hảo.”
“Hoàn hảo,” Glastonbury lặp lại; “thực sự hoàn hảo. Đó sẽ là một lâu đài kiến trúc Gothic hoàn mỹ. Tôi đã chuẩn bị sẵn những bảo vật cho công trình này. Toàn bộ tâm huyết cả đời tôi đều hướng về mục tiêu ấy. Tôi có tất cả các huy hiệu của gia tộc anh kể từ thời kỳ Chinh phạt. Sẽ có ba trăm chiếc khiên trong đại sảnh. Tôi sẽ tự tay sơn vẽ chúng. Ồ! Trên thế giới này chẳng có nơi nào sánh được với Armine!”
“Không nơi nào cả,” Ferdinand nói; “tôi đã đi đây đi đó nhiều, nhưng xét cho cùng thì chẳng đâu bằng Armine.”
“Giá như chúng ta sinh ra đã quen với sự vinh hiển này,” Glastonbury nói, “hẳn chúng ta đã chẳng mảy may coi trọng nó. Chúng ta đã được tôi luyện một cách ôn hòa và khôn ngoan. Tôi không thể không thán phục sự khôn ngoan của Thượng Đế, Đấng đã điều hòa dòng máu quá đỗi sục sôi của gia tộc anh qua một sự an bài đầy khôn khéo như thế.”
“Tôi sẽ thấy tiếc nếu phải phá bỏ chốn cũ này,” Ferdinand nói.
“Không thể thế được,” Glastonbury nói; “chúng ta đã sống ở đó rất hạnh phúc, dẫu có đạm bạc đi chăng nữa.”
“Ước gì chúng ta có thể di dời nó sang một góc khác của công viên, giống như ngôi nhà ở Loreto vậy,” Ferdinand mỉm cười nói.
“Chúng ta có thể phủ dây thường xuân lên đó,” Glastonbury nhận xét, nét mặt có phần đăm chiêu.
Buổi sáng trôi qua thật nhanh trong những kế hoạch và viễn cảnh thú vị ấy. Cuối cùng hai người bạn cũng chia tay nhau, hẹn gặp lại vào bữa tối. Glastonbury lui về tòa tháp của mình, còn Ferdinand xách súng thong thả bước vào khu rừng hoang sơ xung quanh.
Nhưng anh chẳng có chút hứng thú nào với việc săn bắn. Cuộc trò chuyện với Glastonbury đã gợi lên hàng ngàn suy nghĩ mà anh khao khát được ngẫm ngợi. Cuộc đời anh kể từ khi trở về Anh quốc là một chuỗi những sự kiện kích thích liên tục, khiến anh có rất ít cơ hội để chìm đắm trong sự tĩnh lặng tự vẫn; và giờ đây khi đã ở Armine, lại chỉ có một mình, sự tương phản giữa hoàn cảnh quá khứ và hiện tại tác động mạnh mẽ đến mức anh không thể kìm lòng mà thả hồn vào dòng suy tưởng về vận thật của mình. Thật kỳ diệu, tất cả đều kỳ diệu, vô cùng, vô cùng kỳ diệu. Quả thực dường như có một sự an bài mang tính định mệnh trong toàn bộ câu chuyện này, đúng như Glastonbury đã khẳng định. Sự suy vi của gia tộc, sự kiên định anh dũng và giờ đây có vẻ như đã được dự liệu trước mà người cha đã bám lấy sản nghiệp không sinh lợi của họ trong mọi thiếu thốn gian khổ, sự học hành của chính anh, sự lụi tàn của gia tộc bên phía người mẹ, những trò dại dột của chính anh từng là nguyên nhân mang lại biết bao bất hạnh nhưng giờ đây ngẫm lại dường như suốt thời gian qua chúng đang thúc đẩy anh tiến tới sự thịnh vượng; tất cả những điều đó cùng hàng ngàn nét tính cách và hoàn cảnh khác lướt qua tâm trí anh, và mỗi điều lại lần lượt trở thành chủ đề cho những suy ngẫm đa chiều của anh. Anh sẵn lòng tin rằng định mệnh đã dành sẵn cho anh vai trò của một kẻ khôi phục; trách nhiệm ấy quả thực anh đã nhận lấy, thế nhưng——
Anh ngoảnh nhìn xung quanh như thể muốn tìm xem con quỷ nào đang thì thầm bên tai mình. Anh đứng một mình. Chẳng có ai ở đó hay ở gần đây. Xung quanh anh là những vòm cây tĩnh mịch, và hầu như không một tiếng chim hót hay tiếng vo ve của côn trùng nào làm xáo trộn sự tĩnh lặng sâu lắng ấy. Nhưng một đám mây dường như vẫn vương trên vương miện trán thanh tao và u buồn của Ferdinand Armine. Anh ngả mình xuống thảm cỏ, một tay gối đầu, tay kia ngắt những đóa hoa dại rồi cũng vội vã, gần như bực bội vứt đi.
