Tiền vé tàu cộng với một vài khoản nợ nhỏ cần thanh toán khiến tôi nhận ra khi đặt chân đến San Francisco rằng một lần nữa tôi lại hoàn toàn nhẵn túi. Trông tôi bợt bạt đến thảm hại, có thể nói là khốn cùng, bởi vì qua cuộc hành trình dài dặc, đôi giày của tôi gần như sắp rã ra đến nơi. Không có bức thư nào đợi tôi cả; có lẽ vì nỗi thất vọng, hoặc có lẽ vì vẻ ngoài vô cùng xơ xác của mình, tôi thấy lòng mình hoàn toàn nhụt chí. Với bộ dạng ấy, tôi chẳng dám mở lời xin việc ai. Thế là tôi thắt lưng buộc bụng ngồi ở Quảng trường Portsmouth, tự nguyền rủa bản thân vì đã ném qua cửa sổ biết bao đồng xu cho lối sống phóng túng.
Hai ngày sau, tôi vẫn phải tiếp tục thắt lưng buộc bụng. Tất cả những gì tôi đã ăn chỉ là một bữa duy nhất, kiếm được bằng cách bóc vỏ nửa bao khoai tây cho một quán ăn. Tôi ngủ dưới sàn của một ngôi nhà hoang phía ngả Presidio.
Vào hôm đó, tôi đang thiu thiu ngủ trên ghế đá thì có tiếng người gọi tôi.
"Này, anh bạn trẻ, trông anh tàn tạ phết nhở."
Tôi ngước lên và thấy một người đàn ông lớn tuổi, tóc điểm bạc.
"Ôi không!" Tôi đáp, "Tôi có sao đâu. Tôi đang diễn đấy chứ. Tôi là triệu phú cải trang đi nghiên cứu xã hội học cơ mà."
Ông ấy tiến lại và ngồi xuống cạnh tôi.
"Thôi nào, xốc lại tinh thần đi nhóc, chú mày coi như tạt gót đến nơi rồi còn gì. Tao để ý chú mày suốt hai ngày nay rồi đấy."
"Hai ngày," tôi thều thào nhắc lại với giọng chán nản. "Cứ như là hai năm ấy." Rồi bỗng nhiên, với một vẻ gay gắt bất thần:
"Thưa ông, tôi là kẻ xa lạ đối với ông. Chưa bao giờ trong đời tôi phải mở miệng vay tiền ai cả. Đòi hỏi ông đặt niềm tin vào tôi lúc này là một điều quá sức, nhưng đó sẽ là một hành động vô cùng bác ái. Tôi đang chết đói. Nếu ông có mười xu nhàn rỗi nào, xin hãy cho tôi vay vì tình thương của Chúa. Tôi sẽ trả lại cho ông dù phải mất tới mười năm."
"Được thôi, con trai," ông nói một cách vui vẻ; "chúng ta đi kiếm gì đó lót dạ nào."
Ông dẫn tôi đến một nhà hàng và gọi một bữa ăn làm tôi hoa cả mắt. Tôi cảm giác mình sắp ngất đến nơi, nhưng sau khi nhấp một chút brandy, tôi đã có thể tiếp tục công cuộc ăn uống. Đến lúc uống cà phê, tôi phấn khích vì thức ăn chẳng kém gì khi vừa được uống rượu vang. Lúc này tôi mới có dịp quan sát vị ân nhân của mình.
Ông hơi thấp hơn chiều cao trung bình, nhưng người vuông vức và rắn rỏi đến mức bạn cảm thấy đây là một nhân vật không thể xem thường. Làn da ông rám nắng như da người da đỏ, đôi mắt xanh nhạt sáng ngời và vui tươi lạ thường, như thể phát ra từ một thứ ánh sáng nội tâm. Miệng ông mím chặt và cằm bạnh ra đầy quả quyết. Nhìn chung, gương mặt ông là sự pha trộn kỳ lạ giữa lòng nhân hậu và sự quyết đoán tàn nhẫn.
Lúc này, ông đang nhìn tôi với một vẻ hoàn toàn nhân từ.
