Hành Trình Năm 98: Bản Tình Ca Phương Bắc

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

Không bao giờ tôi quên được lần cuối cùng nhìn thấy nàng, một bóng người cô độc, đáng thương trong bộ đồ đen, vẫy tay từ biệt khi tôi đứng trên bến tàu. Tôi còn nhớ nàng mặc chiếc áo cổ thấp, và tôi khắc ghi cách chiếc áo ấy làm tôn lên chiếc cổ thon trắng ngần; tôi cũng khắc ghi dáng đầu ngẩng cao cùng mái tóc ánh lụa của nàng. Đôi mắt xám trong trẻo và điềm tĩnh khi nàng chào từ giã tôi, và từ khoảng cách chúng tôi đứng tách biệt, khuôn mặt nàng mang trọn vẹn vẻ ngọt ngào đầy bi cảm của một bức tranh Đức Mẹ.

Thế đấy, nàng sắp ra đi, và sự ra đi ấy đối với tôi mang đầy nỗi buồn bã. Tất cả bọn họ đều hướng về Dyea và ngọn đèo Chilcoot khắc nghiệt với những dốc cao vùi dập trong bão tuyết, trong khi chúng tôi chọn con đường Skagway đỡ dốc hơn nhưng lại dài dòng hơn. Giữa đám đông ấy, tôi thấy cặp sinh đôi không thể tách rời; gã Hewson mặt mày bặm trợn, gã Mervin lặng lẽ, mỗi kẻ đều điềm tĩnh và cảnh giác như đang tích tụ sức lực cho một nỗ lực phi thường. Lại có mụ Winklestein to béo phản cảm, ngập tràn trang sức, nụ cười và những lời cợt nhả thô tục; ngay cạnh mụ là người chồng xức nước đầy mình, đang liếc mắt và cười tủm tỉm một cách đáng ghét. Có lão già mang gương mặt của một nhà tiên tri người Do Thái, ánh mắt mộng mơ giờ đây đang bừng sáng nỗi nhiệt thành cuồng tín, đôi môi lẩm bẩm không ngừng: "Klondike, Klondike"; và cuối cùng, sát bên lão, với nụ cười nhạt đắng cay trên môi là cô gái có khuôn mặt tái nhợt.

Lòng tôi quặn thắt vì nàng! Nhưng thời giờ cho sự ủy mị đã chấm dứt. Tiếng kèn hiệu triệu hành động đã vang lên. Con đường mòn đang lạnh lùng tập hợp chúng tôi lại. Giờ phút đã đến để mỗi người cống hiến những gì tốt đẹp nhất trong mình, theo cách chưa từng có trước đó. Triều đại của sự bình yên đã chấm dứt; cuộc chiến đã bắt đầu.

Bốn bề là sự nhộn nhịp, hỗn loạn và náo động không thể tả xiết; đàn ông la hét, chửi thề, chạy ngược chạy xuôi; tranh cãi, mắt trân trân đầy lo lắng và quẩn quanh vì mớ hành lý. Một bầu không khí năng lượng khốc liệt ngự trị nơi họ. Ý nghĩ duy nhất của họ là nhanh chóng lên đường tìm vàng. Một niềm khao khát cuồng loạn thúc đẩy họ; thôi thúc, mệnh lệnh; con đường mòn gọi mời họ, và ánh lửa của lòng tham vàng đang âm ỉ rồi bùng cháy trong những đôi mắt bồn chồn. Hồn thiêng của con đường vàng đã bắt đầu thức tỉnh.

Hàng trăm mái lều rải rác; một vài tòa nhà khung gỗ, phần lớn là quán rượu, phòng khiêu vũ và sòng bạc; một đám đông háo hức, phấn khích chen chúc trên những bậc thềm lỏng lẻo, ngập ngụa đầu gối trong bùn lầy phố thị, vật lộn, cãi cọ và nguyền rủa đống hành lý của mình—đó là tất cả những gì tôi nhớ về Skagway. Những ngọn núi trơ trọi và cằn cỗi đến tận vách đá dường như muốn đè bẹp thị trấn mỏng manh, và giữa chúng, tựa như một chiếc phễu khổng lồ, một cơn gió lớn đang gào thét.

Sự vô pháp hoành hành khắp nơi, nhưng nó không chạm đến chúng tôi. Bọn côn đồ rình rập những kẻ mang túi vàng từ "miền trong" tới. Đối với đại quân những kẻ mới đến (Cheechako), chúng chẳng mấy bận tâm. Chúng được cầm đầu bởi một gã tên là Smith, ngoại hiệu "Soapy", kẻ mà tôi may mắn có dịp gặp mặt. Gã là một người đàn ông có vẻ ngoài dễ chịu, cởi mở, và chẳng ai có thể coi gã là một tên cướp cạn, một kẻ sát nhân.