“Dù tôi có che giấu thế nào đi nữa,” anh thốt lên, “tôi vẫn là một kẻ nạn nhân; dẫu tôi có ngụy trang ra sao, thì mọi toan tính đều mang tính vụ lợi trần tục. Có điều gì đó, và chắc chắn phải có điều gì đó trên thế giới này tốt đẹp hơn quyền lực, sự giàu sang và địa vị; và hẳn phải có niềm hạnh phúc còn đê mê hơn cả việc đem lại hạnh phúc cho đấng sinh thành. Hỡi những giấc mơ mà ta đã bao lần đắm chìm một cách say đắm, chẳng lẽ rốt cuộc các ngươi chỉ là những ảo ảnh viển vông và phù phiếm đó sao? Phải chăng tình yêu quả thực là một trò ảo tưởng, hay ta là kẻ duy nhất trong nhân loại được miễn trừ khỏi thứ xiềng xích ngọt ngào của nó? Nó hẳn phải là một ảo tưởng. Mọi người đều chế nhạo nó, mọi người đều đùa cợt về nó, tất cả đều đồng lòng gán cho nó danh hiệu sự phù phiếm của những sự phù phiếm. Và kinh nghiệm của tôi có mâu thuẫn với lời đồn đại cay nghiệt nhưng phổ biến này không? Hỡi ôi! Tôi từng thấy hay biết được những gì để bác bỏ cái tiếng xấu này chứ? Chẳng có ai, chẳng có gì cả. Tôi từng gặp một số phụ nữ chắc chắn là xinh đẹp hơn Kate, và rất, rất nhiều người kém xinh hơn; và vài người đã bước qua đời tôi với vẻ kiều diễm hoang dã và rực rỡ, từng khiến mắt tôi lóa đi trong giây lát và có lẽ cũng từng có lúc l dụ dỗ tôi lệch khỏi con đường của mình. Nhưng những vì sao băng ấy chỉ lóe lên chốc lát trên bầu trời của tôi, để rồi chính thứ ánh sáng tàn phai ấy càng làm tôi thấm thía hơn sự u tối của nó. Vậy thì hãy để tôi tin rằng, ồ, hãy để tôi – trong số muôn người – tin rằng những hình hài truyền cảm hứng cho các nhà điêu khắc và họa sĩ vốn không có hình mẫu nào trong tự nhiên; rằng sự kết hợp giữa vẻ đẹp và nét duyên dáng, giữa trí tuệ cuốn hút và lòng tận tụy sâu sắc mà con người ta hằng ngẫm ngợi trong những giờ phút cô đơn tuổi trẻ, chỉ là lời hứa hẹn về một thế giới tốt đẹp hơn chứ không phải thứ bùa mê của cõi đời này.
Thế nhưng, nỗi kinh hoàng nào ẩn chứa trong chân lý ấy! Thật tuyệt vọng biết bao! Thật điên rồ làm sao! Đúng vậy! Ngay trong khoảnh khắc soi xét khắt khe nhất này, tôi mới thấm thía sâu sắc làm sao rằng một cuộc đời không có tình yêu còn tồi tệ hơn cái chết! Thật vô nghĩa và trống rỗng, thật tẻ nhạt và vô kết quả biết bao khi nhìn nhận tất cả những ngẫu nhiên hào nhoáng của sự tồn tại mà con người tranh giành nhau, nếu thiếu đi thứ bùa mê thiết yếu và bao trùm ấy! Thật là một thế giới không có mặt trời! Vâng! Nếu thiếu đi sự đồng điệu siêu việt này, sự giàu sang, địa vị, thậm chí cả quyền lực và danh tiếng, đối với tôi suy cho cùng cũng chẳng khác nào những viên ngọc được khảm trên một chiếc vương niệm bằng chì!
Và ai mà biết được liệu sinh thể phi thường ấy – kẻ có cuộc đời huy hoàng nhưng lụi tàn mà lâu đài này chính là biểu tượng đích thực – ý tôi là, ai mà biết được liệu bí mật về hành trình hoang dã và bất định của hắn có phải đang được giấu kín trong chính sự thiếu hụt tình yêu đáng buồn này không? Có lẽ trong lúc thế giới kia, cái thế giới nông cạn và ngớ ngẩn, đang trầm trồ và triết lý về lối sống phóng túng của hắn, đồng thời trút những lời nguyền rủa lên sự ích kỷ nhẫn tâm của hắn, thì rất có thể trong suốt thời gian ấy hắn vẫn đang khát khao một bầu ngực dịu êm nào để trút bỏ niềm đam mê ngập tràn của mình, hệt như tôi lúc này vậy!
