Đó là một ngày đầu thu khi tôi đứng ngập tới đầu gối giữa những khóm thạch nam ở Glengyle, tha thiết ngắm nhìn mặt biển xám xịt. Chỉ một tháng sau, khi đã trở thành kẻ không nhà cửa, không họ hàng thân thuộc, tôi đứng trên bãi cát cạnh tòa nhà Cliff House ở San Francisco, đăm đăm nhìn làn nước cuồn cuộn của một đại dương khác. Định mệnh vốn dĩ đầy rẫy những điều tiểu thuyết là thế.
Có thể nói là đã bị tống sang chỗ người họ hàng chuyên chăn cừu của tôi ở Saskatchewan, tôi đặt chân lên vùng đất xa lạ với tâm trạng chẳng mấy mặn mà cho chặng đường mập mờ phía trước. Tâm trí tôi, vốn ngập tràn những khái niệm sách vở, khát khao một cuộc sống lớn lao hơn. Tôi cuồng nhiệt ôm mộng phiêu lưu; muốn dấn thân vào bất trắc; muốn chạm mặt hiểm nguy trần trụi; muốn nếm trải những đòn giáng của rủi ro; muốn lang thang, chịu đói, ngủ dưới bầu trời đầy sao. Đó là thứ tư duy non nớt của tuổi trẻ vẫn cứ đeo bám lấy thân xác trưởng thành, và nó sắp sửa dẫn tôi vào một vũ điệu đầy cay đắng. Nhưng tôi không sao dứt ra được. Ngay trong tôi lúc đó sục sôi tinh thần của một kẻ du mục. Niềm vui của tuổi trẻ và sức khỏe đang gào thét trong huyết quản. Tôi tự nhủ rằng dăm năm bèo dạt mây trôi chẳng có xá gì. Thêm vào đó là Stevenson cùng những hòn đảo đầy mê hoặc đang vẫy gọi tôi bước tiếp.
Thế là tôi đứng trơ trọi một mình trên bãi biển gần mỏm đá hải cẩu, với hàng ngàn ký ức đang rối bời trong đầu. Nào là chuyến tàu dài đằng đẵng với những khung cảnh lạ lùng: những trang trại thô sơ, những cánh rừng âm u, những hồ nước lấp lánh đủ sức nhấn chìm cả quê hương tôi, những đồng bằng nhức nhối, những dãy núi cưa rách cả vòm trời, cùng nỗi sợ hãi kéo dài vĩnh cửu của miền hoang mạc. Cuối cùng là một thiên đường ngập tràn ánh nắng mang tên California.
Tôi đã sống qua một tuần lễ đầy ma thuật chưa từng dám mơ tới, và giờ đây tôi đang hiện diện ngay tại ngai vàng đế chế miền Tây. Thật là một nơi chốn kỳ diệu, và thật là một con người - ơ kìa, một cộng đồng với khí phách ngang tàng của miền Tây đã được làm cho dịu lại bởi phép màu phương Đông và đằm thắm bởi sự quyến rũ của Tây Ban Nha cổ kính. San Francisco! Hàng chục thứ tiếng gào thét trên đường phố của nàng, và trong những con ngõ nhỏ, hàng chục chủng tộc đang ẩn mình đầy kiêu hãnh. Nàng ấp ủ bên ngực mình những đứa con của các quốc gia xám xịt cổ xưa và truyền cho chúng tinh thần của chính mình, cái tinh thần nhanh nhẹn, kiên quyết, đầy tự hào về những thành tựu quá khứ và tràn ngập niềm tin vào một tương lai huy hoàng.
Tôi ngạc nhiên trước nhịp sống hối hả và niềm say mê giải trí nơi đây. Dường như ai nấy đều kiếm tiền rất dễ dàng và tiêu xài cũng vô cùng phóng khoáng. Mọi người đều hạnh phúc, lạc quan, đầy nghị lực. Về đêm, phố Market biến thành một con hẻm lấp lánh ánh đèn, nơi những người đàn ông lực lưỡng và những phụ nữ xinh đẹp chen chúc ra vào các nhà hàng rực rỡ. Thế nhưng, giữa cuộc sống sôi nổi và nồng nhiệt ấy, tôi lại cảm thấy một nỗi cô lập đến não nề. Có những lúc trái tim tôi đau nhói vì cô đơn, tôi lang thang trên những lối đi trong công viên, hay ngồi thẫn thờ ở quảng trường Portsmouth, xa cách với tất cả mọi thứ y như kẻ đang ngắm nhìn thế giới từ trên đỉnh núi dưới bầu trời sao.