"Thấy khá hơn chưa, con trai? Nào, cứ tự nhiên kể cho ta nghe phần nào trong câu chuyện của chú mày mà chú mày muốn."
Tôi thuật lại tất cả những gì đã xảy ra với mình kể từ khi đặt chân lên vùng đất mới.
"Hừ!" ông thốt lên khi tôi vừa dứt lời. "Đấy là cái dở của mấy cậu thanh niên bên cựu lục địa các cậu. Các cậu chẳng có lấy chút xông xáo và can đảm để mà tự bươn chải kiếm việc làm. Các cậu cứ đến gặp ông chủ rồi thú nhận: 'Cháu chẳng có kinh nghiệm gì, nhưng cháu sẽ cố gắng hết sức.' Trong khi một chàng trai Mỹ sẽ nói thế này: 'Tôi làm được tuốt. Cứ giao việc cho tôi rồi ông sẽ thấy.' Thế theo cậu thì ai sẽ được tuyển? Thôi được, ta nghĩ mình có thể kiếm cho chú mày một chân làm vườn ở mạn Alameda."
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc.
"Không có chi," ông nói; "ta rất vui vì nhờ ơn Chúa mà ta có cơ hội được giúp chú mày một tay. Tốt nhất là cứ về phòng trọ ở chung với ta cho đến khi có việc gì ngã ngũ. Ba ngày nữa ta sẽ đi miền Bắc."
Tôi hỏi có phải ông sắp đi vùng Yukon không.
"Đúng vậy, ta sắp tham gia vào cái đám đông phát cuồng đổ xô tới Klondike đây. Ta đã đi đào vàng suốt hai mươi năm trời, từ Arizona, Colorado cho đến khắp mọi nơi, và giờ thì ta chuẩn bị xem miền đất phía Bắc có chịu dành cho ta chút vốn liếng nào không."
Khi đã về đến căn phòng của ông, ông kể cho tôi nghe về cuộc đời mình.
"Ta đã được cứu rỗi bởi hồng ân của Chúa, nhưng ta từng là một kẻ giang hồ cộm cán. Ta đã làm đủ mọi thứ nghề, từ cảnh sát trưởng thành phố cho đến trùm cờ bạc. Ta đã kè kè mang súng bên mình suốt hai năm trời, đinh ninh rằng có thể nhận vé đi xuống Địa Ngục bất cứ lúc nào."
"Ông từng giết ai chưa?" tôi gặng hỏi.
Ông bắt đầu bước đi qua bước đi lại trong phòng.
"Tạ ơn Chúa, ta chưa từng, nhưng ta đã bắn.... Đã có thời ta có thể rút súng và bắn trúng ngay một cái đinh đóng trên vách tường. Ta ra tay rất nhanh, nhưng có khối kẻ còn cao tay hơn cả ta. Cả những gã trầm tính nữa, cậu sẽ chẳng bao giờ ngờ tới họ đâu. Mấy gã ít nói mới là nguy hiểm nhất. Trông họ hiền lành, thân thiện, tử tế biết bao khi đứng uống rượu ở quầy bar, nhưng họ chẳng biết sợ là gì, và trên báng súng của mỗi gã đều có chục vạch khắc. Ta quen biết rất nhiều người như thế, từng kết thân với họ, và họ quả là những bậc vương giả, những con người tuyệt vời nhất trên đời, sẵn sàng cởi cả áo mặc trên người để giúp bạn bè. Cậu hẳn sẽ mến họ—nhưng tạ ơn Chúa, ta đã là một con người được cứu rỗi."
Tôi vô cùng hứng thú lắng nghe.
"Ta biết là mình không nên nói những điều này. Mọi chuyện đã qua rồi, và ta đã nhận thức được con đường tội lỗi của mình, nhưng thỉnh thoảng ta vẫn phải thổ lộ đôi điều. Ta là Jim Hubbard, được biết đến với cái tên 'Salvation Jim', và ta rành rọt chuyện khai mang từ Sáng Thế Ký cho đến Khải Huyền. Có dạo ta từng cờ bạc và chè chén vô độ. Một buổi sáng nọ, ta bước ra khỏi bàn chơi bài sau khi ngồi đồng ở đó suốt ba mươi sáu tiếng đồng hồ. Ta đã thua năm ngàn đô-la. Ta thừa biết họ đã bịp mình một vố đau đớn, nhưng ta ngậm đắng nuốt cay chịu đựng.