Hỡi Thiên nhiên! Tại sao ngươi lại tươi đẹp đến thế? Trái tim tôi chẳng đòi hỏi, trí tưởng tượng cũng chẳng thể vẽ ra một khung cảnh nào ngọt ngào hay xinh tươi hơn những vòm cây xung quanh này. Vòm trời xanh thẳm này, ánh nắng vàng rực rỡ này, bóng râm sâu thẳm và hòa quyện này, những loài cây hiếm hoi và ngát hương kia, lùm thông xanh mướt cao vút nọ, và mặt hồ lấp lánh trôi với những chú thiên nga kiêu kỳ; tâm hồn tôi bị mê hoặc bởi tất cả vẻ đẹp và sự ngọt ngào này; tôi không hề cảm thấy thất vọng ở đây; tâm trí tôi ở đây không vượt trước thực tại; ở đây chẳng có lý do gì để ta phải thương tiếc cho những hoài bão chưa được thỏa mãn và những ham muốn viển vông. Phải chăng định mệnh của tôi là chỉ bị đánh gục trước những khát vọng thiết tha nhất của trái tim mình thôi sao?
Vào khoảnh khắc ấy, tiếng sủa vang dội và đầy kích động của lũ chó cách đó không xa đã kéo Ferdinand khỏi dòng suy tưởng. Anh gọi chúng lại, và chẳng mấy chốc một con đã tuân lệnh, nhưng ngay lập tức nó lại quay về phía người bạn của mình với những cử điệu ra hiệu rõ mệt mỏi, vừa thở hồng hộc vừa sủa vang, khiến Ferdinand đoán rằng có lẽ Basto đã mắc bẫy đâu đó; thế là, cầm lấy khẩu súng, anh tiến về phía giải cứu chú chó.
Đến sự ngạc nhiên của anh, khi vừa chuẩn bị bước ra từ một vòm cây vắt ngang thảm cỏ – nơi ở giữa mọc lên một cây tùng lớn – anh nhìn thấy một quý cô mặc trang phục cưỡi ngựa đang đứng trước gốc cây và rõ ràng đang ngắm nhìn những tỉ lệ hoàn mỹ của nó.

Gương mặt nàng ngẩng lên và bất động. Anh có cảm giác nó còn rạng rỡ hơn cả ánh mặt trời. Anh ngẩn ngơ ngắm nhìn vẻ đẹp chói lọi của làn da nàng, những đường nét thanh tú và đều đặn cùng đôi mắt to màu hoa violet, được viền bởi hàng lông mi dài và đen nhất mà anh từng thấy. Do tư thế đứng, chiếc mũ của nàng đã tuột về phía sau, để lộ vương miện trán cao và trong trẻo cùng những lọn tóc đen nhánh, óng ả được bện gọn gàng qua hai bên thái dương. Tổng thể gương mặt ấy là sự hòa quyện giữa sức sống rực rỡ và vẻ đẹp kinh điển mà chúng ta thường liên tưởng đến hình ảnh một nữ thần rừng đang bước nhẹ trên những thảm cỏ lấp lánh sương mai ở đỉnh Ida, hay lướt qua những lùm cây linh thiêng của Hy Lạp. Mặc dù vị tiểu thư ấy có lẽ chưa qua mười tám nồi bánh chưng, nhưng chiều cao của nàng vượt mức trung bình; thế nhưng ngôn ngữ không tài nào diễn tả hết sự cân đối đến ngạc nhiên của vóc dáng tuyệt mỹ ấy.
