Hành Trình Năm 98: Bản Tình Ca Phương Bắc

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

"Gr-r-r—đồ ranh con! Mày mà hé răng nói gì với nó là tao giết, giết đấy, nhớ lấy chưa!"

Giọng đó là của mụ Winklestein, và những lời xì xào mang vẻ thù hằn vô tận ấy khựng lại trong tôi như thể vừa bị luồng điện sống giật phải. Tôi lắng tai nghe. Sau cánh cửa phòng ngủ liền vang lên một sự im lặng căng thẳng đến rợn người; rồi tiếng đập bình bịch; rồi lại cái giọng trầm đục hung ác ấy.

"Nghe đây, Berna, chúng tao biết tỏng tụi bay rồi—chúng tao nắm thóp tụi bay rồi đấy. Chúng tao thừa biết ông già đang giắt trong thắt lưng vàng cái món đó, hai ngàn đô tiền mặt. Này cưng, tiểu thiên thần ngọt ngào tự cho mình là cao sang không thèm giao du với thể loại như chúng tao, tụi tao đang cần tiền, rõ chưa!" (Cốc, cốc.) "Và tụi tao sẽ lấy cho bằng được, rõ chưa!" (Cốc, cốc.) "Đến lượt mày đấy, cưng ạ, mày sẽ phải lấy nó về cho tụi tao. Phải thế không nào, cưng!" (Cốc, cốc, cốc.)

Rất khẽ, vô cùng khẽ, tôi nghe thấy một tiếng đáp:

"Không."

Nếu có thể thét lên bằng một tiếng thì thầm, thì người đàn bà đó đã làm thế.

"Mày dám! Mày dám! Ồ! Ồ! Ồ! Trong người mày có cái máu bướng bỉnh cứng đầu nguyền rủa của con mẹ mày. Nó thà chết cũng không hé răng nửa lời về cái tên đàn ông đã hủy hoại cuộc đời nó, quân khốn kiếp."

"Đừng nhắc đến mẹ tôi, đồ đàn bà đê tiện!"

Giọng của mụ đàn bà chanh chua đanh lại với một nỗi căm hờn độc địa mà chưa bao giờ tôi được nghe thấy thứ tương tự.

"Đàn bà đê tiện! Đàn bà đê tiện! Mày, mày dám gọi tao là đàn bà đê tiện, một người đã ba lần làm lễ thành hôn trước chúa... Ồ, cái giống con hoang! Đồ dòng dõi tội lỗi! Đồ cặn bã nhơ nhuốc! Ồ, tao sẽ trị mày vì tội đó, dẫu tao có phải lên đoạn đầu đài đi nữa."

Những lời cay độc của mụ ta khép lại bằng một lời nguyền rủa quá mức dơ bẩn không thể thốt lại, và một lần nữa tiếng đập phá kinh hoàng lại vang lên, giống như đầu ai đó đang đập vào vách gỗ. Không thể chịu đựng thêm được nữa, tôi gõ cửa thật mạnh.

Sự im lặng trùm xuống, một sự im lặng dài đằng đẵng đầy tiếng thở dốc; rồi tiếng một vật nặng đổ sụp xuống; tiếp đó cánh cửa hé mở và khuôn mặt co giật của mụ ta hiện ra.

"Có ai bị ốm à?" Tôi hỏi. "Tôi xin lỗi vì đã làm phiền, nhưng tôi tưởng nghe thấy tiếng rên rỉ và—biết đâu tôi có thể giúp được gì."

Mụ nhìn tôi chằm chằm đầy soi mói. Đôi mắt nheo lại thành hai đường chỉ sắc lẹm đâm thẳng vào tôi với vẻ hằn học. Khuôn mặt sậm màu của mụ sưng phồng lên vì cơn giận bất lực. Khi tôi đứng đó, trông mụ thèm khát muốn giết quách tôi đi. Rồi nhanh như chớp, sắc mặt mụ thay đổi. Dùng bàn tay dơ dáy đeo đầy nhẫn, mụ vuốt lại mái tóc bù xù. Hàm răng trắng kệch cỡm nhe ra trong một nụ cười mạ vàng. Giọng mụ bỗng ngọt ngào như rót mật.

"Ơ hay, có ai đâu! Đứa cháu gái tôi trong này bị đau răng thôi, nhưng chắc tụi tôi tự lo được. Cảm ơn anh thanh niên nhé, chúng tôi không cần giúp đâu."