"Ngay lúc đó, ta tự nhủ mình cũng sẽ thành kẻ gian xảo. Ta học cách chơi bài đánh dấu. Ta có thể nhận ra từng lá bài trong bộ. Ta đứng ra mở sới bài xì phé, với một tên Nhật và một tên Tàu làm đối tác. Chúng nhanh tay hơn người da trắng, và ít khi bị hoảng loạn tinh thần. Kiếm tiền lúc đó dễ như lấy kẹo từ tay trẻ con. Thỉnh thoảng ta vẫn chơi sòng phẳng. Chẳng ai có thể xạo sự ra vẻ tay chơi mà không để lộ sơ hở. Có thể chỉ là một cái chớp mắt, có thể là một cú nhích chân. Ta từng quan sát một gã suốt cả tháng trời cho đến khi tìm ra cái tật xấu tố cáo hắn. Rồi ta cứ thế nâng mức cược cho đến khi mồ hôi hắn túa ra trán. Hắn đã nằm gọn trong tầm tay ta. Ta lùng sục những kẻ từng cướp tiền của mình, và ta chơi lại chúng cay đắng hơn. Nào, xáo bộ bài này xem."
Ông lấy ra một bộ bài từ trong ngăn kéo.
"Ta sẽ không bao giờ quay lại nghề cũ đâu. Ta đã được cứu rỗi. Ta đặt trọn niềm tin nơi Chúa, nhưng chỉ để giải khuây nên ta vẫn giữ tay nghề mà thôi."
Vừa trò chuyện với tôi, ông vừa xáo bộ bài vài lần.
"Nào, ta đang chia bài đây; cậu muốn gì nào? Ba con già chứ?"
Tôi gật đầu.
Ông chia thành bốn tụ. Trong tụ của tôi có đúng ba con già.
Nhấc một tụ khác lên, ông chìa cho tôi xem ba con átt.
"Ta bụt tay mất rồi," ông nói với giọng xin lỗi. "Tay ta bị chai sạn cả. Ngày xưa ta giữ tay mình mềm mại như nhung cơ."
Ông biểu diễn cho tôi xem vài kiểu xáo bài bịp, rút bài từ dưới đáy bộ bài, và mấy thủ thuật khác.
"Đúng thế, ta đã trả đũa sòng phẳng những kẻ từng vét sạch tiền của ta. Ở đó là quy luật ăn thịt hoặc bị ăn thịt. Ta nhắm vào những tên gà mờ. Chưa từng có gã nào chơi xỏ ta mà không phải trả giá đắt kèm theo lãi suất. Dĩ nhiên, giờ thì mọi chuyện khác rồi. Sách Thánh có dạy: 'Hãy làm điều lành cho kẻ ghét các ngươi.' Ta đoán là mình sẽ làm thế, nhưng ta chẳng khuyên ai dại dột thử chọc giận ta đâu. Có khi ta lại quên mất lời răn ấy đấy."
Cái cằm bạnh, đầy vẻ hiếu chiến phóng nhô về phía trước; đôi mắt lóe lên một thứ hung ác bất kham, và trong khoảnh khắc, con người ấy toát lên một vẻ dữ dằn tựa mãnh thú. Tôi suýt không tin vào mắt mình; thế nhưng ngay giây tiếp theo, đó lại là gương mặt vui tươi, nhân hậu quen thuộc, khiến tôi tưởng rằng mắt mình đã chơi khăm mình một vò.
