Cuối cùng, cuối cùng chúng tôi cũng vượt qua được ngọn phân thủy lĩnh, bỏ lại đằng sau vĩnh viễn thung lũng ma cà rồng. Ôi, chúng tôi mừng rỡ biết bao! Nhưng những rắc rối khác lại kéo đến. Chẳng mấy chốc, ngày mà phần lương thực cuối cùng của chúng tôi cạn sạch cũng tới. Tôi nhớ chúng tôi đã ăn bữa đó với vẻ mặt trang nghiêm thế nào. Lúc ấy, chúng tôi đã đói lả đi hơn ba phần tư, và phần ăn đó chẳng bõ dính răng.
— Thôi được, — anh chàng Lai giống nói, — chắc bây giờ chúng ta cách sông Yukon không xa nữa đâu. Nó hẳn nằm ở thung lũng bên kia ngọn núi này. Rồi chỉ vài ngày nữa, chúng tôi có thể làm một chiếc bè và xuôi dòng về Dawson.
Điều này khích lệ tinh thần chúng tôi, thế là một lần nữa chúng tôi vác ba lô lên và xuất phát. Jim không nhúc nhích.
— Nào, Jim.
Vẫn không có động tĩnh gì.
— Sao thế, Jim? Đi thôi.
Anh quay lại nhìn chúng tôi bằng một khuôn mặt tái xám và như kẻ sắp chết.
— Đi đi, các cậu. Đừng bận tâm đến tôi. Thời của tôi hết rồi. Tôi là một ông già. Tôi chỉ làm vướng chân các cậu thôi. Không có tôi, các cậu còn một tia hy vọng; có tôi thì cầm chắc cái chết. Cứ để tôi lại đây với một khẩu súng. Tôi có thể bắn súng và kiếm chút đồ ăn. Các cậu có thể quay lại đón tôi. Các cậu sẽ thấy già Jim vẫn lanh lẹ, vui vẻ, chờ đón với nụ cười trên môi. Giờ đi đi, các cậu. Các cậu sẽ đi chứ?
— Đi cái con khỉ! — Anh chàng Hoang đàng thốt lên. — Cậu thừa biết chúng tôi sẽ không bao giờ bỏ rơi cậu mà, Jim. Cậu biết luật của những con đường mòn chứ. Cậu coi chúng tôi là cái gì — lũ tiểu nhân hèn nhát à? Nào, chúng tôi sẽ cõng cậu nếu cậu không đi nổi.
Anh lắc đầu đầy vẻ đáng thương, nhưng rồi lại lết theo sau chúng tôi. Bản thân chúng tôi cũng chẳng đi nhanh được bao nhiêu. Việc thiếu thốn lương thực bắt đầu phát huy tác dụng tàn phá. Dạ dày chúng tôi trống rỗng đến đau đớn và tê dại.
— Cậu thấy thế nào? — Anh chàng Hoang đàng hỏi. Khuôn mặt anh trũng sâu đến mức gây chú ý, nhưng trên môi vẫn nặn ra một nụ cười cứng nhắc.
— Bình thường, — tôi đáp, — chỉ là mệt lả đi thôi. Thỉnh thoảng đầu tôi lại nhức buốt, nhưng chẳng thấy đau đớn gì cả.
— Tôi cũng vậy. Cái trò chết đói này dễ ẹt. Dễ như ăn kẹo ấy chứ. Đúng là bọn khoác lác khi cứ bàn về những cơn đau cồn cào do đói khát, hay những kẻ ngấu nghiến cả cổ giày. Dễ ợt hà. Chẳng đau đớn gì sảng. Thậm chí tôi chẳng còn thấy đói nữa.
Chẳng ai trong chúng tôi cảm thấy đói cả. Cứ như thể dạ dày chúng tôi, vì tuyệt vọng chẳng nhận được chút thức ăn nào, nên đã chìm vào trạng thái thờ ơ, tê liệt. Thế nhưng, không còn nghi ngờ gì nữa, chúng tôi đã suy kiệt trầm trọng. Giờ đây mỗi ngày chúng tôi chỉ đi được vài dặm, và ngay cả việc đó cũng là một sự cố gắng cực nhọc. Khoảng cách dường như có tính đàn hồi, cứ kéo giãn ra dưới bước chân chúng tôi. Cứ cách vài thước chúng tôi lại phải giúp Jim vượt qua một đoạn đường hiểm trở. Cơ thể anh gầy gò trơ xương và ngày càng trở nên yếu ớt. Một ngọn lửa trũng sâu bùng cháy trong đôi mắt anh. Anh chàng Lai giống vẫn khăng khăng rằng bên kia những ngọn núi độc đoán ấy chính là thung lũng Yukon, và đến ban đêm, anh lại đánh thức chúng tôi dậy:
— Này các cậu, tôi nghe thấy tiếng còi tàu rồi. Chỉ vài ngày nữa thôi là chúng tôi tới nơi.