Một bức tranh về Skagway vẫn còn hằn sâu trong trí nhớ tôi. Cảnh tượng diễn ra trong một quán rượu, nơi tôi cùng gã Hoang đàng đang cạn ly bia. Ngồi ở một góc là một lão già lú lẫn, nửa tỉnh nửa mê. Lão cao gầy, mặt da thuộc và có chòm râu dê ngả màu rỉ sắt—một gã tội đồ già nua, rách rưới và nhếch nhác hết chỗ nói từng tì người vào quầy bar. Bỗng có tiếng súng nổ. Chúng tôi lao ra ngoài và thấy hai tên du côn đang nã đạn vào nhau từ các góc che khuất của một tòa nhà đối diện.

“Này, Bố già! Có vụ đấu súng kìa,” gã pha rượu nói.

Lão già chồm dậy, nheo đôi mắt mờ đục và nhân từ lên.

“Đấu súng, mày bảo thế à? Xí chì! Mấy gã đó có biết bắn đụng gì đâu. Bố già đây sẽ cho chúng thấy thế nào là bắn súng.”

Lão bước ra cửa, lôi từ trong người ra một khẩu súng lục to tướng gỉ sét, rồi nã đạn về phía một trong hai kẻ quyết đấu. Gã kia với một tiếng tru ngạc nhiên và đau đớn, khập khiễng bỏ chạy. Lão già quay sang tên còn lại. Bằng! Chúng tôi thấy mảnh gỗ bay tung tóe, và một gã đang cắm cổ chạy vì sợ mất mạng.

“Đã bảo là tao sẽ cho chúng thấy thế nào là bắn súng mà lại,” lão già nói với chúng tôi. “Cảm ơn nhé, tao sẽ uống một ly gin-fizz.”

Gã Hoang đàng bộc lộ một năng lực điều hành tuyệt vời vào khoảng thời gian này; gã là một kỳ quan của sự năng nổ, dường như nghĩ được mọi thứ và kiêu hãnh với trách nhiệm của một người thủ lĩnh. Luôn vui vẻ, luôn chu đáo, gã chính là bộ óc của nhóm chúng tôi. Gã chưa bao giờ giảm sút nỗ lực dù chỉ một phút, và là một tấm gương lẫn nguồn khích lệ cho tất cả chúng tôi. Tôi nói “tất cả”, bởi vì chúng tôi vừa kết nạp thêm gã “Jam-wagon” vào nhóm. Chính gã Hoang đàng đã phát hiện ra hắn. Hắn là một người Anh cao lêu khêu, trụy lạc, hốc hác, rách rưới và đầy chí rận, nhưng vẫn phảng phất phong thái của một quý tộc. Hắn dường như dửng dưng với mọi thứ trừ rượu whisky và chỉ lo tìm cách trốn tránh bạn bè. Tôi phát hiện ra hắn từng là một sĩ quan trong trung đoàn Kỵ binh nhẹ Hussar, nhưng hắn rõ ràng rất miễn cưỡng khi phải nhắc đến quá khứ. Là một linh hồn lạc lối theo mọi nghĩa của từ này, phương Bắc đối với hắn là một chốn dung thân và một vùng đất tự do tung hoành. Thế nên, một phần vì thương hại, một phần vì hy vọng cứu vớt nhân phẩm của hắn, chúng tôi đã cho phép hắn gia nhập nhóm.

Súc vật thồ hàng đang có nhu cầu cực lớn, bởi người ta coi một pao thực phẩm có giá trị ngang bằng một pao vàng. Những con ngựa già vốn chỉ đáng đưa vào lò mổ, bị chất đồ nặng đến mức suýt đứng không vững, đang bị quất roi bắt lội bùn tiến lên. Bất kỳ con chó nào cũng là món quà quý giá, sẽ bị ăn cắp ngay nếu để sơ hở không canh chừng. Cừu được đưa vào lò mổ cũng bị bắt mang trên lưng những gói hàng. Thậm chí người ta còn cố biến lợn thành vật thồ, nhưng chúng chỉ ục ịt, kêu éc éc và lăn lóc những bọc hàng quý giá của chúng vào vũng bùn. Thật là một sự cuồng nhiệt điên rồ, biết bao tiếng giục giã và la hét, biết bao mưu chước tuyệt vọng để có thể cất bước lên đường!