"À, vậy thì tốt quá," tôi nói. "Nếu cần gì, anh biết đấy, tôi ở ngay gần đây thôi."

Rồi tôi bước đi, linh cảm rằng đôi mắt mụ ta vẫn đang dõi theo mình đầy ác ý.

Sự việc khiến tôi vô cùng bận lòng. Tội nghiệp cô gái trẻ đang bị ngược đãi tàn nhẫn, điều đó quá rõ ràng. Tôi cảm thấy phẫn nộ, tức giận và cuối cùng là lo lắng. Hòa lẫn trong những cảm xúc ấy là chút bực bội vì không hiểu sao mình lại vô tình vướng vào chuyện này. Lúc đó tôi chẳng có chút hứng thú nào để làm hiệp sĩ bảo vệ những đóa hồng đau khổ, lại càng không muốn dính dáng đến những trận cãi vã gia đình của mấy kẻ gốc Do Thái xa lạ. Mặc thây mụ ta chứ! Suýt nữa tôi đãâm thầm căm ghét mụ. Thế nhưng tôi vẫn thấy mình bị ràng buộc phải canh chừng, chờ đợi, và dẫu có phải hy sinh sự thảnh thơi thoải mái của bản thân đi chăng nữa cũng phải ngăn chặn những hành vi bạo lực tiếp diễn.

Cần phải nói thêm rằng trên boong tàu diễn ra đủ thứ chuyện kỳ quái, từ ăn nhậu, cờ bạc, những buổi hoang lạc thâu đêm cho đến những cuộc ẩu đả diễn ra từng giờ. Dường như người ta đã vớt toàn bộ cặn bã xã hội ở vùng cấm địa San Francisco để đưa lên con tàu này. Tôi tin rằng, ngay cả trong những ngày tháng mà các chuyến tàu chở đầy dân săn vàng đổ về miền Bắc Cực quang diễn ra gần như cơm bữa, chưa từng có chuyến nào mà giới ăn chơi lại hoành hành áp đảo đến thế. Phòng khách chung sực nức mùi nước hoa patchouli và hơi whisky cũ kỹ. Từ các phòng ngủ phát ra những tràng âm thanh chói tai của các khúc ca thịnh hành, ngắt quãng bởi tiếng nổ bốp của những nút chai champagne. Những cô đào nhảy múa lneb bét nói năng nhảm nhí, lảo đảo dọc hành lang, nhảy nhót trên bàn phòng khách, và chỉ chịu chùng bước trước những trò trụy lạc nhờ sự kiềm chế của đám bảo kê. Ban ngày là một chuỗi những cuộc ăn chơi vô tận, và ban đêm thì đong đầy những âm thanh ám ảnh.

Ngay trong tầng lớp khá giả hơn, sự suy đồi đạo đức đã bắt đầu bộc lộ rõ rệt. Họ đã vứt bỏ những lễ giáo thông thường cùng với những chiếc áo sơ mi là ủi phẳng phiu và những bộ quần áo diện hiệu của họ; và giờ đây, cuồng loạn vì ảo tưởng về một gia tài kếch xù, họ đang chực chờ bứt đứt xiềng xích của sự đứng đắn. Đó là một đám đông hỗn hào, cuồng nhiệt reo hò, và đã sớm nhiễm phải thứ virus cuồng vàng.

Ồ, thật tuyệt vời làm sao khi được bước lên boong tàu vào ban đêm, rời xa chốn hoang lạc sa đọa ấy, để ngắm nhìn những vì sao dẫn đường rải rác mênh mông trên vòm trời cao vời vợi, để lắng nghe khúc ca đoạn trường ngàn đời của đại dương hoang vắng. Những đêm trời xanh ngắt và bạc trắng, trong vắt như pha lê, với làn gió sắc lạnh làm hồng đôi gò má và thắp sáng đôi mắt. Và khi tôi đang trầm ngâm suy tưởng, Salvation Jim đã đến bên tôi. Khuôn mặt anh ta khắc khổ, đôi mắt đăm chiêu. Từ phòng khách sáng rực ánh đèn vọng lên âm thanh chói chang của những bản nhạc quán trọ.

