"Này! Trông anh có vẻ sầu đời quá nhỉ. Vui lên xem nào, đồ ngốc! Có chuyện gì thế?" Đứa Cứa Đói vừa nói vừa tỏ vẻ ân cần.
Quả thực là có khối chuyện, bởi tôi vừa mới nhận được thư nhà, một bức từ Garry và một bức từ Mẹ. Thư của Garry mang giọng điệu quở trách nghiêm khắc, gần như là phản đối. Cậu ấy bảo rằng sức khỏe của Mẹ kém đi nhiều và đang vô cùng phiền lòng vì thói bồng bột của tôi. Cậu ấy chỉ trích tôi chẳng khác nào một hòn đá lăn không bám rễ, đồng thời hy vọng tôi sẽ lập tức từ bỏ cái ý định điên rồ đến biển Nam Hải để đàng hoàng tiến về phương Bắc.
Thư của Mẹ thì đầy vẻ trách móc, có đoạn gần như tuyệt vọng. Mẹ nói rằng sức khỏe bà đang suy kiệt, và bà tha thiết nài nỉ tôi hãy làm một đứa con ngoan, từ bỏ những chuyến phiêu lưu lang bạt để lập tức về sum họp với người anh em họ của tôi. Kèm theo thư là lệnh chuyển tiền qua bưu điện trị giá bốn mươi bảng. Bức thư được viết bằng những nét chữ nguệch ngoạc, mảnh mai và đong đầy tình mẫu tử dịu dàng ấy đã khiến tôi rơi nước mắt; để rồi trong lòng vô cùng ảm đạm, tôi tựa người vào lan can tàu và dõi theo khung cảnh nhốn nháo lúc khởi hành. Tội nghiệp Mẹ! Ôi Garry yêu quý! Tôi nghĩ về hai con người ấy ở tận Glengyle xa xôi với nỗi khao khát dịu dàng biết bao, nơi làn sương mờ xứ Scotland phủ bạc những thảm thạch thảo và cơn gió từ biển thổi về mang theo cái lạnh trong lành. Ôi, thèm làm sao hơi thở thanh sạch và buốt lạnh ấy! Thế nhưng than ôi, mỗi ngày trôi qua là ký ức ấy lại phai nhạt dần, và mỗi ngày tôi lại càng dấn thân sâu hơn, thích nghi trọn vẹn hơn với cuộc sống mới.
"Tôi vừa nhận được thư nhà," tôi nói, "và giờ tôi lại thấy muốn quay về với họ quá."
"Ôi, dẹp cái ý định đó đi," cậu ta kêu lên; "anh không thể nuốt lời lúc này được đâu. Đã đâm lao thì phải theo lao. Mẹ nào mà chẳng thế khi con cái dứt áo ra đi. U tôi cũng đang sợ xanh mặt vì tôi đây, cứ đinh ninh là ma quỷ đã nắm chắc phần thắng trong tương lai của tôi rồi. Chúng nó sẽ sớm tỉnh ngộ thôi. Việc anh cần làm lúc này là xắn tay áo lên và đi làm quen với mọi người đi. Từ hai tiếng nay, tôi đã lân la khắp nơi và nắm thóp hầu như mọi hành khách trên con tàu này rồi đấy. Này nhé! Trong tất cả những đám đông dở hơi thì cái tập hợp này đúng là đỉnh cao của sự lố bịch. Hầu hết bọn họ toàn là dân ngồi văn phòng, mấy kẻ chuyên múa bút với thợ cắt vải; chưa từng phải lao động nặng nhọc lấy một ngày trong đời, và đến cái cuốc với cái xổng khác nhau thế nào cũng chẳng biết. Bọn họ cứ ảo tưởng rằng chỉ việc đến đó là vớt được những cục vàng nguyên khối dưới nước lên dễ dàng như gắp những quả anh đào trong ly cocktail. Thật là hết chỗ nói."
"Kể tôi nghe về bọn họ xem nào," tôi nói.
"Được rồi, anh thấy cái cậu thanh niên đang đứng gần chúng ta kia không?"
Tôi nhìn theo hướng tay chỉ. Cậu ta mảnh khảnh, mang những đường nét dịu dàng, tao nhã cùng một vẻ mặt tươi tắn đến mức không tự nhiên.
"Cậu ta từng là kẻ múa bút trong một cái động chứa tiền — ý tôi là nhân viên ngân hàng. Tên cậu ta là Pinklove. Cậu ta muốn kết hôn với một cô nào đó, nhưng ban giám đốc nhất quyết không chịu. Thế là cậu ta bỏ việc, ném hết số tiền tích cóp vào chuyến đi này. Cô người yêu của cậu ta kìa, đang đứng trong đám đông kia."