Tôi trở thành một kẻ mộng mơ bên bến cảng, bởi ý nghĩ về những vùng biển phía Nam cứ quanh quẩn mãi trong đầu. Tôi lang thang trong nắng ấm, ngồi trên mép cầu tàu, dán mắt vào những chiếc tàu thuyền lười biếng qua lại. Đó là những ngày tháng vô lo vô nghĩ, và giờ đây tôi tin chắc rằng chúng không hề trôi qua một cách vô ích. Tôi dần làm quen với những nhân vật kỳ cựu bên bến tàu, và lao đầu vào một thế giới ngầm đầy sức hút khó cưỡng. Những gã chuyên dụ dỗ thủy thủ buông lời dạm hỏi tôi, nhưng toàn là chuyện săn cá voi hay hải cẩu, chứ chẳng hề đả động gì đến ngọc trai hay cùi dừa khô. Tôi va vấp với những nhu cầu bức thiết của cuộc sống, tranh giành từng phần ăn miễn phí trong những quán rượu tồi tàn, và giữa đám cặn bã, rác rưởi của miền sông nước ấy, tôi đã thu nhặt được không ít bài học để suy ngẫm. Dẫu vậy, đôi khi tôi vẫn tự trách bản thân vì đã phung phí thời gian như thế, và những ký ức về Glengyle, về Người Mẹ và Garry lại hiện lên với một vẻ sống động đầy day dứt.
Tôi cũng là một kẻ săn tìm những trải nghiệm kỳ lạ, và điều này sau đó đã tự tay hủy hoại tôi. Mặt tối về đêm của thành phố dần mở ra trước mắt tôi. Với sự ngây thơ đầy tự tin, tôi lang thang khắp mọi nơi. Tôi dấn thân vào những ngóc ngách sâu thẳm của khu phố Tàu ngầm, tự hỏi tại sao phụ nữ da trắng lại sống ở đó, và tại sao họ lại trốn tránh mỗi khi trông thấy tôi. Một mình tôi mò mẫm vào các tiệm hút thuốc phiện và sòng bạc. Tệ nạn bày ra trước mặt tôi một cách trơ trẽn đến ngỡ ngàng. Tôi tự hỏi những tổ tiên nghiêm khắc theo phái Giao ước của mình sẽ nghĩ thế nào về tất cả những điều này. Tôi chưa từng nghĩ có ngày mình lại chứng kiến những cảnh tượng như vậy, và với sự thiếu từng trải của mình, đó thực sự là một cú sốc lớn.
Những cuộc thám hiểm ban đêm của tôi đã kết thúc một cách đột ngột. Vào một đêm sương mù, khi tôi đang đi lên phố Pacific – nơi ken dày các quán rượu, tôi bị đánh một cú trời giáng từ phía sau và ngã gọn lỏm xuống rãnh nước. Khi tỉnh lại trong một con hẻm nhỏ với cơn đau đầu choáng váng, tôi phát hiện ra mình đã bị cuỗm sạch chiếc ví cùng gần như toàn bộ số tiền bên trong. May thay, tôi đã để lại chiếc đồng hồ trong két an toàn của khách sạn, và việc đem bán nó giúp tôi không đến nỗi túng quẫn hoàn toàn; nhưng hoàn cảnh ấy đã buộc tôi phải bước ra khỏi tòa thành của những giấc mơ đẹp đẽ, để đối mặt với những thực tế phũ phàng hơn của cuộc sống.
Tôi trở thành khách quen của quán ăn mười xu. Tôi ngạc nhiên khi nhận ra mình có thể có một bữa ăn tuyệt vời nhường nào chỉ với mười xu ấy. Ôi, thèm làm sao cái sự thèm ăn không chút kén chọn của những ngày tháng lang bạt ấy! Với khoảng hơn ba mươi đô-la ít ỏi đứng giữa tôi và nạn đói, hiển nhiên là tôi phải trở thành kẻ phu phen cày cuốc, và vì mục đích đó, tôi bắt đầu lui tới các văn phòng môi giới việc làm. Đó là những căn phòng trống hoác, tồi tàn, chật kín những người đàn ông vừa nhai thuốc lá, vừa kể chuyện phiếm, ngáp ngắn ngáp dài và đăm đăm nhìn lên tấm bảng đen ghi những công việc cần người trong ngày. Bị đẩy đến đường cùng mới phải đi làm thuê, tôi nhận ra cuộc đời họ chỉ quanh quẩn ba giai đoạn – tìm việc, làm việc, rồi tiêu sạch số tiền kiếm được. Họ chính là lực lượng lao động phổ thông khổng lồ, đang phải đối mặt với cái nghĩa vụ lao động bất đắc dĩ của cuộc đời.
Vào một buổi sáng nọ, khi tìm đến văn phòng lao động quen thuộc, tôi thấy đám đông đang ngồi chờ việc có sự xôn xao khác thường. Một nhà thầu lớn đang cần gấp năm mươi công nhân. Không đòi hỏi kinh nghiệm, và mức lương là hai đô-la một ngày. Cùng với một số người khác, tôi chen lên trước, được phỏng vấn và nhận vào làm. Ngay ngày hôm đó, tất cả chúng tôi được xếp thành hàng ngũ di chuyển ra ga xe lửa và bị dồn lên một tòa toa tàu hạng tư.
Chúng tôi đang đi đâu, tôi chẳng hề hay biết; chúng tôi sắp phải làm gì, tôi cũng không một chút manh mối. Tôi chỉ biết rằng chúng tôi đang hướng về phương Nam, và cuối cùng thì tôi cũng có thể đường hoàng coi mình là một con quả cầu lông mặc sức cho vận mệnh đập qua đập lại.