"Tôi không thích cung cách ở đây chút nào," anh ta nói; "Tôi không thích nó tí nào. Nghe đây cậu bạn, tôi đã sống lang bạt quanh các trại khai mỏ suốt hai mươi năm, tôi từng dấn thân vào những nghề nghiệp gai góc nhất trên đời, tôi đã đi bộ khắp các tiểu bang nước Mỹ, thế mà chưa từng thấy nơi nào bì kịp cái xứ này. Nói để cậu hiểu, tôi không hề có thành kiến gì đâu, dù tôi đã nhận ra lỗi lầm trong quá khứ của mình, tạ ơn Chúa! Đôi khi tôi vẫn có thể châm chước cho mấy cậu trai trẻ thả cửa vui vẻ một bữa, nhưng thề có Chúa Giáng sinh! Này nhé! Trên con tàu này có đủ thứ tội lỗi chất chứa ngang ngửa một phân khu dưới Địa ngục. Có những gã đáng lẽ phải được ở nhà với những người mẹ hiền dịu và những người vợ con yêu thương, thế mà giờ này lại đang dúi mặt dưới cái khoang tàu kia để mua rượu cho mấy ả Jezebel sơn phấn loè loẹt."

"Có cả bác sĩ, luật sư và các chấp sự nhà thờ tận miền Ohio xa xôi, những kẻ chưa từng làm điều gì sai trái trong đời, thế mà giờ đây lại đang tranh giành nhau như những gã côn đồ quán rượu để đổi lấy nụ hôn của một ả đàn bà lẳng lơ. Trong tâm hồn họ, con quỷ đang ngả ngớn cười cợt còn Chúa thì đang chết cóng trên gác mái. Cứ nhớ lấy lời tôi, cậu bạn trẻ; có một lời nguyền đang đeo bám thứ vàng miền bắc này. Sông Yukon sẽ đòi lại cái giá của nó. Cứ nhớ lấy lời tôi."

"Ôi, Jim," tôi nói, "anh mê tín quá rồi đấy."

"Không, tôi không hề mê tín. Tôi chỉ có một linh cảm thôi. Ở đây chúng ta đang là một nhúm tội lỗi nổi lềnh bềnh lướt qua sự huyền bí của những vùng biển lạ lùng ấy, và ngay cả các sĩ quan trực nhật cũng đang vắt dải băng danh dự ngang ngực, sực nức hơi men từ vòng tay của mấy ả đào lẳng lơ xức nước hoa dưới khoang kia. Sẽ là ơn phước của Chúa nếu chúng ta không đâm phải đá ngầm và chìm nghỉm xuống tận đáy bùn lạnh ngắt. Nhưng điều đó chẳng hề gì. Sớm muộn gì thì ngày phán xử cũng sẽ tới. Có không ít kẻ đang gào thét ca hát tối nay rồi sẽ bỏ lại xương cốt trắng phau ở vùng đất hoang vu lạnh lẽo đó cho mà xem."

"Không đâu, Jim," tôi phản đối, "họ sẽ ổn thôi khi đặt chân lên bờ."

"Ổn cái con khỉ! Bọn chúng chỉ là một lũ ngu ngốc. Chúng tưởng mình đã nắm thóp được vận may. Nghe tiếng chúng gào thét kìa. Trong đầu đứa nào cũng nghĩ mình là triệu phú cả rồi. Chúng chẳng mảy nghi ngờ gì sất. Mọi chuyện chắc như bắp. Chúng đang vung tay quá trán ngay lúc này đây. Cứ nhớ lấy lời tôi, anh bạn trẻ ạ, vì tôi sẽ chẳng sống nổi để chứng kiến ngày những lời ấy ứng nghiệm đâu—chứa đến chín mươi trên một trăm gã đang kéo đến cái xứ Klondike này sẽ chẳng làm nên trò trống gì, và trong mười phần trăm còn lại, chín phần cũng chẳng khá khẩm hơn."

"Một phần trăm giữ được vốn liếng của mình ư—thật vô lý hết sức, Jim."

"Thế thì cậu cứ chờ mà xem. Còn về phần tôi, tôi cảm thấy chắc chắn như có Chúa ở trên cao đang dẫn lối chúng ta qua mê cung của màn đêm, rằng tôi sẽ chẳng thể sống sót để thực hiện chuyến hành trình trở về. Tôi có linh cảm thế. Lão Jim đã đi đến cuộc phiêu lưu cuối cùng của đời mình rồi."