Hòa lẫn trong bức tranh khảm những khuôn mặt người ấy, tôi thoáng thấy một gương mặt vô cùng dịu dàng nhưng đẫm nước mắt chẳng buồn giấu giếm.
"Thật là kẻ may mắn," tôi nói, "khi có một người quan tâm đến chuyến đi của mình nhiều đến thế."
"Ý anh là bất hạnh mới đúng, anh bạn trẻ ạ. Khi tham gia trò chơi này, anh chẳng nên vướng bận bất cứ sợi dây tình cảm nào cả."
Cậu ta chỉ tay về phía một thanh niên tóc dài đang thắt chiếc cà vạt buông lơi.
"Nhìn cái tên mặt mày tái mét, ra vẻ nghệ sĩ đứng cạnh cậu ta kìa. Đó là cộng sự của hắn. Một thứ đồ bỏ đi, ngơ ngơ ngác ngác. Hắn là thợ chạm khắc gỗ; bọn họ gọi hắn là Globstock; hắn bảo với tôi rằng kiến thức chạm khắc gỗ của hắn sẽ cực kỳ hữu dụng khi chúng ta đóng thuyền ở hồ Bennett. Chưa hết, còn một tên thứ ba nữa. Anh có thấy cái gã lùn tịt đang ba hoa chích choè kia không?"
Tôi nhìn thấy một gã đàn ông còm cõi, ngực lép kẹp, với những đường nét gương mặt toát lên sự tự mãn đến mức hách dịch.
"Hắn là giáo sư, trong đầu chứa đầy lý thuyết sách vở về vùng Yukon. Hắn chính là Ngài Thông Thái Mike. Hắn biết tuốt. Lắng nghe màn độc thoại của hắn về chủ đề 'Phải làm thế nào cho đúng' kìa. Hắn định ra sống trên boong tàu để tôi luyện bản thân làm quen với sự khắc nghiệt của khí hậu Bắc Cực. Hắn còn tập tạ lò xo để rèn luyện cơ bắp nhằm mục đích... múc vàng cho dễ."
Ánh mắt chúng tôi lại đảo quanh từ nhóm này sang nhóm khác, chọn ra những gương mặt đặc trưng.
"Anh thấy gã người Anh to lớn tóc vàng nhạt kia chứ? Đi cùng chuyến tàu Pullman với tôi từ New York đấy. 'Chán chết đi được, cậu không biết đấy thôi.' Lúc đến 'Frisco, hắn nói với tôi rằng: 'Tạ ơn Chúa, anh bạn già ạ, chặng đường tồi tệ nhất đã qua rồi.' Kế đến là Romulus và Remus, cặp sinh đôi, hai gã trai lực lưỡng. Cách duy nhất để tôi phân biệt được họ là một người thì buộc dây giày thật chặt, người kia thì thắt lỏng. Họ quý nhau như vàng vậy."
Cậu ta quay ngoắt người sang hướng Jim Cứu Rỗi đang trò chuyện với hai người đàn ông.
"Đó mới là một cặp sáng giá. Tôi dám cá cược vào họ. Chẳng gì trên đời này có thể ngăn cản những con người đó, những công dân Mỹ chính gốc, đầy gan góc và năng lực hành động. Anh thấy gã cao gầy đang ngậm xì gà và ngắm phụ nữ kia không? Hắn là một vận động viên. Tên là Mervin; toàn thân săn chắc như dây thừng chão và gân cá voi, dẻo dai như một chiếc cung giương. Hắn là hiện thân của tốc độ. Nhất định hắn sẽ làm nên chuyện. Còn nhìn kẻ kia xem. Tên hắn là Hewson; vững chãi như một pháo đài; cơ bắp lực lưỡng như loài gấu, cường tráng từ gốc. Hắn đại diện cho sức mạnh. Hãy nhìn gương mặt cương nghị và quyết đoán của hắn kìa. Anh không tài nào quật ngã được một kẻ như thế đâu."
Cậu ta lại chỉ sang một nhóm khác.
"Kia là ba con kền kền. Bullhammer, Marks và Mosher. Gã to béo, mắt heo, cằm xệ chính là Bullhammer. Hắn kinh doanh quán rượu. Gã tầm trung đội mũ phớt cao là Marks. Nhìn làn da vàng vọt, nhờ nhờ đầy mụn trứng cá của hắn kìa. Hắn là một kẻ bịp bợm chính hiệu; tự nhận mình là môi giới mỏ. Kẻ thứ ba là Jake Mosher. Hắn là một con bạc chuyên nghiệp, một tay lừa đảo nhẵn mặt, và từng có thời làm mục sư."