Băng qua thung lũng, chúng tôi tìm thấy một con sông nhỏ. Nước nó đục ngầu và có vẻ như không có nổi một con cá nào. Chúng tôi háo hức sục sạo dọc bờ sông, hy vọng tìm được vài con cá con, nhưng chẳng thu được kết quả gì. Đối với tôi, khi tôi lùng sục khắp nơi để kiếm thứ gì đó bỏ bụng, dường như thứ thúc đẩy tôi không hẳn là cơn đói mà là bản năng tự bảo vệ mình. Tôi biết rằng nếu tôi không cho được thứ gì vào dạ dày, chắc chắn tôi sẽ chết.
Chúng tôi thảm hại lê bước dọc theo bờ sông. Đã một tuần nay chúng tôi chẳng có gì ăn. Jim đã kiên cường chống chọi, nhưng giờ thì anh gục ngã.
— Vì ơn trên, hãy bỏ tôi lại đi, các cậu! Đừng biến tôi thành kẻ mang tội gánh lấy cái chết của các cậu. Chẳng lẽ trên linh hồn tôi chưa đủ tội lỗi hay sao? Vì lòng trắc ẩn của Chúa, hỡi các bạn, hãy cứu lấy chính mình! Hãy để tôi lại đây mà chết.
Anh nghẹn ngào van xin. Đôi chân anh dường như đã bị bại liệt. Mỗi lần chúng tôi dừng lại là anh lại chúi nhủi mặt về phía trước, hoặc đang đi thì ngủ gục rồi ngã lăn ra. Anh chàng Hoang đàng và tôi đỡ anh dậy, nhưng bản thân chúng tôi đứng vững đã vô cùng khó khăn, và đôi khi cả ba chúng tôi lại ngã sụp xuống thành một đống lộn xộn, bất lực. Anh chàng Hoang đàng vẫn giữ nguyên nụ cười cứng nhắc đó trên môi. Khuôn mặt anh gần như không còn chút thịt, và ẩn sau bộ râu xồm xoàm, trông anh đôi khi chẳng khác nào một chiếc đầu lâu đang nhe răng cười. Jim vẫn liên tục rên rỉ và van nài:
— Bỏ tôi lại đi, các bạn thân mến, bỏ tôi lại đi!
Anh trông như một kẻ say rượu, và mỗi bước đi của anh là một sự cực hình.
Chúng tôi vứt bỏ cả ba lô. Chúng tôi không còn đủ sức để mang chúng nữa. Thử thách cuối cùng bị vứt đi là khẩu súng trường của anh chàng Lai giống. Đã mấy lần nó tuột khỏi tay anh. Anh nhặt nó lên trong trạng thái ngây dại. Lần này rồi lần khác nó lại rơi xuống, nhưng rồi cuối cùng cũng đến lúc anh không thèm nhặt nó lên nữa. Anh thẫn thờ nhìn nó một lúc, rồi lảo đảo bước đi không cần nó nữa.
Vào ban đêm, chúng tôi thường nghỉ ngơi rất lâu quanh đống lửa trại. Có những hôm chúng tôi nghỉ ngơi mãi cho đến tận ban ngày. Jim nằm lì như một thây ma, rên rỉ không dứt, trong khi chúng tôi, trân trân nhìn vào khuôn mặt hốc hác của nhau, cất tiếng nói đứt quãng. Việc kiếm đồ ăn là một sự nhọc nhằn. Việc thúc giục bản thân tiếp tục cuộc hành trình cũng là một sự nhọc nhằn.
— Chắc chắn con sông này đổ ra sông Yukon mà các cậu, — anh chàng Lai giống nói. — Cũng chẳng còn xa nữa đâu. Nếu chúng ta cố đi thêm vài dặm nữa thôi là ổn cả.