Chẳng có thứ tình yêu nào khác ngoài tình yêu sét đánh. Đó là thứ quả ngọt siêu việt và tuyệt trần sinh ra từ sự đồng điệu nguyên sơ và thuần khiết. Mọi thứ tình yêu khác đều là kết quả phi pháp của sự quan sát, suy ngẫm, thỏa hiệp, so sánh và tính toán thiệt hơn. Những thứ đam mê trường tồn bùng cháy tựa tia chớp: chúng thiêu đốt tâm hồn, nhưng lại sưởi ấm nó đến muôn đời. Thật khốn khổ cho kẻ nào có tình yêu dâng lên từng chút một trên mảnh đất tâm trí lạnh lẽo băng giá! Quả thực, một vài giờ ấm áp và rực rỡ đôi khi cũng có thể đến với hắn; một vài khoảnh khắc đỉnh cao huy hoàng, nơi hắn đắm mình trong cái mà hắn tưởng là ánh nắng vĩnh cửu. Nhưng rồi biết bao lần nó lại bị che khuất bởi những đám mây lo âu, biết bao lần bị làm cho lu mờ bởi tàn lụi của đau khổ và bất hạnh! Và chắc chắn như sự nảy nở dần dần của thứ tình cảm ấy chính là sự lụi tàn dần dần và hoàng hôn u sầu của nó. Khi ấy, trong ánh chiều tà lạnh lẽo và mờ mịt của tâm hồn, hắn nguyền rủa thói đời; bởi vì hắn đã u mê kỳ vọng rằng những cảm xúc có thể trở thành thói quen trong khi chúng lại chẳng đồng nhất, và bởi vì hắn đã để bản thân dẫn lối bởi sự quan sát của giác quan chứ không phải bởi nguồn cảm hứng của sự đồng điệu.
Giữa chốn giông bão và nhọc nhằn của tồn tại, bất ngờ trông thấy một sinh thể tuyệt mỹ, và ngay lập tức cảm nhận được một niềm xác tín mãnh liệt rằng vận mệnh của chúng ta sẽ mãi mãi gắn liền với hình hài kiều diễm ấy; rằng sẽ chẳng còn niềm vui nào khác ngoài niềm vui của nàng, chẳng còn nỗi buồn nào ngoài khi nàng phiền muộn; rằng trong tiếng thở dài yêu đương, trong nụ cười âu yếm của nàng, từ nay về sau tất cả đều là hạnh phúc; cảm thấy tham vọng phô trương của mình tan biến tựa như quả bầu khô quắt trước ánh nhìn của nàng; cảm thấy danh tiếng chỉ là trò bịp bợm và hậu thế chỉ là một lời nói dối; và sẵn sàng ngay lập tức, vì mục tiêu lớn lao này, đánh đổi và vứt bỏ mọi hy vọng, mối dây liên kết, mưu tính, vi phạm vì nàng mọi nghĩa vụ của xã hội; đó mới là một kẻ si tình, và đó mới là tình yêu! Tình cảm thật vĩ đại, siêu việt và thần thánh làm sao! Một ngọn lửa bất tử đang bùng cháy trong lồng ngực của kẻ tôn thờ và được tôn thờ. Hắn là một sinh thể thuộc về cõi thanh cao. Những tai ương của trần thế không thể chạm đến hắn. Những cuộc cách mạng đế quốc, những biến đổi tín điều, những đổi thay ý kiến, đối với hắn chỉ là mây gió và sao băng của một bầu trời giông bão. Những toan tính và tranh đấu của nhân loại, theo suy nghĩ của hắn, chẳng qua chỉ là nỗi lo âu của đám lùn còi cọc và những thành tựu kỳ quặc của loài vượn. Không gì có thể khuất phục nổi hắn. Hắn cười trừ trước sự mất mát của cải, mất mát bạn bè, mất mát danh dự. Hành động và suy nghĩ của con người đối với hắn đều vô nghĩa như nhau. Hắn không hòa mình vào những con đường nhộn nhịp vô cảm của họ, cũng chẳng tự nhận mình phải chịu trách nhiệm trước những trò giả tạo viển vông mà họ đang cúi đầu tôn sùng. Hắn là một thủy thủ trên biển cả cuộc đời, luôn dán chặt ánh mắt vào một vì sao duy nhất; và nếu vì sao ấy không tỏa sáng, hắn buông tay lái và hân hoan khi con thuyền của mình chìm xuống vực thẳm không đáy.
Phải! Chính thứ đam mê mãnh liệt ấy giờ đây đang bùng cháy trong lồng ngực của Ferdinand Armine, khi anh, trong vẻ mặt tái nhợt và run rẩy, lùi lại vài bước khỏi cảnh tượng choáng ngợp và tựa lưng vào một thân cây giữa mớ hỗn độn của cảm xúc. Anh vừa nhìn thấy cái gì? Tầm nhìn say đắm nào vừa hiện lên trước mắt anh? Anh đang cảm thấy gì? Xung động hoang dại, ngọt ngào và điên cuồng nào đang bao trùm lấy cơ thể anh lúc này? Một cơn bão dường như đang cuộn trào trong tâm hồn anh, một sức gió mạnh mẽ đang quét sạch trên đường đi của nó những đám mây u ám và hơi nước đọng lại qua bao năm tháng. Anh thực sự im lặng, bởi anh chẳng thể thốt nên lời; dẫu cho giọt mồ hôi lớn đọng trên trán và lớp bọt mỏng vương trên khóe môi đã chứng minh cho chiến thắng đầy nhọc nhằn của đam mê trước lời nói. Nhưng, hệt như ngọn gió quét sạch bầu trời, đam mê cuối cùng cũng mang lại sự bình yên cho tâm hồn. Sự hỗn loạn trong tâm trí anh dần lắng xuống; những ký ức thoáng qua, những suy nghĩ vụt bay từng rượt đuổi nhau trong trật tự hoang dại ấy, nay đã tan biến và nhạt nhòa, nhường chỗ cho một cảm giác thanh thản rạng ngời, một ý thức về cái đẹp, về niềm vui, và về thứ hạnh phúc đang bao quanh và lơ lửng xung quanh.
