Hành Trình Năm 98: Bản Tình Ca Phương Bắc

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13

❊ ❊ ❊

"Sao anh không ra ngoài đi dạo?" tôi hỏi gã Jam-wagon.

Tôi vừa kéo gã ra khỏi một chuỗi những ngày chìm đắm trong vũng bùn trụy lạc, và giờ trông gã hốc hác, xanh xao đầy vẻ ăn năn. Thờ thẫn, gã đăm đăm nhìn tôi một hồi lâu, với cái nhìn đờ đẫn, trũng sâu của kẻ vừa được cứu rỗi.

"Ừ," cuối cùng gã cất lời, "tôi nghĩ mình ở lại cũng vì lý do khiến nhiều kẻ khác bám trụ — lòng tự trọng. Tôi cảm thấy vùng Yukon này nợ tôi một trong hai thứ, hoặc là một cơ nghiệp, hoặc là một nấm mồ — và nó sẽ phải trả."

"Tôi thấy với cách sống hiện giờ, anh dễ có được thứ thứ hai hơn đấy."

"Ừ — mà thế cũng chẳng sao."

"Này," tôi phản đối, "đừng có mà bê tha như thế. Anh là một người đàn ông, một người tuyệt vời. Anh có thể làm bất cứ điều gì, trở thành bất cứ ai. Vì Chúa, hãy ngưng việc vấp váp đó lại và bước vào cuộc chơi đi."

Khuôn mặt gầy gò, điển trai của gã đanh lại đầy cay đắng.

"Tôi không biết nữa. Có lúc tôi nghĩ mình chẳng thích hợp để tham gia cuộc chơi này; có lúc tôi tự hỏi liệu tất cả những điều này có đáng giá hay không; có lúc tôi gần như muốn chấm dứt tất cả."

"Ôi, đừng nói nhảm nữa."

"Tôi không nói nhảm; tôi nói thật, từng chữ một. Tôi hiếm khi nói về bản thân mình. Chẳng quan trọng tôi là ai, hay tôi từng thế nào. Tôi đã trải qua rất nhiều chuyện — nhiều hơn hầu hết mọi người. Năm này qua năm khác, tôi như một thứ rác rưởi trôi dạt giữa cõi đời, trôi dạt từ cảng này sang cảng khác trên bảy đại dương. Tôi từng lê lết trong vũng bùn của chúng; từng nếm trải những thứ nhơ nhớp của chúng; từng vùng vẫy trong thứ chất nhờn ẩm ướt, man rợ của chúng. Hết lần này đến lần khác, tôi ngã gục trên võ đài, nhưng chẳng hiểu sao tôi chưa từng chịu thua tâm phục khẩu phục. Luôn có một thế lực nào đó cứu rỗi tôi vào phút chót."

"Thiên thần hộ mệnh của anh đấy chứ."

"Có thể. Chẳng hiểu sao tôi vẫn không bị đánh gục hoàn toàn. Tôi mang máu chiến đấu, và mỗi ngày trôi qua với tôi đều là một trận chiến. Ôi, anh không biết đâu, anh không thể tưởng tượng nổi tôi phải chịu đựng nhường nào! Thường thì tôi cầu nguyện, và lời cầu nguyện của tôi luôn là: 'Lạy Chúa chí nhân, xin đừng để con phải suy nghĩ. Hãy quất con bằng cơn thịnh nộ của Ngài; chất lên vai con những gánh nặng, nhưng xin đừng để con suy nghĩ.' Người ta bảo có một địa hộc ở thế giới bên kia. Họ nói dối đấy: nó ở ngay đây, lúc này."

Tôi kinh ngạc trước sự mãnh liệt trong lời nói của gã. Khuôn mặt gã nhăn nhúm vì đau đớn, và đôi mắt ngập tràn nỗi dằn vặt, đớn đau.

"Thế còn bạn bè của anh thì sao?"