Vào ban đêm, trong giấc ngủ, tôi trở thành con mồi của những ảo giác kỳ lạ nhất. Những người tôi từng quen biết đến và trò chuyện với tôi. Họ chân thực đến mức khi tỉnh dậy, tôi khó lòng tin rằng mình vừa mơ. Berna thường xuyên đến gặp tôi. Cô tiến lại rất gần, với đôi mắt đục ngấn vẻ xót xa nhìn sâu vào mắt tôi. Đôi môi cô mấp máy.
— Hãy dũng cảm lên, anh bạn nhỏ. Đừng tuyệt vọng, — cô van nài. Trong các giấc mơ, lúc nào cô cũng van nài như thế, và tôi nghĩ rằng nếu không có cô, tôi đã buông xuôi từ lâu.
Anh chàng Lai giống là người kiên quyết nhất trong nhóm. Anh không bao giờ mất bình tĩnh. Thỉnh thoảng chúng tôi có hơi sảng sược một chút, hay cười khúc khích một chút, hoặc khóc lóc một chút, nhưng anh chàng Lai giống vẫn điềm tĩnh và cứng rắn. Anh không ngừng sục sạo tìm đồ ăn. Có lần anh tìm thấy một ổ trứng gà rừng, và khi đập ra, anh phát hiện bên trong chúng chứa những con chim non đang hình thành một nửa. Chúng tôi cứ thế ăn tươi nuốt sống, nhai ngấu nghiến chúng giữa phần nướu sưng phồng của mình. Đôi khi chúng tôi cũng ăn cả ốc sên, rễ cỏ và rêu cạo từ trên thân cây. Nhưng vận may lớn nhất của chúng tôi chính là những quả trứng gà rừng đã hỏng.
Đầu giờ chiều hôm nọ, tất cả chúng tôi đang nghỉ ngơi bên đống lửa trại đang nấu một nồi rêu thì bỗng anh chàng Lai giống chỉ tay về phía trước. Kìa, ở một khoảng trống dưới mép bờ sông, có một con nai sừng tấm mẹ và con. Chúng đang uống nước. Chúng tôi đờ đẫn nhìn ra. Tôi thấy tay anh chàng Lai giống vươn ra như muốn chộp lấy khẩu súng trường. Khốn nỗi! Các ngón tay anh chỉ vồ vào khoảng không trống rỗng. Chúng ở gần đến mức chúng tôi có thể ném một hòn đá là trúng. Ngậm con dao găm trong miệng, anh chàng Lai giống bắt đầu bò rạp bằng bụng về phía chúng. Anh mới đi được vài thước thì chúng đã đánh hơi thấy anh. Chúng liếc nhìn một cái, và chỉ thoáng chốc sau đã chạy xa đến hàng dặm. Đó là lần duy nhất tôi thấy anh chàng Lai giống nản lòng. Anh ngã sấp mặt xuống đất và nằm im ở đó một thời gian dài.
Nhiều lần chúng tôi gặp những vũng lầy không thể vượt qua, và buộc phải đi vòng tránh chúng. Chúng tôi cố gắng đóng bè, nhưng lại quá yếu để điều khiển chúng. Chúng tôi sợ mình sẽ lăn tõm xuống làn nước đen ngòm sâu thẳm rồi chết đuối một cách vô vọng. Thế nên chúng tôi đành đi vòng, có trường hợp phải đi vòng tới mười dặm. Có lần, băng qua một vũng lầy rộng vài thước, anh chàng Lai giống đã dựng một cây cầu bằng cành liễu, và chúng tôi phải bò bằng cả tay lẫn đầu gối để sang được bờ bên kia.
Từ một thời điểm nào đó, chuyến đi của chúng tôi đối với tôi giống như một cơn ác mộng. Tôi chỉ có thể nhớ được những mảnh ghép rời rạc của nó ở chỗ này hay chỗ khác. Chúng tôi lảo đảo như những kẻ say rượu. Thỉnh thoảng chúng tôi bật khóc, và đôi khi chúng tôi cầu nguyện. Giờ đây chẳng còn lời nào phát ra từ Jim nữa, thậm chí cả một tiếng rên rỉ cũng không có, khi chúng tôi vừa lôi kéo vừa cõng anh đi tiếp. Đôi mắt chúng tôi trân trân vì sốt rét, đôi bàn tay gầy giơ xương như những chiếc móng vuốt. Bộ râu dài bệnh hoạn mọc rậm rạp trên khuôn mặt chúng tôi. Quần áo đã rách tả tơi, và lũ côn trùng bu bám đầy người. Chúng tôi đã mất hết khái niệm về thời gian. Gần đây, mỗi ngày chúng tôi chỉ di chuyển được khoảng nửa dặm, và chắc chúng tôi đã nhịn đói đúng nghĩa đến hai mươi ngày trời.