Anh bước tới và ngắm nhìn lần nữa; vị tiểu thư vẫn ở đó. Tư thế của nàng quả thực đã thay đổi; nàng vừa ngắt một bông hoa và đang ngắm nghía vẻ đẹp của nó.
“Henrietta!” một giọng nam vang lên từ khu rừng bên cạnh. Trước khi nàng kịp đáp lời, một người đàn ông bước ra, một người ở tuổi trung niên nhưng có vẻ ngoài cực kỳ ưa nhìn. Ông cao lớn, đường hoàng, da trắng, với chiếc mũi khoằm. Một trong những con chú chó của Ferdinand chạy theo ông và sủa vang.
“Cha chẳng tìm thấy người làm vườn ở đâu cả,” người đàn ông nói; “cha nghĩ tốt hơn là chúng ta nên lên ngựa lại thôi.”
“Ôi chao! Thật đáng tiếc làm sao!” vị tiểu thư thốt lên.
“Xin hãy để tôi làm hướng dẫn viên cho quý vị,” Ferdinand bước lên nói.
Vị tiểu thư hơi giật mình; người đàn ông hoàn toàn không tỏ ra bối rối, niềm nở chào đón Ferdinand và nói, “Chúng tôi cảm thấy mình đang làm phiền đấy, thưa anh. Nhưng người phụ nữ ở nhà gác đã bảo chúng tôi rằng hiện tại gia đình không có ở đây, và chúng tôi sẽ gặp chồng cô ấy ở trong khuân viên.”
“Gia đình không có ở Armine,” Ferdinand đáp; “tuy nhiên tôi chắc chắn rằng ngài Ratcliffe hẳn sẽ rất vui lòng để quý vị đi dạo trong khuôn viên bao lâu tùy thích; và vì tôi rất rành nơi này, tôi sẽ rất lấy làm vinh hạnh được làm hướng dẫn viên cho quý vị.”
“Anh thật quá ư lịch thiệp, thưa anh,” người đàn ông đáp lại; và người đồng hành xinh đẹp của ông đã thưởng cho Ferdinand một nụ cười rạng rỡ tựa ánh nắng mặt trời, lướt quanh gương mặt nàng cho đến khi đọng lại thành hai lún đồng tiền tuyệt đẹp, đồng thời hé lộ cho anh thấy hàm răng mà trong khoảnh khắc, anh tin rằng chính là nét đẹp nhất trên gương mặt tuyệt trần ấy.
Họ thong thả bước đi, từng bước chân lại mở ra những vẻ đẹp mới trên chặng đường đi và gợi lên từ hai người bạn đồng hành những lời ngợi khen đầy say sưa. Những vòm cây mờ ảo, những bãi cỏ lấp lánh, những hàng cây cao quý hiếm, những bụi cây tươi tốt, hồ nước tịch mịch và hẻo lánh lần lượt mê hoặc họ, cho đến cuối cùng, Ferdinand – người đã dẫn dắt họ bằng gu thẩm mỹ sành sỏi qua tất cả những điểm nổi bật nhất của khu vườn dạo – đã đưa họ đến trước những bức tường của lâu đài.
“Và đây là Lâu đài Armine,” anh nói; “nó chẳng khác nào một lớp vỏ rỗng là bao, thế nhưng lại chứa đựng một vài thứ mà quý vị có thể muốn xem.”
“Ồ! Chắc chắn rồi,” vị tiểu thư thốt lên.
“Nhưng chúng ta đang làm phiền cuộc đi săn của anh đấy chứ,” người đàn ông ngập ngừng nói.
“Tôi lúc nào chẳng săn được gà gô,” Ferdinand đáp, đặt khẩu súng xuống; “nhưng tôi đâu phải lúc nào cũng tìm được những người bạn đồng hành dễ mến.”