"Ôi, họ ư — tôi đã chết từ lâu rồi, chết từ đầu thập niên 80. Trong một nghĩa trang nhỏ ở Pháp có tấm bia khắc tên tôi, tên thật của tôi, cái tên của 'tôi' thuở trước. Trái tim, tâm hồn và thể xác này, tôi đã chết thật rồi. Các chị tôi khóc thương tôi, bạn bè tôi lẩm bẩm: 'Tội nghiệp gã côn đồ.' Vài người phụ nữ đã khóc, và một cô gái — chà, tôi không thể nhắc đến chuyện đó. Mọi chuyện đã qua từ lâu lắm rồi; nhưng tôi buộc phải làm gì đó để khơi gợi tâm trí, chiến đấu, uống rượu, làm việc như điên — làm gì cũng được miễn là đừng phải suy nghĩ. Tôi không được phép suy nghĩ."

"Thế còn thiên thần hộ mệnh của anh?"

"Đúng vậy, đôi khi tôi nghĩ ngài ấy sẽ cho tôi thêm một cơ hội nữa. Đây không phải là cuộc sống dành cho một người như tôi, phải làm lụng quần quật trong cái lạnh, tự hủy hoại bản thân trong những cuộc ăn chơi trác táng của thị trấn này. Một cuộc chiến vĩ đại, sảng khoái với một người phụ nữ dịu dàng, tốt đẹp để mà chiến đấu — điều đó sẽ cứu rỗi tôi. Ôi, được thoát khỏi tất cả những thứ này, được làm lại từ đầu một cách trong sạch!"

"Được rồi, tôi tin tưởng anh. Tôi chắc chắn mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Để tôi cho anh mượn tiền nhé."

"Cảm ơn anh, ngàn lần cảm ơn; nhưng tôi không thể nhận. Lại thế nữa đấy — lòng tự trọng của tôi. Biết đâu tôi đã sai hoàn toàn. Biết đâu tôi là một linh hồn lạc lối, và cái đích của tôi là nghĩa trang dành cho kẻ vô danh. Không; cảm ơn anh! Chỉ một ngày nữa thôi là tôi sẽ khỏe mạnh, sung sức trở lại. Lẽ ra tôi không nên làm phiền anh bằng những lời này, nhưng tôi đang yếu lòng, và sự dũng cảm của tôi đã bay biến sạch."

"Anh còn bao nhiêu tiền?" tôi hỏi.

Gã rút một đồng bạc lẻ rách rưới ra từ trong túi.

"Đủ dùng cho đến lúc tôi gia nhập đội cuốc xẻng."

Mấy chiếc vé trong tay anh là gì thế?"

Gã cười xòa bất cần.

"Vé đặt cược băng tan trên sông đấy. Thật buồn cười, tôi chẳng nhớ mình đã mua chúng lúc nào nữa. Chắc là lúc say."

"Ừ, và có vẻ như anh có một 'giác quan thứ sáu' rất chuẩn. Anh cược cùng một khoảng thời gian cho cả ba tờ: bảy giây, một giờ bảy phút, vào ngày mùng chín — chính là hôm nay. Bây giờ đã là giữa trưa. Tảng băng già cỗi đó phải nhanh chân lên nếu anh muốn thắng đấy. Thử nghĩ xem, nếu anh thắng thật nhé! Anh sẽ hốt bạc tới hơn ba ngàn đô-la. Thế là anh có vốn làm lại từ đầu rồi."

"Ừ, nghĩ thử xem," gã lặp lại với giọng đầy vẻ mỉa mai. "Hơn năm ngàn người đặt cược, và những dự đoán thì sít sao như hạt đậu trong một vỏ."

"Chà, lớp băng có thể trôi đi bất cứ lúc nào. Nó đã mục ruỗng lắm rồi."

Bị cuốn hút bởi một sức hút kỳ lạ, chúng tôi đăm đăm nhìn xuống dòng sông cuồn cuộn. Xung quanh chúng tôi là ánh nắng rực rỡ của mùa xuân, bên trên là bầu trời xanh ngắt mang sức sống hồi sinh. Những vạt tuyết trắng vẫn còn lấp lánh trên các sườn đồi, và mặt đất nâu sẫm, như thể đang hổ thẹn vì sự trần trụi của mình, đang bừng lên những mầm xanh tươi tắn. Trên sườn dốc nhìn xuống dòng Klondike, những thiếu nữ trong tà áo trắng đang hái hoa chuông dại. Tất cả đều ngập tràn sự ấm áp, sắc màu và sự sống đang bừng tỉnh.