Anh chàng Lai giống đã bò lên trước chừng một dặm và quay lại nơi chúng tôi đang nằm. Bằng giọng khàn đặc gần như chỉ còn là tiếng thì thầm, anh báo cho chúng tôi biết có một con sông lớn hơn nhập vào con sông của chúng tôi ở đằng kia, và trên doi cát có một trại của người da đỏ cũ. Biết đâu ở nơi đó sẽ có người tìm thấy chúng tôi. Nơi đó có vẻ nằm trên tuyến đường qua lại. Thế nên chúng tôi dồn chút sức lực tuyệt vọng cuối cùng để lết tới đó. Người da đỏ mới đến đó cách đây chưa lâu. Chúng tôi sục sạo khắp vùng và tìm thấy một vài chiếc xương cá thối, đem nấu làm súp.
Có một ngôi mộ được đặt dựng đứng trên các cột chống, và bên trong là một thi thể được phủ bằng vải bạt. Anh chàng Lai giống giật tấm vải bạt ra khỏi thi thể, và dùng nó làm một chiếc thuyền dài tám thước, rộng sáu thước. Nó đã quá mục nát để có thể đỡ lấy anh, và anh suýt chết đuối khi cố thử bơi nó, thế nên anh đành để mặc nó nằm bên mép doi cát. Tôi nhớ đó là một sự thất vọng kinh khủng đối với chúng tôi, và chúng tôi đã khóc nức nở. Tôi nghĩ rằng vào khoảng thời gian đó, tất cả chúng tôi đều đã hơi điên dại. Chúng tôi nằm trên doi cát đó như những kẻ đã chết, không còn chút hy vọng được giải cứu nào nữa.
Rồi Jim xuôi tay nhắm mắt. Giữa đêm, anh gọi tôi.
— Này cậu, — anh thì thầm, — cậu với tôi từ trước tới nay vẫn là bạn tốt của nhau, phải không?
— Vâng, lão già.
— Này cậu, tôi đang quằn quại đây. Tôi phải chịu đựng những cơn đau không thể kể xiết. Lấy khẩu súng đi, vì ơn trên, hãy chấm dứt sự khốn khổ này cho tôi.
— Làm gì có súng nữa, Jim; chúng ta bỏ lại nó trên đường mòn rồi mà.
— Vậy thì lấy con dao của cậu đi.
— Không, không.
— Đưa dao cho tôi.
— Jim, anh điên rồi đấy à. Lòng tin của anh vào Chúa để đâu rồi?
— Mất rồi, mất hết rồi; tôi chẳng còn quyền gì để trông cậy vào Ngài nữa. Tôi đã giết người. Tôi đã tước đoạt sinh mạng mà Ngài ban cho. "Sự trả thù thuộc về Ta," Ngài đã phán thế, vậy mà tôi lại tự tay tước đoạt nó. Lời nguyền của Chúa đang giáng xuống đầu tôi rồi. Ồ, hãy để tôi chết, hãy để tôi chết đi!
Tôi ngồi bên anh suốt đêm. Anh rên rỉ trong đớn đau, và phút lâm của anh thật nhọc nhằn. Khoảng ba giờ sáng thì anh cất tiếng nói tiếp:
— Này cậu, tôi sắp đi đây. Tôi là một lão già vô tích sự. Tôi đã sống trong tội lỗi, rồi tôi ăn năn, rồi tôi lại sa ngã. Chúa không cần già Jim nữa đâu. Này nhóc, hãy chắc chắn là con bé nhà tôi dưới Dawson nhận được số tiền thuộc về tôi nhé. Bảo nó sống cho đàng hoàng, và nói với nó là tôi yêu nó. Nói với nó là từng ấy năm qua chưa bao giờ tôi ngừng yêu nó cả. Cậu sẽ nhớ điều đó chứ, hả cậu?
— Tôi sẽ nhớ, Jim.