Tôi nhìn lại lần nữa. Mosher vừa cởi mũ ra. Cái đầu trọc lóc vươn cao trông đồ sộ như một ngọn tháp, đôi mắt láo liên xếch lại đầy xảo quyệt, còn chiếcếc mũi thì nhỏ đến mức gần như không có. Phần còn lại trên khuôn mặt hắn chủ yếu là râu. Bộ râu đen thui như đáy vực mọc lan xuống tận vùng bụng, trông như thể đã rút kiệt dưỡng chất trên đỉnh đầu hắn để nuôi sự xum xuê rậm rạp ấy. Vọng lên từ bên kia boong tàu là chất giọng trầm đục, sền sệt của hắn.
"Một đám người trông chẳng mấy tốt lành," tôi nói.
"Đúng vậy, trên tàu này có cả đống kẻ giống như thế. Có cả một đám vũ nữ đang hướng lên đó, kèm theo vô số kẻ ăn bám bám đuôi quen thuộc. Hãy nhìn gã con lai kìa. Đó mới thực sự là một người sinh ra dành cho vùng đất đó, mang nửa dòng máu Scotland, nửa da đỏ; kẻ trầm lặng nhất trên chuyến tàu này; dáng người thanh mảnh nhưng dai như dây thép."
Tôi nhìn thấy một người đàn ông da nâu gầy gò, mắt sáng quắc với những nét mặt bẹt, đang ngậm điếu thuốc lá.
"Này! Hãy nhìn sang hai vợ chồng người Do Thái kìa, Mike và Rebecca Winklestein. Bọn họ định sang đó mở một nhà hàng ăn chơi nhảy mọt."
Người đàn ông là một sinh vật thấp lùn, chân vòng kiềng, mắt lé, làn da trông như mỡ giò heo và để ria mép uốn sáp. Nhưng chính người phụ nữ mới là kẻ thu hút sự chú ý của tôi. Chưa bao giờ tôi thấy một người đàn bà vạm vỡ đến thế, cao trọn sáu thước nếu không muốn nói là hơn, với thân hình to lớn tương xứng. Ả ta cũng có nét đẹp sắc sảo theo kiểu da ngăm, dù nhìn gần thì khuôn mặt ấy toát lên vẻ dục tình và trơ trẽn. Thế nhưng ả lại có thái độ nhã nhặn, khéo nịnh bợ cùng thứ khiếu hài hước thô tục chiếm được cảm tình của đám đông. Nguy hiểm, vô lương tâm và tàn độc, tôi thầm nghĩ; một kẻ nửa nam nửa nữ, một mụ đàn bà đanh đá, một con sư tử Hà Đông!
Nhưng tôi bắt đầu cảm thấy mệt mỏi với đám đông này và thèm được xuống dưới khoang. Tôi không còn hứng thú nữa, thế nhưng giọng nói của đứa Cứa Đói vẫn cứ lải nhải bên tai tôi.
"Có một ông già và cô cháu gái kìa, hình như là họ hàng của nhà Winklestein. Tôi nghĩ ông già có vấn đề về thần kinh. Dù vậy trông cụ ông vẫn rất khôi ngô; trông giống như một vị tiên tri người Do Thái đang thất nghiệp. Lão đến từ Ba Lan. Nói tiếng Yiddish hoặc thứ tiếng luyên thuyên nào đó; từ tiếng Anh duy nhất lão biết là 'Klondike, Klondike.' Cô bé kia trông đau khổ làm sao, tội nghiệp con bé."
"Tội nghiệp con bé!" Tôi thực sự nghe thấy những từ đó, nhưng tâm trí tôi đã bay đi tận đâu. Mặc kệ bọn Do Thái Ba Lan và cháu gái của họ chứ. Tôi ước gì đứa Cứa Đói để mặc tôi chìm đắm trong suy nghĩ của riêng mình, những nghĩ suy về quê hương vùng cao nguyên và những người thân yêu. Nhưng không! Cậu ta vẫn khăng khăng:
"Anh có nghe tôi nói gì đâu. Nhìn kìa, sao anh không chịu nhìn chứ!"
Thế là, để chiều lòng cậu ta, tôi quay hẳn người lại và nhìn. Một ông già với vẻ ngoài như một vị tổ phụ đang co ro trên boong tàu. Đứng thẳng bên cạnh ông, với bàn tay đặt lên vai ông, là một bóng đen mảnh dẻ của một thiếu nữ. Hững hờ, ánh mắt tôi lướt từ đôi chân cô gái lên khuôn mặt. Và rồi nó dừng lại. Tôi hít một hơi thật sâu. Tôi quên bẵng đi tất cả mọi thứ xung quanh. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy — Berna.