Nói rồi, anh mở cánh cổng lớn bằng gỗ của lâu đài và họ bước vào đại sảnh. Đó là một căn phòng cao rộng, với kích thước đủ để đãi tiệc một ngàn chư hầu, có một bục danh dự, một bức bình phong kiểu Gothic lộng lẫy và một dãy hành lang dành cho ban nhạc. Các bức tường được treo đầy gươm giáo và áo giáp được sắp xếp một cách tuyệt vời; thế nhưng phần sàn bằng đá cẩm thạch nhiều màu lại bị che khuất bởi những chồng thùng đồ đạc chất đống đến mức không chỉ làm giảm hẳn hiệu ứng tổng thể của cảnh tượng, mà thậm chí ở vài nơi việc tìm một lối đi cũng trở nên khó khăn.
“Ở đây,” Ferdinand nói, nhảy lên một chiếc thùng lớn và chạy đến sát bức tường, “đây là cờ hiệu của Ralph d’Ermyn – người đã theo chân kẻ Chinh phạt sang đây và lập nên dòng họ ở Anh quốc. Đây là thanh kiếm của William d’Armyn – người đã ký vào Đại hiến chương Magna Carta. Đây là bộ giáp trụ hoàn chỉnh của đời Ralph thứ hai, người đã tử trận trước thành Ascalon. Chiếc thùng này chứa một thanh kiếm chuôi nạm kim cương, do Nữ hoàng ban tặng cho ngài Ferdinand vĩ đại vì đã đánh bại người Thổ; và đây là một thanh mã tấu Mameluke, do Sultan ban tặng cho chính ngài Ferdinand ấy vì đã đánh bại Nữ hoàng.”
“Ồ, tôi đã nghe rất nhiều về ngài Ferdinand vĩ đại ấy,” vị tiểu thư nói. “Ngài hẳn phải là một nhân vật vô cùng thú vị.”
“Ngài là một con người kỳ diệu,” người hướng dẫn của nàng đáp lại với một ánh nhìn kỳ lạ, “và thế nhưng tôi không biết liệu hậu duệ của ngài có lý do gì để hối hận vì thiên tài của ngài hay không.”
“Ồ, không bao giờ, không bao giờ!” vị tiểu thư nói; “sức mấy mà tài năng lại so được với sự giàu sang? Nếu là một người thuộc gia tộc Armine, tôi sẽ tự hào về một tổ tiên như thế biết bao, dù cho họ có để lại cho tôi lâu đài này không được hoàn mỹ như ước nguyện của ngài đi chăng nữa!”
“Chà, xét về điểm đó,” Ferdinand đáp, “tôi tin rằng mình cũng có phần đồng quan điểm với cô; dường như tôi lo rằng ngài ấy đã sống ở một thời đại quá muộn màng cho kiểu tư duy ấy. Có lẽ mọi chuyện sẽ tốt hơn cho ngài nếu ngài thành công trong việc trở thành Vua xứ Ba Lan.”
“Tôi hy vọng là có bức chân dung của ngài,” vị tiểu thư nói; “chẳng có gì tôi khao khát được nhìn thấy bằng điều đó.”
“Tôi hơi nghĩ rằng có một bức chân dung đấy,” người đồng hành của nàng đáp lại với vẻ hơi khô khan. “Chúng ta sẽ thử tìm xem sao. Cô không nghĩ là tôi làm người thuyết minh hướng dẫn không tệ lắm chứ?”
“Quả thực là xuất sắc nhất đấy ạ,” vị tiểu thư đáp.
“Tôi nhận thấy anh rất am hiểu về chuyên môn của mình,” người đàn ông nói, qua đó tạo cho Ferdinand một cơ hội thuận lợi để giới thiệu thân thế. Tuy nhiên, gợi ý ấy đã không được đón nhận.
“Và bây giờ,” Ferdinand nói, “chúng ta sẽ lên cầu thang.”
Thế là họ bước lên một chiếc cầu thang xoắn ốc lớn chiếm trọn không gian của một tòa tháp tròn, được chiếu sáng từ phía trên bởi một chiếc đèn lồng làm bằng kính màu rực rỡ, trên đó có khắc huy hiệu của gia tộc. Sau đó họ bước vào phòng chờ, một căn phòng rộng rãi chẳng kém gì một phòng khách lớn; tuy nhiên nó lại không được trang hoàng theo phong cách Gothic, mà có trần vẽ tranh, các tấm ốp dát vàng và sàn khảm gỗ trông phù hợp với một cung điện Pháp hơn. Những cánh cửa rực rỡ của căn phòng chờ này mở ra theo nhiều hướng dẫn đến những dãy phòng khánh tiết dài dằng dặc mà thực chất chỉ xứng đáng với mô tả là những lớp vỏ rỗng. Chúng chẳng hơn gì thế; ở nhiều phòng, sàn thậm chí còn chưa được lát; tường của tất cả các phòng đều thô ráp và trát vữa.