Chắc chắn lớp băng trên sông không thể trụ lại lâu hơn được nữa. Nó đã loang lổ, chằng chịt những vết nứt, nhô lên thành từng gờ, nhuốm đầy những vũng nước sền sệt, và bị ăn mòn đến tận đáy. Phải nói là nó đã mục nát, mục nát hoàn toàn rồi. Thế nhưng nó vẫn bướng bỉnh chống cự. Dòng Klondike nện những khối băng khổng lồ, đen sì và nặng như những ngôi nhà vào đó. Chúng lao đi theo dòng nước xiết, va đập, nghiến ngấu, gầm rú, để tấn công vào lớp áo giáp vẫn còn nguyên vẹn của dòng Yukon. Và dọc theo bờ sông, cũng đang dõi theo như chúng tôi, là hàng ngàn con người khác. Trên môi mỗi người đều chung một câu hỏi — "Băng — khi nào thì tan?" Bởi vì đối với những kẻ lưu vong ở phương Bắc này, sau tám tháng trời bị cô lập, cảnh tượng làn nước mở toang sẽ tựa như thiên đường. Nó đồng nghĩa với tàu thuyền, sự tự do, những khuôn mặt thân thiện, và một bước tiến gần hơn đến chốn "phương xa" trong những giấc mơ của họ.

Nằm ở trung tâm của khối băng khổng lồ bao bọc lấy thị trấn là một cái cọc, và hàng ngàn đôi mắt vẫn đang đổ dồn về cái cọc đơn độc này. Một sợi dây điện nối nó với thị trấn, để khi nó dịch chuyển được một khoảng cách nhất định, một chiếc đồng hồ sẽ ghi lại chính xác thời điểm đó. Do đó, hàng ngàn con người đang đăm đăm nhìn vào cái cọc trơ trọi ấy đều nghĩ đến những canh bạc họ đã đặt, và tự hỏi liệu năm nay mình có phải là những kẻ may mắn hay không. Đó là một sự kiện độc nhất vô nhị trong đời sống ở Dawson, trò cá cược băng tan này. Có hàng chục vũng cược, lớn có nhỏ có, và cả đàn ông lẫn phụ nữ đều tham gia cá cược với sự hào hứng và phấn khích gần như trẻ con.

Tôi ngồi trên một chiếc ghế dài dọc theo con đường mòn N.C. nhìn xuống thị trấn, và dõi theo gã Jam-wagon lê bước xuống ngọn đồi về phía căn lều của hắn. Tội nghiệp gã thật! Gương mặt gã mới hốc hác và tái nhợt làm sao, vóc dáng cao gầy của gã — mới tiêu tụy và mệt mỏi làm sao! Tôi cảm thấy thương cho gã. Rồi số phận gã sẽ đi về đâu? Gã là một kẻ "lạc lõng" tuyệt đối. Giá như gã có thêm một cơ hội nữa! Không hiểu sao tôi vẫn tin tưởng gã, và tôi tha thiết hy vọng gã sẽ có lại được khởi đầu trong sạch ấy.

Ẩn sâu trong chốn miền Bắc lạnh giá và hoang vắng có rất nhiều kẻ giống như gã — những con cừu đen, những thành phần không được chào đón, những kẻ bị bầy đàn đào thải. Môi họ mím chặt; ánh mắt họ lạnh lùng như những dòng sông băng, và thường thì họ chìm đắm trong hơi men. Ôi, họ là một đạo quân hùng hậu, những con người mà chẳng ai buồn gặng hỏi; nhưng quy tắc của phương Bắc là cứ chấp nhận họ như những gì họ vốn có, thế nên họ cứ lặng lẽ đi con đường của riêng mình.