— Ôi, tất cả chỉ là một thứ bùa nguyền quái quỷ, cái xứ vàng miền Bắc này, — anh rên rỉ. — Nhìn xem nó đã làm gì cho tất cả chúng ta kìa. Chúng ta đến để cướp bóc vùng đất này và giờ nó đang trả thù chúng ta. Nó bị nguyền rủa rồi. Cuối cùng thì nó cũng tóm được tôi, nhưng biết đâu tôi vẫn có thể giúp các cậu đánh bại nó thì sao. Gọi những người khác lại đây.
Tôi gọi họ lại.
— Này các cậu, — Jim nói, — tôi sắp đi rồi đây. Tôi đã mất rất nhiều thời gian cho việc này. Tôi đã chết từng chút một, nhưng chắc lần này tôi sẽ hoàn thành công việc thật gọn gàng thôi. Nào các cậu, hiện tôi vẫn minh mẫn hoàn toàn. Tôi muốn các cậu biết điều đó. Tôi từng phát điên khi mới lên đường, nhưng chuyện đó qua rồi. Đầu óc tôi rất tỉnh táo. Giờ này, những người bạn đồng hành, chính tôi đã kéo các cậu vào vũng lầy này. Tôi phải chịu trách nhiệm, và hình như tôi sẽ chết một cách thanh thản hơn nếu các cậu hứa với tôi một điều. Khi sống, tôi không thể giúp gì cho các cậu; khi chết rồi, tôi có thể — các cậu biết bằng cách nào rồi đấy. Thôi nào, tôi muốn các cậu hứa với tôi là sẽ làm thế. Đó là một đề nghị hợp lý. Đừng do dự. Đừng để tình cảm ngăn cản các cậu. Tôi muốn vậy. Đó là tâm nguyện lúc lâm của tôi. Các cậu đang chết đói, và tôi có thể giúp các cậu, có thể cho các cậu sức mạnh. Các cậu có hứa rằng, nếu rơi vào bước đường cùng, các cậu sẽ làm thế không?
Chúng tôi sợ hãi không dám nhìn thẳng vào mặt nhau.
— Ồ, hãy hứa đi các cậu, hứa đi!
— Cứ hứa với anh ấy đi, — anh chàng Lai giống nói. — Anh ấy sẽ ra đi thanh thản hơn.
Thế là chúng tôi gật đầu khi cúi người xuống bên anh, và anh quay mặt đi, mãn nguyện.
Chỉ một lúc sau, anh lại gọi tôi.
— Này cậu, đưa tay cho tôi nào. Cầu nguyện cho tôi một câu nhé? Biết đâu nó sẽ giúp ích được phần nào, một lời cầu nguyện cho một kẻ tội nhân nghèo khổ đã lầm đường lạc lối. Tôi chẳng bao giờ có thể cầu nguyện được nữa rồi.
— Vâng, hãy cố gắng cầu nguyện đi Jim, cố lên. Nào; hãy đọc theo tôi: "Lạy Cha chúng con —"
— "Lạy Cha chúng con —"
— "Đấng ngự trên trời —"
— "Đấng ngự trên —"
Đầu anh gục xuống phía trước. — "Phù hộ cho con, con trai của ta. Lạy Cha, xin tha thứ, tha thứ cho —"
Anh lịm đi rất nhẹ nhàng.
Anh đã chết.
Sáng hôm sau, anh chàng Lai giống bắt được một con cá con. Chúng tôi chia làm ba phần rồi ăn sống. Ít lâu sau, anh tìm thấy một nhúm rận nước dưới một hòn đá. Chúng tôi cố nấu chín chúng, nhưng chúng chẳng giúp gì được mấy. Rồi khi màn đêm buông xuống một lần nữa, một ý nghĩ chợt nảy sinh trong đầu chúng tôi và bám chặt lấy ở đó. Đó là một suy nghĩ thầm kín, vậy mà nó cứ lớn dần lên. Khi chúng tôi ngồi quây quần thành vòng tròn, chúng tôi nhìn vào mặt nhau, và ở đó chúng tôi đọc được cùng một ý nghĩ ghê tởm. Thế nhưng suy nghĩ ấy xét cho cùng lại chẳng có vẻ gì là quá ghê tởm nữa. Cứ như thể linh hồn của người đã khuất đang thúc đẩy chúng tôi làm việc này, bởi vì ý nghĩ đó ngày càng trở nên khẩn thiết. Đó là hy vọng sống duy nhất của chúng tôi. Nó đồng nghĩa với sức mạnh trở lại, sức mạnh và năng lượng để làm một chiếc bè thả trôi xuôi dòng sông. Ôi, giá như — nhưng, không! Chúng tôi không thể làm thế. Thà chết còn hơn, gấp trăm lần hơn thế.
