Tôi đang tích lũy thêm kinh nghiệm, và khi tôi rảo bước xuống hẻm núi trong lúc buổi sáng bừng nở như một đoá hồng, tinh thần tôi hân hoan phơi phới không gì lay chuyển nổi. Đó là niềm vui của những con đường tự do và một tâm hồn chẳng vướng bận âu lo. Ký ức về đường hầm và bãi sỏi đá hệt như một cơn ác mộng gớm ghiếc. Dòng máu nóng rần rật trong tôi mừng vui khôn tả; cơ bắp tôi săn lại với niềm kiêu hãnh vì sự dẻo dai của chúng; tôi ngạo nghễ nhìn cuộc đời bằng nửa con mắt.
Thế là, trong lúc tôi rảo chân mau chóng để sớm tới những vườn cam, tôi suýt giẫm phải một phong bì lớn màu xanh đang nằm ngửa mặt trên lối mòn. Tôi nhặt lên xem và nhận ra bên trong chứa các bản vẽ cùng bảng thông số kỹ thuật của công trình chúng tôi vừa làm, bèn đút ngay vào túi.
Chẳng mấy chốc, một người cưỡi ngựa đi tới và dừng lại bên cạnh tôi.
– Này anh bạn trẻ, có thấy chiếc phong bì màu xanh nào không?
Thái độ của kẻ đó lập tức khơi dậy trong tôi niềm phẫn uộ. Tôi chỉ là một tên thợ mồ hôi dầu trong bộ đồ bảo hộ dính đầy bùn đất, còn hắn thì ngạo mễ và trịch thượng trong bộ âu phục bằng vải nỉ và áo sơ-mi là lượt.
– Không, tôi đáp một cách cục cằn, rồi tiếp tục bước đi và nghe tiếng vó ngựa của hắn lốc cốc nện trên hẻm núi.
Trời chập tối thì tôi ra tới một vùng đồng bằng rộng lớn và đẹp đẽ. Phía sau tôi là hẻm núi tối tăm hệt như hang ổ của một loài mãnh thú ác độc, trong khi trước mặt tôi mặt trời đang lặn, nhuộm thung lũng trông như một biển dung nham vàng rực. Tôi đứng đó, dáng vẻ như một hiệp sĩ lang thang trên rìa của những vùng đất mê hoặc đầy ắp ký ức quý giá, tìm kiếm nàng công chúa trong giấc mơ của mình; nhưng tất cả những gì tôi thấy chỉ là một người đàn ông đang bước lên con đường mòn. Hắn đang lảo đảo đi về nhà, một nách kẹp con gà tây sống, tay kia lúc lắc một bình rượu vang lớn.
Hắn nài tôi cùng uống. Hắn mang dáng dấp của tinh thần lễ Giáng Sinh và nói giọng Xéc-ốt, thế nên tôi vui vẻ dốc ngược bình rượu của hắn mà nốc. Rồi, vì hắn đang cao hứng, hắn nài chúng tôi cùng hát bài "Auld Lang Syne". Thế là ở đó, giữa cánh đồng hoang, trong ánh chiều vàng rực rỡ, chúng tôi khoác tay nhau và cất cao giọng hát như hai kẻ dở người. Tuy vậy, vì hôm đó là đêm Giáng Sinh, mọi chuyện xem ra lại chẳng đến nỗi điên rồ lắm.
Kia rồi, vườn cam đầu tiên của tôi đây rồi. Tôi háo hức chạy đến, bứt bốn quả to nhất mà tôi nhìn thấy. Vỏ chúng còn xanh lè và chua chát, nhưng tôi chẳng màng, ăn liền tù tì cho đến quả cuối cùng mới thôi. Rồi tôi tiếp tục lên đường.
Khi bước vào thị trấn, lòng tôi chùng xuống. Tôi sực nhớ ra mình hoàn toàn nhẵn túi và vẫn chưa học được cách đối mặt với sự nghèo túng một cách tao nhã. Tuy nhiên, tôi sực nhớ đến tờ séc tiền công, bèn bước vào một quán rượu và hỏi chủ quán xem ông ta có thể đổi tiền giúp tôi không. Đó là một người Đức có khuôn mặt đôn hậu trông như đang nói: "Xin chào mừng, bạn tôi ơi", nhưng đôi mắt lạnh lẽo, láo liên như hạt cườm lại đang dò xét: "Tao có thể vơ vét được bao nhiêu tiền từ mày đây?". Chính đôi mắt ấy mới là thứ khiến tôi chú ý.