Bầu trời mới trong trẻo làm sao! Cứ như thể ta đang nhìn qua một thấu kính bằng pha lê — từng chiếc lá dường như nổi bật lên vô cùng sống động. Những âm thanh vọng lại bên tai tôi với độ rõ nét đến kỳ diệu. Mùa hè đang đến gần, mang theo lời hứa về một sự bình yên mới. Phía dưới kia, tôi có thể nhìn thấy ngôi nhà của mình, và trên hiên nhà, chiếc võng đang đưa nhẹ với bóng dáng áo trắng của Berna. Mới trân quý làm sao cô ấy đối với tôi! Tôi đã nâng niu, chăm sóc cô ấy biết bao nhiêu lo lắng! Một ánh mắt, một lời nói đối với tôi còn có trọng lượng hơn cả vạn cuốn sách. Nếu cô ấy hạnh phúc, lòng tôi ngập tràn niềm vui; nếu cô ấy buồn, ánh nắng bỗng nhợt nhạt đi, những đóa hoa rũ xuống, và ngày hôm đó chẳng còn chút niềm vui nào nữa. Thường thì khi cô ấy ngủ, tôi vẫn ngồi ngắm nhìn, trầm trồ trước những đường nét hoàn mỹ trên khuôn mặt ấy. Cô ấy luôn là một điều kỳ diệu đối với tôi — một sự tồn tại để tôn thờ, để khơi gợi tất cả những gì tốt đẹp và cao cả nhất trong tôi.

Thế nhưng, đôi khi chính sự mãnh liệt trong tình yêu của tôi lại khiến tôi sợ hãi; để rồi trong khoảnh khắc ngất ngây ấy, tôi phải nín thở tự hỏi liệu tất cả những điều này có kéo dài được mãi không. Và ký ức về Locasto luôn là một cái bóng đầy hiểm ác. Hắn đã bỏ đi "xuống phía nam", sức khỏe suy sụp nghiêm trọng, vừa đi vừa nguyền rủa tôi bằng giọng khàn đặc và thề thốt sẽ quay trở lại. Liệu hắn có làm vậy không?

Hỏi có ai từng biết đến phương Bắc mà lại có thể chối bỏ sức hút của nó? Dù bạn ở bất cứ đâu, nó cũng sẽ cất tiếng gọi hoài gọi mãi. Giữa miền Nam uể oải, bạn sẽ nghe thấy tiếng gọi ấy, sẽ khao khát cái cảm giác tê buốt của những ngày ngập tràn ánh bạc, vẻ rực rỡ bao la của những đêm chi chít ngàn sao. Ngay giữa lòng thành phố, nó sẽ tìm đến bạn cho đến khi bạn khao khát những khoảng không gian rộng lớn, trong lành, những con dòng cuồn cuộn chảy, những vùng lãnh nguyên tím thẫm. Trong những dinh thự giàu sang, tiếng gọi ấy sẽ tìm kiếm bạn, khiến bạn thổn thức nhớ về ngọn lửa trại cô đơn giữa chốn hoang sơ, một buổi hoàng hôn chói lọi hóa thành cõi chết vàng óng, màn đêm nơi sự tĩnh mịch bóp nghẹt tâm can và bầu trời tuôn trào thứ ánh sáng trắng xóa. Vâng, bạn sẽ nghe thấy nó, nghe mãi cho đến khi phát cuồng, cho đến khi bạn rời bỏ những con người đang lê la trên những vỉa hè nhớp nháp để tìm lại nó một lần nữa — sắc xanh ngọc bích của những hồ nước lấp lánh, nỗi khao khát trắng ngần của những đỉnh núi vươn tới muôn ngàn tinh tú. Khi ấy, như một đứa trẻ trở về nhà, bạn sẽ tìm về cõi nguồn. Và tôi biết rằng một ngày nào đó, vùng đất nơi hắn từng ngự trị như một kẻ chinh phục, Locasto rồi cũng sẽ quay trở lại.

Khi tôi nhìn xuống thị trấn xám xịt, sự kỳ diệu từ sự phát triển của nó tràn ngập tâm trí tôi. Nào còn đâu cảnh tượng lộn xộn của những lều với bạt, những chiếc thuyền xếp dọc bờ sông, và những đám đông thợ đãi vàng đang bu đen bu đỏ! Đâu rồi cái đầm lầy trũng rậm rạp, bùn lầy, sự bất an và cơn sốt cuồng loạn của năm 98? Tôi tìm kiếm những thứ đó và chỉ thấy thay vào đó là những dinh thự khang trang, những khu vườn được cắt tỉa gọn gàng, những con phố ngăn nắp. Tôi suýt dụi mắt khi nhận ra phép màu của sự chuyển mình ấy.