Anh ta thở dài, đoạn nói giọng sắc lạnh:

"Cậu có thấy gã vừa đi qua chúng ta không?"

Đó là Mosher, tay sát phạt trên chiếu bạc và cũng là cựu mục sư.

"Gã đó là một tên đê tiện, một kẻ phản giáo đảo ngũ. Tôi đang gí mắt theo dõi gã đấy. Biết đâu có ngày tôi với gã phải thanh toán sòng phẳng với nhau một trận. Biết đâu đấy."

Anh ta bỏ đi một cách đột ngột, để mặc tôi đăm chiêu suy ngẫm về những lời tiên đoán ảm đạm của mình.

Chúng tôi đã lênh đênh trên biển được ba ngày. Thời tiết rất đẹp, và hầu như ai nấy đều lên boong tàu tắm nắng. Ngay cả Bullhammer, Marks và Mosher cũng rời phòng bài một lúc. Gã nhân viên ngân hàng và người thợ khắc gỗ đang trò chuyện rôm rả, cùng nhau lên kế hoạch và mơ mộng. Vị giáo sư thì bận rộn giảng giải lý thuyết về nguồn gốc vàng cho một nhóm thanh niên đến từ Minnesota. Điềm tĩnh và cảnh giác, anh chàng vận động viên Mervin đang phì phèo điếu xì gà lớn, trong khi Hewson với bản chất sắt đá vẫn kiên nhẫn và bình thản nhai trầu một cách lặng lẽ. Hai anh em sinh đôi đang chơi cờ đam. Nhà Winklestein thì đang cố gắng tạo dựng mối thâm tình với đám đàn đúm ở phòng ca nhạc. Lẩn khuất giữa các nhóm người là tay Phung Phí, nhanh nhẩu như một phóng viên xã hội ở hội chợ nhà thờ. Và ngoài họ ra, luôn thui thủi một mình, cách ly một cách kiêu kỳ như thể tự tách mình vào một bức tranh riêng biệt—bức tranh đầy vẻ trang nghiêm và dịu ngọt—chính là thiếu nữ người Do Thái và người ông cao tuổi của cô.

Dù là bạn cùng phòng nhưng tôi chẳng gặp ông cụ mấy. Ông đã lên giường ngủ trước khi tôi về phòng và tôi thì đã thức dậy ra ngoài từ khi nào ông chưa tỉnh giấc. Về phần cô cháu gái, tôi thường tránh mặt hai người vì mối liên hệ hiển nhiên của họ với vợ chồng nhà Winklestein. Nghĩ cho kỹ, tôi tự nhủ, một cô gái không thể nào dính líu đến hai kẻ đó mà lại là người hoàn toàn trong sạch được. Thế nhưng, ẩn chứa trong đôi mắt trong veo của cô gái và nét mặt thanh tú của người ông, vẫn có thứ gì đó khiến tôi tự trách vì đã hoài nghi họ.

Đúng lúc tôi đang băn khoăn suy tính và len lén quan sát cặp đôi ấy, thì một chuyện xảy ra.

Bullhammer và Marks đang đứng cạnh tôi, và từ phía bên kia boong tàu vọng lại giọng mũi lanh lảnh khó ưa của mấy ả đào phòng trà. Tôi thấy đôi mắt dâm ô của Bullhammer đảo liên hồi từ mả đàn bà lẳng lơ này sang mả lẳng lơ khác, cho đến khi dừng lại ở dáng người mảnh dẻ đang đứng cạnh người ông tóc bạc phơ. Gã tấm tắc liếm môi.

"Này Monkey, con nhóc đi cùng lão râu rậm kia là ai thế?"

"Đố mày biết đấy, Pete," Marks nói; "muốn tao giới thiệu làm quen không?"

"Chứ sao! Mà trông có vẻ kiêu kỳ phết nhở?"

"Kiêu kỳ cái nỗi gì! Tao chưa từng thấy đứa con gái nào mà Sam Marks này không cưa đổ. Tao là kẻ chuyên chiến thắng, mày nhớ lấy điều đó. Cứ chống mắt lên mà xem tao biểu diễn đây."