“Ah,” vị tiểu thư nói, “thật tiếc làm sao khi nó chưa được hoàn thiện!”
“Nó quả thực rất hoang vắng,” Ferdinand nhận xét; “nhưng có lẽ ở đây có cái gì đó hợp ý cô hơn.” Nói rồi, anh mở một cánh cửa khác và dẫn họ vào phòng trưng bày tranh.
Đó là một căn phòng tuyệt mỹ dài gần hai trăm feet, chỉ trưng bày chân dung các thành viên trong gia tộc hoặc tranh vẽ về những chiến tích của họ. Phòng có tông màu xanh nhạt, được chiếu sáng từ phía trên; sàn nhà bằng gỗ sồi và gỗ mun, được phủ một phần bởi một tấm thảm Ba Tư duy nhất có họa tiết kỳ ảo và màu sắc rực rỡ – món quà của Sultan gửi tặng ngài Ferdinand vĩ đại. Những biên niên sử thời kỳ đầu của gia tộc được minh họa bằng một loạt các bức tranh của các bậc thầy hiện đại, miêu tả trận chiến Hastings, cuộc vây hãm Ascalon, cuộc gặp mặt tại Runnymede, các cuộc xâm lược khác nhau vào nước Pháp, và một số sự kiện nổi bật nhất trong Chiến tranh Hoa hồng, trong tất cả những sự kiện đó đều nổi lên hình ảnh một chiến binh Armine dũng cảm. Cuối cùng họ đứng trước bức chân dung đương đại đầu tiên của gia tộc Armine, vẽ Hồng y Stephen Armyn bởi một họa sĩ người Ý. Vị chức sắc vĩ đại này là sứ thần của Giáo hoàng vào thời vua Henry thứ bảy, và trong bộ y phục đỏ thẫm cùng chiếc ghế ngà voi, trông ông tựa như một vị thần Jupiter của tòa thánh, bản thân cũng không kém phần uy quyền khi nắm giữ uy quyền sấm sét của Vatican. Kể từ ông, chuỗi chân dung gia tộc không hề bị đứt đoạn; và thật vô cùng thú vị khi được lần giấu qua bộ sưu tập được sắp xếp tuyệt vời này lịch sử trang phục dân tộc. Holbein đã ghi lại hình ảnh các Lãnh chúa Tewkesbury lộng lẫy trong nhung lụa, xiềng xích bằng vàng và ngọc ngà. Các chính khách thời Elizabeth và James cùng những vị phu nhân xinh đẹp, lộng lẫy của họ nối tiếp theo sau; rồi đến rất nhiều hiệp sĩ hào hoa qua nét cọ của Vandyke. Một bức tranh tuyệt vời khắc họa Lãnh chúa Armine và những người anh em dũng cảm của ông, cùng ngồi trong một chiếc lều quây quần bên chiếc trống mà trên đó lãnh chúa đang có vẻ như hoạch định các chiến dịch quân sự. Tiếp theo là một loạt dài những nam tước không mấy tên tuổi cùng những người vợ và con gái thú vị hơn của họ, được phác họa qua ngòi bút của Kneller, Lely hoặc Hudson; những điền chủ đội tóc giả mặc áo khoác đỏ, và những quý bà cài trâm mặc váy phồng khung giỏ.
Họ đứng trước tác phẩm đỉnh cao của phòng tranh, kiệt tác của Reynolds. Nó miêu tả chân dung toàn thân của một thanh niên, có lẽ vừa qua tuổi thành niên. Chỉ có phần thân nghiêng được trưng bày, và khuôn mặt liếc nhìn khán giả qua vai, trong một tư thế ưa thích của Vandyke. Đó là một gương mặt đẹp lý tưởng. Những lọn tóc nâu sậm dày rẽ sang một bên để lộ vương miện trán cao với vẻ chói lọi lấp lánh. Gương mặt hoàn toàn có hình bầu dục; chiếc mũi dẫu nhỏ nhưng cao và có sống mũi khoằm, thể hiện độ phồng rõ rệt ở cánh mũi; đôi môi chúm chím được tô điểm bởi bộ ria mép vô cùng thanh tú; và biểu cảm chung của khuôn mặt cũng như đôi mắt xám to tròn có lẽ sẽ mang nét ngạo mạn và uy quyền, nếu như vẻ đẹp phi thường của tổng thể gương mặt ấy không khiến nó trở nên mê hoặc.