Và dẫu cho sự thay đổi về mặt ngoại hình của thị trấn có lớn đến đâu, thì sự thay đổi trong tinh thần của nó còn vĩ đại hơn thế. Thời đại hoàng kim của những tụ điểm khiêu vũ đã chấm dứt. Tội lỗi nay phải hành xử vô cùng dè dặt. Chẳng còn cảnh người ta có thể tùy tiện trò chuyện với một ả lầu xanh ngay trên phố mà không vấp phải những lời bàn tán.

Những ả đào ở khu ranh giới đã bị trục xuất sang bên kia bờ Klondike, nơi mà tại một khu định cư nối bằng chiếc cầu dây thừng lắt léo, những ánh đèn đỏ của họ chớp lóe hệt như những trụ tín hiệu của tội lỗi. Các phòng khiêu vũ vẫn hoạt động, nhưng sự dung túng đầy màu sắc của những ngày tháng muckluck xưa cũ đã vĩnh viễn biến mất. Bạn sẽ hoài công tìm kiếm những cảnh tượng thô tục nơi những bản năng hoang dã nhất được thả lỏng, và bản chất con người lộ diện trong sự trần trụi nguyên thủy nhất. Chủ nghĩa anh hùng, sự tàn bạo, những thành tựu lẫy lừng, sự phóng túng vô độ — phương Bắc dường như khơi dậy tất cả những gì tốt đẹp nhất và tồi tệ nhất ở một con người. Nó nuôi dưỡng một sức sống mãnh liệt, một cơn khát hành động đến cuồng dại, dẫu cho đó là vì mục đích thiện hay ác.

Ở thị trấn, nhịp sống cũng dần mang những gam màu trầm lắng hơn. Phát ngấy với nền đạo đức lỏng lẻo, đàn ông bắt đầu đón vợ con họ lên đây. Những lý tưởng xưa cũ về mái ấm, tình yêu và sự thuần khiết trong xã hội đang dần chiến thắng. Với sự xuất hiện của những người phụ nữ đoan chính, những cô đào phòng khiêu vũ coi như đã cầm chắc án tử. Thị trấn đang tìm lại chính mình. Xã hội bắt đầu phân chia thành các hội nhóm. Tầng lớp tự cho là sang trọng được gọi là phái Ping-pong, trong khi phần đông dân chúng vui vẻ nhận cái tên Rough-necks (Gã nhà quê cộc cằn). Những tệ nạn ở bưu điện đã được chấn chỉnh, đám tham nhũng bị đá văng khỏi các cơ quan công quyền. Vùng đất khai mỏ vàng đang nhanh chóng hiện đại hóa.

Vâng, thời kỳ hoàng kim đầy hào nhoáng của nó đã qua rồi. Sẽ chẳng còn cảnh những kẻ "chơi trội" phô bày cái vẻ ngoài ngông cuồng, hoang dại của mình nữa. Cơn mê sảng của năm 98 đang nhanh chóng trở thành một ký ức. Những nhân vật chính trong vở kịch định mệnh đó — giờ họ đang ở đâu? Đã chết: một số tự kết liễu đời mình; nhiều kẻ sa cơ lỡ vận, lảm nhảm trong hơi men về những ngày tháng qua; một số ít là những kẻ dò tìm khoáng sản nghèo túng, đang ôm mộng về một mỏ vàng mới.