Phải thừa nhận là gã ăn vận rất đắt tiền theo kiểu lòe loẹt. Khuôn mặt nhẫy bóng mỡ điểm xuyết đầy mụn trứng cá nhếch lên nụ cười suồng sã bề trên, và với một cái cúi chào như vũ sư, gã bước tới. Tôi thấy cô gái giật mình thảng thốt, cắn môi và rụt rè lùi lại. "Làm tốt lắm, cô bé," tôi thầm nghĩ. Nhưng gã đàn bà ấy nào có chịu bỏ cuộc.

"Này cô em, không có gì phải sợ đâu. Anh chỉ muốn giới thiệu em với một người bạn lịch lãm của anh thôi."

Cô gái đờ đẫn nhìn gã, và đôi mắt mở lớn phảng phất nỗi sợ hãi cùng sự bất an tột độ. Nó khiến tôi liên tưởng đến sự hoảng loạn của một chú nai con bị thợ săn đuổi kịp, đến mức bản thân tôi cũng thấy run lên vì đồng cảm. Cô ngẩn người trân trân trong một khoảnh khắc đầy kinh hoàng; rồi nhanh chóng quay lưng đi.

Chừng đó là quá đủ đối với Marks. Gã đỏ bừng mặt vì tức giận.

"Này! Mày bị cái quái gì thế hả? Bớt cái thói kiêu căng ấy đi xem nào. Tụi tao chưa đủ tư cách giao du với mày chắc? Mày tưởng mày là cái thá gì chứ?"

Khuôn mặt gã ngày càng đỏ gay và hung hăng. Gã áp sát cô. Gã thô lỗ đặt tay lên vai cô. Nghĩ rằng mọi chuyện đã đi quá giới hạn, tôi bước lên định can thiệp thì điều bất ngờ xảy ra.

Bỗng nhiên người ông đứng phắt dậy, và điều khiến tôi ngạc nhiên là ông cao đến thế. Trên khuôn mặt ông thoáng hiện lên bóng dáng của quyền uy và uy nghiêm thuở nào. Đôi mắt ông bừng lên ngọn lửa giận dữ, và bàn tay nắm chặt giơ cao như một lời nguyền rủa. Rồi nó giáng mạnh xuống đầu Marks, ấn chặt chiếc mũ phớt cứng trùm sụp qua cả mắt gã.

Cú kết thúc ấy trông buồn cười theo một cách nào đó. Một tràng cười vang lên, và giữa tiếng cười đó, Marks vừa nhổm người gỡ mũ vừa hậm hực phun nước bọt. Với một tiếng nguyền rủa đầy căm hờn, gã định lao vào ăn thua đủ với ông cụ, nhưng một bàn tay to lớn đã tóm chặt lấy vai gã. Đó chính là Hewson lầm lì, lạnh lùng, và nhìn cái cách con mồi của hắn quằn quại, chắc hẳn cú siết tay ấy phải rắn chắc như gọng kìm. Ông cụ tái mét như người sắp chết, cô cháu gái thì đang khóc nức nở, hành khách xúm lại đông nghịt. Ai nấy đều nhao nhao tò mò, thế nên cảm thấy mình chẳng thể giúp gì được nữa, tôi liền bỏ xuống dưới khoang.

Có gì ở cô gái mảnh mai này mà lại khiến tôi bận tâm đến vậy nhỉ? Hết lần này đến lần khác, tôi cứ bắt gặp chính mình đang nghĩ về cô. Có phải vì cuộc trò chuyện mà tôi vô tình nghe được chăng? Hay vì thứ bí ẩn dường như bao bọc lấy cô? Hay vì bản năng không thể kìm nén của trái tim hướng về sự lãng mạn trong đời? Còn với ông cụ, dẫu phòng chúng tôi sát vách nhau, tôi vẫn chưa hề chủ động làm quen. Với cô gái, tôi cũng chẳng hề nói thêm lời nào.

Nhưng các vị thần của định mệnh hành động theo những cách thật kỳ quặc. Chắc hẳn chuyến hải trình ấy sẽ kết thúc mà tình thâm giao giữa chúng tôi chẳng được bồi đắp thêm chút nào; chắc hẳn những con đường của chúng tôi rồi sẽ rẽ ngang, chẳng bao giờ giao cắt nữa; chắc hẳn cuộc đời chúng tôi cứ thế trôi đi trọn vẹn và câu chuyện này sẽ chẳng bao giờ được kể lại—nếu không vì định mệnh trớ trêu của chiếc Hộp Nho.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.