Tôi sẽ không cố miêu tả cô gái ấy làm gì. Những miêu tả bằng con chữ vốn vô nghĩa biết bao. Tôi chỉ muốn nói rằng khuôn mặt cô vô cùng xanh xao, và cô sở hữu đôi mắt xám lớn đượm vẻ bi thương. Về phần khác, đôi má cô hóp lại đến đáng thương và đôi môi trĩu xuống đầy vẻ khao khát nghẹn ngào. Đó là gương mặt của một nữ thánh tử đạo mang theo ánh nhìn ám ảnh bởi nỗi sợ hãi mà ta khó lòng quên được, tôi thầm nghĩ. Tất cả những điều đó tôi đều thấy, nhưng trên hết thảy, tôi nhìn thấy đôi mắt xám lớn lao ấy đang đờ đẫn nhìn xuyên qua đám đông, với một nỗi buồn vô hạn hướng về phương Đông xa xôi nơi những giấc mơ và ký ức của cô ngự trị.
"Tội nghiệp con bé!"
Rồi tôi tự nguyền rủa bản thân vì cái thói đa cảm sướt mướt ấy và bước xuống khoang tàu. Buồng số bốn bảy là của tôi. Ba chúng tôi đã bị tách ra trong lúc lên tàu, và tôi chẳng biết bạn cùng phòng của mình là ai. Cảm thấy vô cùng chán nản, tôi ngả mình lên chiếc giường tầng trên và chìm đắm trong tâm trạng u sầu đầy vẻ ăn năn. Tôi nghe tiếng tấm ván cập tàu cuối cùng được kéo lên, tiếng reo hò vang dội của đám đông, nhịp máy đập đều đặn của động cơ, thế nhưng tôi vẫn chìm sâu trong những mộng tưởng. Có tiếng động xôn xao bên ngoài và màn đêm đang buông xuống dần. Rồi, trong lúc tôi đang nằm đó, những giọng nói vang lên ngoài cửa phòng tôi, thứ âm thanh khàn khàn hòa quyện cùng giọng điệu mượt mà; cuối cùng là một tiếng gõ nhè nhẹ. Tôi nhanh chóng lên tiếng trả lời.
"Đây có phải phòng số bốn bảy không ạ?" một giọng nói dịu dàng cất lên.
Ngay trước khi cô ấy cất lời, tôi đã đoán ra đó chính là cô gái người Do Thái có đôi mắt xám, và giờ đây tôi nhận ra mái tóc cô bồng bềnh như một đám mây sáng, còn gương mặt thì mỏng manh tựa đóa hoa.
"Đúng vậy," tôi đáp lời cô.
Cô dìu ông cụ bước vào.
"Đây là ông của tôi. Người phục vụ phòng bảo chúng tôi đây là phòng của ông ấy."
"Ồ, được chứ; cụ nên nằm giường tầng dưới thì hơn."
"Cảm ơn anh nhiều lắm; ông tôi đã già và sức khỏe không còn tốt nữa."
Giọng cô trong trẻo và ngọt ngào, ẩn chứa trong đó là một sự dịu dàng vô biên.
"Cô phải vào trong này chứ," tôi nói. "Tôi sẽ để cô ở lại với cụ một lát để cô sắp xếp cho cụ được thoải mái."
"Lại một lần nữa cảm ơn anh," cô đáp lại với lòng biết ơn.
Thế là tôi bước ra ngoài, và khi tôi quay lại thì cô đã đi rồi; nhưng ông cụ đang ngủ say một cách bình yên.
Đã muộn lắm rồi tôi mới đi ngủ. Tôi ở trên boong tàu thêm một lúc lâu nữa. Con tàu đang rẽ sóng băng qua màn đêm đen thẳm như mực, và ở phía bên phải, tôi lờ mờ nhận ra đường bờ biển được giăng điểm bởi những đốm sáng lấp lánh. Mọi người đều đã xuống khoang hết cả rồi, tôi nghĩ thế, và sự cô tịch ấy khiến tôi vô cùng dễ chịu. Tôi tận hưởng sự tĩnh lặng tuyệt đối, ngẫm nghĩ xem mọi thứ thật tuyệt vời làm sao, từ ngọn gió thoảng mơn man, mái vòm nhung thâm của màn đêm được thêu dệt bởi những vì tinh tú đầy hoài niệm, cho đến khúc ca tự do của biển cả; mọi thứ mới bình yên, tĩnh tại và đầy ắp tình yêu thương làm sao!
Bỗng nhiên, tôi nghe thấy tiếng nức nở, tiếng khóc nghẹn ngào đến xé lòng từ lồng ngực của một người phụ nữ. Vang vọng rõ mồn một trên cả tiếng thở trầm đục của đại dương, âm thanh ấy xoáy vào tôi, đầy nhức nhối và dai dẳng. Ngạc nhiên, tôi đảo mắt nhìn quanh. Rồi, trong bóng râm của khu vực boong trên, tôi nhận ra bóng dáng nhỏ nhắn của một thiếu nữ đang co ro một mình. Chính là Đôi Mắt Xám, cô đang khóc đến tan nát cả cõi lòng.
"Tội nghiệp con bé!" tôi lẩm bẩm.