Đó quả thực là một bức tranh để ngắm nhìn và để quay lại chiêm ngưỡng; một trong những khuôn mặt mà một khi đã nhìn thấy, sẽ ám ảnh chúng ta suốt mọi thời điểm và lướt qua tâm trí ta một cách bất ngờ không mời mà đến. Tác dụng mà nó tạo ra cho những vị khách đến thăm phòng tranh lớn đến mức họ đã đứng lặng trước nó trong vài phút; ánh mắt dò xét của người đàn ông không chỉ một lần rời khỏi bức chân dung để hướng sang gương mặt của người hướng dẫn, và sự im lặng cuối cùng đã bị phá vỡ bởi nam chính của chúng ta.
“Và ngài nghĩ sao,” anh hỏi, “về ngài Ferdinand lừng danh?”
Vị tiểu thư giật mình, nhìn anh, rồi thu ánh mắt lại và có vẻ hơi bối rối. Người đồng hành của nàng đáp lại, “Tôi nghĩ, thưa anh, tôi không thể lầm khi tin rằng mình đang mang ơn một hậu duệ của ngài ấy về sự tiếp đón nhã nhặn này chứ?”
“Tôi tin rằng,” Ferdinand nói, “tôi sẽ chẳng mất mấy công sức để chứng minh gia phả của mình. Tôi thường được coi là một bản sao xấu xí của ông nội tôi.”
Người đàn ông mỉm cười, rồi nói: “Tôi khó lòng biết liệu mình có thể tự nhận là láng giềng của anh không, vì tôi sống cách đây gần mười dặm. Tuy nhiên, sẽ là một vinh hạnh chân thành cho tôi nếu được đón tiếp anh tại Ducie Bower. Tôi không thể chào đón anh trong một lâu đài. Tên tôi là Temple,” ông tiếp tục, trao danh thiếp cho Ferdinand. “Lúc này tôi không cần phải giới thiệu anh với con gái tôi nữa. Tôi không phải là không biết ng Sir Ratcliffe Armine có một cậu con trai, nhưng tôi cứ đinh ninh rằng cậu ấy đang ở nước ngoài.”
“Tôi đã trở về Anh trong vòng hai tháng nay,” Ferdinand đáp, “và đến Armine trong hai ngày nay. Tôi thấy thật may mắn khi chuyến trở lại của mình đã mang đến cho tôi cơ hội được chào đón ngài và cô Temple. Nhưng ngài không được nhắc đến lâu đài của chúng tôi nữa, vì ngài biết đấy đó là sự dại dột của chúng tôi. Xin mời ngài hãy đến thăm chốn ở cũ kỹ và khiêm nhường hơn của chúng tôi và dùng chút giải khát sau chuyến cưỡi ngựa dài.”
Lời đề nghị này bị từ chối, nhưng với sự nhã nhặn tuyệt vời. Họ rời khỏi lâu đài, và ông Temple chuẩn bị bước về phía nhà gác – nơi ông đã gửi ngựa của mình và con gái; nhưng Ferdinand đã thuyết phục họ quay trở lại qua lối công viên, nơi mà anh chứng minh cho họ thấy một cách vô cùng thuyết phục rằng đó là con đường ngắn nhất. Anh thậm chí còn xin phép được đi cùng họ; và trong lúc người hầu đang yên cương cho ngựa, anh dẫn họ đến khu nhà cũ và vườn hoa.
“Cô Temple hẳn là rất mệt mỏi. Ước gì tôi có thể thuyết phục cô bước vào và nghỉ ngơi một lát.”
“Thật sự là không: tôi yêu hoa quá mức để có thể rời bỏ chúng.”
“Đây là một loài hoa có điểm cộng cả về sự mới lạ lẫn vẻ đẹp,” Ferdinand nói, ngắt một bông hồng lạ và đưa cho nàng. “Tôi đã gửi nó về cho mẹ tôi từ vùng Barbary.”
“Anh sống giữa muôn vàn vẻ đẹp.”
“Tôi nghĩ mình chưa bao giờ thấy Armine đẹp như ngày hôm nay.”
“Một khung cảnh rừng cây đòi hỏi phải có ánh nắng,” cô Temple đáp. “Chúng ta thật vô cùng may mắn trong chuyến ghé thăm này.”
“Có một thứ còn rạng rỡ hơn cả ánh nắng mặt trời đang làm cho nơi đây trở nên tuyệt diệu đến thế,” Ferdinand đáp; nhưng đúng lúc ấy, những con ngựa đã xuất hiện.