Có lẽ chính cái nét Thanh Giáo điềm đạm trong con người tôi đã hấp dẫn ông, nên chúng tôi trở thành những người bạn lớn của nhau. Chúng tôi trò chuyện về rất nhiều thứ, và điều tôi thích nhất là được nghe ông kể về những năm tháng tuổi trẻ của mình. Câu chuyện hệt như trong tiểu thuyết: bị vứt ra ngoài xã hội từ khi còn là một đứa trẻ; làm nghề đánh giày ở New York, trầy trật tranh giành chỗ đứng cho mình; làm thợ đốn gỗ trong những khu rừng ở Michigan; và cuối cùng là một phu mỏ ở Arizona. Ông kể cho tôi nghe những tháng ngày dài đằng đẵng trên sa mạc với chiếc tẩu thuốc là người bạn đồng hành duy nhất, tự lẩm bẩm một mình bên đống lửa vào ban đêm để cố không bị phát điên. Ông kể về người con gái ông từng cưới làm vợ và tôn thờ, cùng kẻ đã phá hoại hạnh phúc gia đình ông. Một lần nữa, tôi lại thấy cái vẻ mặt hung ác như mãnh thú ấy thoáng hiện lên trên gương mặt ông rồi vụt biến mất. Ông kể về những ngày tháng hoang dã của mình.
"Ta vốn là một kẻ hiếu chiến, và ta chẳng bao giờ biết sợ là gì. Ta chưa từng gặp gỡ kẻ nào có thể đánh bại ta trong một vụ ẩu đả tay đôi. Ta vừa khỏe mạnh phi thường lại nhanh nhẹn như mèo, nhưng chính sự hung hãn mới là thứ mang lại chiến thắng cho ta. Quật ngã đối thủ xuống đất và dùng giày giã cho nhừ tử. Ta từng đá nát bét mặt một gã ra như cháo. Thời đó là phải chơi kiểu đá, cắn và móc mắt—luật rừng áp dụng tuốt tuột.
"Đúng thế, ta chưa từng biết sợ hãi. Ta từng tay không tiến đến đối mặt với một tên mà ta biết chắc đang kè kè súng chỉ chực bắn hạ ta bất cứ lúc nào, và ta thách thức hắn dám làm điều đó. Chỉ bằng uy lực của ánh mắt, ta đã khuất phục được hắn. Hắn đinh ninh rằng ta cũng có súng và có thể rút nhanh hơn hắn. Rồi khi hơi men ngấm vào người, ta càng lúc càng trở nên điên cuồng. Đã có lúc ta dám cướp cả ngân hàng và bắn chết kẻ nào dám cản đường. Tạ ơn Chúa! Ta đã thấy được con đường tội lỗi của mình."
"Ông có chắc là mình sẽ không bao giờ tái phạm không?" tôi hỏi.
"Không bao giờ! Ta đã được tái sinh. Ta không hút thuốc, không uống rượu, không cờ bạc, và ta hạnh phúc suốt từng ngày dài. Chuyện rượu chè ấy mà. Ta từng có thời gian cai rượu liền tù tì ba tháng trời, nhưng ngày cũng như đêm, bất cứ đi đâu, ly whisky vẫn cứ văng vẳng hiện rõ ngay trước mắt ta. Sớm muộn gì nó cũng đánh gục ta. Rồi có đêm nọ, trong trạng thái nửa tỉnh nửa say, ta bước vào một Nhà Nguyện Phúc Âm. Ly rượu vẫn ở đó, và ta quằn quại đấu tranh để chống lại nó. Người thuyết giảng đang kêu gọi những kẻ tội lỗi hãy bước lên phía trước. Ta nghĩ dẫu sao cũng cứ thử xem sao, thế là ta tiến đến chiếc ghế dành cho người sám hối. Lúc ta đứng dậy thì ly rượu đã biến mất. Dĩ nhiên là có lúc nó lại hiện về, nhưng ta lại tống khứ nó đi bằng cách cũ. Chà, ta đã trải qua bao trận chiến đấu và không ít lần thất bại, nhưng cuối cùng ta đã thắng. Đó thực sự là một phép màu thiêng liêng."
Ước gì tôi có thể miêu tả hay hóa thân thành con người ấy cho bạn thấy. Ngôn từ không tài nào diễn tả hết tính cách kỳ lạ của ông. Tôi dần trở nên vô cùng gắn bó với ông, và quả thực tôi mang ơn ông một ân huệ to lớn.
Một ngày nọ, khi tôi đang ghé qua Bưu điện theo lệ thường, có ai đó bất ngờ tóm chặt lấy cánh tay tôi.
"Chào cậu Scotty! Thật là kỳ diệu hết chỗ nói. Tớ đang định gửi thư cho cậu đây."