Tuy vậy sự sống vẫn thật ngọt ngào, và chúng tôi đã nhịn đói suốt hai mươi ba ngày trời. Đây là một cơ hội để sống, cùng với tiếng người chết thì thầm bên tai chúng tôi hãy làm điều đó. Các bạn, những người chưa từng phải nhịn đói một ngày nào trong đời, liệu các bạn có trách chúng tôi không? Sự sống cũng ngọt ngào đối với các bạn mà. Các bạn sẽ làm gì cơ chứ? Người chết đang giục giã chúng tôi, và sự sống thì thật ngọt ngào.
Nhưng chúng tôi đã giãy giụa, Chúa biết là chúng tôi đã giãy giụa. Chúng tôi không chịu khuất phục mà không hề trải qua sự dằn vặt đớn đau. Trong đôi mắt tuyệt vọng, trân trân của chúng tôi ẩn chứa nỗi dằn vặt của sự cám dỗ lớn lao. Chúng tôi nhìn vào những gương mặt đầu lâu của nhau. Chúng tôi đan những bàn tay gầy trơ xương quanh đôi đầu gối lỏng lẻo, và ngả nghiêng khi cố ngồi thẳng dậy. Lũ côn trùng bò lổm ngổm trên người chúng tôi trong cơn suy kiệt. Chúng tôi nửa điên dại, lầm bầm trong bộ râu.
Chính anh chàng Lai giống là người lên tiếng, và giọng anh chỉ là một tiếng thì thầm:
— Đó là cơ hội duy nhất của chúng ta, các cậu ạ, và chúng ta đã hứa với anh ấy rồi. Chúa xin hãy tha thứ cho tôi, nhưng tôi còn có vợ con, và tôi phải làm thôi.
Anh quá yếu không thể đứng dậy nổi, và ngậm con dao trong miệng, anh bò về phía thi thể.
Mọi thứ đã sẵn sàng, nhưng chúng tôi vẫn chưa ăn. Chúng tôi cứ đợi mãi, đợi mãi, ôm ấp một tia hy vọng mong manh. Rồi, trong lúc chúng tôi đang chờ đợi, Chúa đã rủ lòng thương xót chúng tôi. Ngài đã cứu chúng tôi khỏi việc này.
— Này, tôi đoán mình lại bị ảo giác rồi, nhưng tôi nghĩ tôi thấy hai người đang xuôi dòng trên một chiếc bè.
— Không, không phải ảo giác đâu, — tôi nói; — hai người đấy.
— Hò hét họ đi; tôi không làm nổi đâu, — anh chàng Hoang đàng nói.
Tôi cố gắng hét lên, nhưng giọng tôi phát ra chỉ là một tiếng thì thầm. Anh chàng Lai giống cũng cố gào lên. Hầu như chẳng có chút âm thanh nào phát ra cả. Hai người đó không nhìn thấy chúng tôi đang nằm trên doi cát sỏi ấy. Họ càng lúc càng tiến nhanh hơn. Trong nỗi buồn đau tuyệt vọng và bất lực, chúng tôi dõi theo họ. Chúng tôi chẳng thể làm gì được. Chỉ thoáng chốc nữa thôi là họ sẽ lướt qua. Với đôi mắt đầy kinh hãi, chúng tôi đi theo họ, cố ra hiệu cho họ. Ôi Chúa ơi, xin hãy giúp chúng tôi!
Bỗng nhiên họ nhìn thấy chiếc thuyền kỳ quặc làm bằng vải bạt và cành liễu của chúng tôi. Họ dùng sào đẩy chiếc bè áp sát vào, rồi một trong số họ nhìn thấy ba sinh vật kỳ dị đang quằn quại bất lực trên bãi cát. Chúng là những bộ xương khô, chúng rách rưới, chúng đầy rẫy côn trùng bu bám.—* * * *
Chúng tôi đã được cứu; tạ ơn Chúa, chúng tôi đã được cứu!