– Không, tôi không đụng vào thứ đó đâu. Trước đây tôi từng bị lừa rồi. Chúa ơi, không đời nào! Cầm nó đi chỗ khác mau.
Tôi ngã quỵ xuống một chiếc ghế. Thoáng nhìn thấy khuôn mặt mình trong chiếc gương ở quầy rượu, tôi tự hỏi liệu đó có phải là cậu thiếu niên má hóp, mệt mỏi chính là tôi hay không. Quán đông nghịt những kẻ đang vui vầy đón Giáng Sinh, và người ta đang chơi súc sắc để tranh nhau những con ngỗng. Có ba con ngỗng đang lạch bạch đi trên sàn nhà, trong khi ở góc phòng, người đánh xe ngựa và một gã tóc đỏ đang chơi bài lột sạch để thắng lấy một con.
Tôi lơ mơ chợp mắt. Những âm thanh vụn vặt từ cuộc trò chuyện ở quầy bar lọt vào tai tôi. "Phong bì... thất lạc bản vẽ... chậm trễ lớn." Bỗng nhiên tôi ngồi bật dậy, nhớ đến bọc giấy mình đã nhặt được.
– Các anh có đang tìm vài bản vẽ bị thất lạc không? – tôi hỏi.
– Đúng vậy, một người hốt hoảng hỏi, – cậu tìm thấy chúng à?
– Tôi không nói là có, nhưng nếu tôi lấy lại được cho các anh, các anh có đổi tờ séc tiền công này giúp tôi không?
– Chắc chắn rồi, hắn đáp, – một tay xoay lưng cứu giúp đôi bên. Cứ mang tang vật đến đây, tôi sẽ đổi séc cho cậu.
Khuôn mặt hắn trông rất bộc trực và hào sảng. Tôi rút phong bì ra và trao lại cho hắn. Hắn vội vã lật giở xem xét bên trong và thấy mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn.
– Ha! Thế là đỡ được một chuyến đi 'Frisco rồi, hắn nói, mặt rạng rỡ vì nhẹ nhõm.
Hắn quay sang quầy bar gọi một loạt đồ uống. Mọi người đều uống một ly do hắn khoản đãi, trong khi hắn hình như đã quên mất sự hiện diện của tôi. Tôi đợi một lát, rồi bước lên trước chìa tờ séc tiền công ra.
– À cái đó á, hắn nói, – tôi không đổi đâu. Tôi đùa thế thôi.
Cảm giác giận dữ cay đắng trào dâng trong tôi. Tôi run lên như lá rụng.
– Anh định nuốt lời đấy phỏng? – tôi nói.
Hắn đâm ra lúng túng.
– Ờ, đằng nào thì tôi cũng chịu. Tôi chẳng có sẵn tiền mặt.
Tôi sẽ nói gì hay làm gì nữa thì tôi không biết, bởi lúc ấy tôi đã gần như tuyệt vọng; nhưng đúng lúc đó, người đánh xe ngựa, đang phớ lớ vì chiến thắng ván bài, giật phăng tờ giấy khỏi tay tôi.
– Nào, tôi sẽ chiết khấu cái này cho cậu. Nhưng tôi chỉ đưa cậu năm đô-la thôi đấy.
Giá trị của nó là mười bốn đô-la, nhưng đến lúc đó tôi đã quá nản lòng nên đành vui vẻ nhận lấy đồng tiền vàng năm đô-la mà hắn chìa ra để dụ dỗ tôi.
Thế là vận may của tôi đã được vãn hồi. Trời đã gần nửa đêm và tôi hỏi người chủ quán người Đức xem còn phòng trọ không. Ông ta đáp rằng đã hết chỗ, nhưng vì tôi có mang theo chăn, ở phía sau có một cái nhà kho khô ráo và rất đẹp. Khốn thay! Nơi đó cũng là chuồng gà của ông ta. Chúng đậu ngay trên đầu tôi, và tôi nằm bẹp trên sàn nhà dơ bẩn dưới sự hành hạ của vô số loài bọ chét. Để đè bẹp nốt chút sinh khí cuối cùng của tôi, những quả cam xanh tôi ăn lúc nãy đã khiến tôi đau quặn bụng đến xé ruột xé gan. Quả thật, tôi mừng rỡ xiết bao khi ngày mới hừng sáng, và một lần nữa tôi lại cất bước lên đường, hướng thẳng về Los Angeles.