Đó chính là chàng công tử hoang đàng, trông vô cùng bảnh bao và lịch sự.
"Này, tớ mừng húm vì tóm được cậu đấy; chúng ta sẽ khởi hành sau hai ngày nữa."
"Khởi hành! Đi đâu cơ?" tôi hỏi.
"Thì đi đến miền Bắc Huy Hoàng, đến xứ sở của Mặt Trời Lúc Nửa Đêm, đến những mỏ vàng lộ thiên của Thung lũng Klondike chứ đi đâu."
"Có thể là cậu," tôi đáp với giọng trầm ngâm; "nhưng tớ thì không."
"Cậu đi chứ, chắc chắn cậu sẽ đi, anh bạn già ạ. Tớ lo hết rồi. Nào, đi theo tớ, tớ muốn nói chuyện này. Tớ đã về nhà và diễn tròn vai đứa con hoang đàng trở về. Cụ ông nhà tớ tỏ ra rất tử tế khi tớ tuyên bố rằng tớ không tài nào chịu vào làm việc ở nhà máy keo dán được nữa. Tớ nói với cụ là tớ đang mắc chứng cuồng vàng trầm trọng và chẳng gì cứu vãn được ngoài một chuyến đi lên tuốt trên đó. Cụ tỏ ra khá thích thú với ý tưởng này. Cụ cấp vốn cho tớ rất hào phóng, và cho tớ thời hạn một năm để tạo dựng sự nghiệp. Thế nên tớ đang có mặt ở đây, và cậu cũng tham gia với tớ. Tớ sẽ tài trợ vốn cho cậu. Nhớ lấy, đây là một thương vụ làm ăn đấy. Tớ cần có người đồng hành, và khi nào cậu trúng quả đậm thì phải chia đôi cho tớ đấy nhé."
Tôi lấp lửng nhắc đến việc mình đã tìm được việc làm phụ tá làm vườn.
"Nào! Cậu sẽ sớm được đào những cục vàng ròng thay vì bới khoai tây thôi. Ôi giời, đây là cơ hội ngàn năm có một, bất cứ ai khác cũng sẽ chớp lấy ngay lập tức. Dĩ nhiên, nếu cậu sợ những gian khổ vất vả các thứ——"
"Không," tôi đáp nhanh, "tớ sẽ đi."
"Ha!" cậu ta cười lớn, "cậu quá gan lỳ nên chẳng sợ gì nữa rồi. Thôi nào, chúng ta sắp trở thành những kẻ phiêu lưu khốn khổ, nhưng phải nhanh chóng chuẩn bị hành trang thôi. Thời gian chẳng còn nhiều đâu."
Thế là chúng tôi tất bật chạy đôn chạy đáo. Cứ như thể một nửa thành phố San Francisco đang mắc chứng cuồng Klondike vậy. Đi đến đâu cũng thấy những cuộc đầu cơ và bầu không khí náo nhiệt. Tất cả các cửa hiệu đều mở quầy bán đồ trang bị dã ngoại, và những quan niệm của họ về những thứ cần thiết thì vừa hoang đường lại vừa mơ hồ. Chúng tôi xoay sở cũng không đến nỗi tệ, dù rằng giống như bao người khác, chúng tôi cũng mua sắm không ít thứ vô tích sự và ngớ ngẩn. Bỗng nhiên tôi nhớ đến Salvation Jim, và tôi kể cho chàng công tử hoang đàng nghe về người bạn mới của mình.
"Ông ấy là một người cực kỳ tốt bụng," tôi nói; "tâm can trong sáng tuyệt đối; có đủ mọi loại kinh nghiệm, và ông ấy định đi một mình."
"Ồ," chàng công tử hoang đàng bảo, "đúng là người chúng ta đang cần rồi. Chúng ta sẽ rủ ông ấy nhập bọn."
Tôi đứng ra làm mối cho hai người gặp nhau, và mọi chuyện đã được sắp xếp ổn thỏa. Cứ thế, ba chúng tôi rời San Francisco vào ngày mùng bốn tháng Ba để lên đường tìm kiếm vận may ở Miền Bắc Băng Giá.