Và khi nghĩ về điều đó, tôi chợt nhận ra mọi thứ mang màu sắc bi kịch vô cùng. Họ đang ở đâu lúc này, những Ông vua Klondike, những kẻ từng vung tiền tắm trong sâm-banh, những con bạc khát máu của vùng mỏ vàng này? Có bao nhiêu kẻ từng đứng dưới ánh đèn sân khấu rực rỡ của năm 98 có thể kể lại câu chuyện ấy vào ngày hôm nay? Ladue đã chết, chẳng để lại được mấy thứ. Big Alec MacDonald, sau khi vung vãi hàng tá cơ nghiệp cho bạn bè, cuối cùng cũng chết trong cảnh hầu như cô độc và chẳng một bóng bạn hiền. Nigger Jim và Stillwater Willie — họ đang tàn lụi ở góc bùn lầy hoang vắng nào của nghịch cảnh ngày nay? Dick Low nằm trong nấm mồ của kẻ nghiện ngập. Skookum Jim thì tha thiết muốn được một chân như thế. Dawson Charlie, say khướt lảo đảo bước về nhà sau một trận cuồng hoan, ngã xuống sông chết đuối. Trong nỗi tuyệt vọng vì khánh kiệt, Harry Waugh tự treo cổ tự vẫn. Charlie Anderson, sau khi nướng sạch cơ nghiệp vào một người vợ vô ơn, nay phải đi làm thuê kiếm từng đồng tiền công.

Cứ thế, tôi có thể kể mãi không dứt. Những câu chuyện của họ đủ sức lấp đầy cả một thư viện. Và khi tôi ngồi trên sườn đồi yên tĩnh, lắng nghe tiếng vo ve buồn ngủ của bầy ong, ý nghĩa sâu xa của tất cả những điều ấy chợt thấm đượm trong tôi. Một lần nữa, vùng đất hoang vu vĩ đại ấy lại đang sàng lọc và lựa chọn những đứa con của chính mình. Sự báo thù của nó thật sâu sắc, và nó hành động bằng muôn vàn cách thức khác nhau. Nó giáng xuống đầu họ, hệt như cách nó từng giáng xuống những người anh em đồng hành trên con đường mòn. Nó ban phát sự hủy diệt dưới vỏ bọc của vận may. Từ sự im lặng khắc khổ của những triền tuyết, nó đang chế nhạo họ, dụ dỗ họ bước vào con đường diệt vong. Lại một lần nữa, đây là Miền Đất của Kẻ Mạnh. Hơn hết thảy, nó đòi hỏi sức mạnh, cả về đạo đức lẫn thể chất. Tôi lại nhớ đến lời của lão già Jim, "Một kẻ thắng thì có đến chín mươi chín kẻ bại"; và thời gian đã chứng minh lão nói đúng. Vùng đất vĩ đại, nghiệt ngã ấy đang đào thải những kẻ không thích hợp, đang ban thưởng cho những ai thấu hiểu được nó, hội anh em trung thành của phương Bắc cao xa.

Chìm đắm trong những suy nghĩ ấy, tôi ngước mắt lên và nhìn dọc theo dòng sông về phía vách đá Moosehide Bluffs. Kìa! Ngay phía dưới thị trấn, một vùng nước lớn xuất hiện, và khi tôi còn đang dõi theo thì nó cứ lan rộng mãi, lan rộng mãi. Mọi người đang la hò, chạy ào ra từ những ngôi nhà, ùn ùn kéo ra bãi cát. Tôi cảm thấy một luồng phấn khích dâng trào trong lồng ngực. Vùng nước ấy ngày càng mở rộng, và giờ đây nó đã trải dài từ bờ bên này sang bờ bên kia. Nó dâng trào tiến về phía cái cọc đơn độc. Giờ thì nó đã sát nút rồi. Đột nhiên, cái cọc bắt đầu dịch chuyển. Cả cánh đồng băng khổng lồ đang trượt về phía trước. Chậm rãi, bình thản, chúng trôi đi, trôi đi mãi.

Rồi, ngay khoảnh khắc ấy, những tiếng còi hơi vang lên réo rắt, chuông nhà thờ đổ hồi rang rảng, và từ đám đông đen kịch những con người đứng xếp hàng dài ven bờ, một tiếng reo hò vỡ òa cất lên. "Băng tan rồi — băng tan rồi!"

Tôi nhìn đồng hồ. Liệu tôi có đang hoa mắt không? Bảy giây, một giờ bảy phút — "giác quan" của gã đã đúng; thiên thần hộ mệnh của gã đã can thiệp; gã Jam-wagon cuối cùng đã được trao cho cơ hội để làm lại từ đầu.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.