Chúng tôi gặp may khi mua được một cặp bò kéo từ một tay thồ hàng với giá bốn đô la. Ngay ngày đầu tiên, chúng tôi chuyên chở được một nửa số hành lý đến Canyon City, và sang ngày thứ hai thì chuyển nốt phần còn lại. Đó là kế hoạch của chúng tôi xuyên suốt chặng đường, dẫu ở những đoạn hiểm trở, chúng tôi phải thực hiện rất nhiều chuyến trung chuyển. Nghe thì đơn giản, thế nhưng, ôi chao, sự nhọc nhằn của nó mới lớn lao làm sao! Dưới đây là trích đoạn từ nhật ký của tôi trong những ngày ấy.

“Thức dậy lúc 4 giờ sáng. Ăn sáng bằng bánh kếp và cà phê. Phát hiện một con bò kéo đang lâm bệnh nặng. Nó chết lúc bảy giờ. Tròng ách vào con bò còn lại và bắt đầu chuyển hàng lên Canyon. Thấy con đường mòn ở trong tình trạng khủng khiếp, vậy mà hàng ngàn người vẫn đang vật lộn để chen chân qua. Ngựa thường xuyên sụt xuống những vũng nước sâu mười đến mười lăm lăm thước, khi cố kéo xe qua những tảng đá khiến đường mòn gần như không thể đi nổi. Đánh xe trượt tuyết qua những nơi mà vào lúc khác, người ta sẽ không dám bước đi tay không. Tuyết rơi dày hai tấc trong đêm, nhưng giờ trời đang mưa. Mưa và tuyết rơi xen kẽ. Đêm đến lạnh buốt thấu xương. Hôm nay chở được năm chuyến hàng lên Canyon. Hoàn tất chuyến cuối gần nửa đêm rồi chui vào lều, lạnh buốt, ướt sũng và kiệt sức.”

Đoạn trên là một ngày tiêu biểu và chúng tôi sẽ còn phải trải qua vô số ngày như thế trước khi chạm tới nguồn nước. Chậm chạp, với nỗ lực vô tận, với sự căng thẳng và sức ì trong từng bước chân, chúng tôi nhích dần đống hành lý cồng kềnh từ trại này sang trại khác. Ngày nào cũng gian khổ, cũng bực bội, cũng ngập tràn sự khó chịu; thế nhưng, từng chút một, chúng tôi vẫn tiến lên. Đoàn quân trước mặt và đoàn quân sau lưng chưa bao giờ chùn bước. Họ giống như một dòng kiến đen, luồn lách giữa những ngọn núi sừng sững vươn lên tới những vách băng hứng chịu giông bão. Trong bóng tối đêm đen, đoàn quân nghỉ ngơi trong bất an, thế nhưng chỉ vừa lóe tia sáng bình minh là họ lại chuyển động. Đó là một dòng người bất tận, nơi mỗi người vì chính mình. Giờ đây tôi vẫn thấy họ, còng lưng dưới những gánh nặng, oằn mình kéo những chiếc xe trượt tay, quất roi vào ngựa và bò, những khuôn mặt nhăn nhúm và co rúm vì mệt mỏi, bầu không khí cay xè vì những tiếng chửi thề và nặng nề những tiếng rên rỉ. Kìa một con ngựa vấp ngã và trượt chân xuống một cái hố bùn bên lề đường. Không ai qua được, cả đoàn quân bị tắc nghẽn. Những đôi tay cuồng loạn tháo dây cho con vật khốn khổ đã đông cứng và lôi nó lên khỏi mặt nước. Đàn ông, điên cuồng trong cơn thịnh nộ, quất tơi bời vào những con vật thồ để bù lại khoảng thời gian quý giá đã mất. Chẳng có sự ân xá, chẳng có tình nhân ái, chẳng có tình người. Tất cả chỉ là lời nguyền rủa, cuồng nộ và sự quyết tâm tàn nhẫn. Đó chính là tinh thần của con đường vàng.

Ở đầu hẻm vực có một khu trại lớn, và tại đó, giới cờ bạc xuất hiện cực kỳ nổi bật. Hàng tá bọn chúng với những chiếc bàn phủ nỉ xanh đang làm ăn phát đạt. Ở một bên hẻm vực, chúng đã dựng lên một khu trại. Trời đã chạng vạng và ba chúng tôi, gồm gã Hoang đàng, Salvation Jim và tôi, tản bộ đến chỗ một gã đang tổ chức trò chơi ba vỏ sò.

“Ồ!” Gã Hoang đàng lên tiếng. “Đó là lão bạn già Jake của chúng ta. Jake đã lột mất của tao một trăm đô trên tàu đấy. Tự hỏi không biết lão ta đang làm ăn ra sao nhỉ?”

Đó chính là Mosher, với cái đầu hói, đôi mắt ranh mãnh nhỏ hẹp, chiếc mũi tẹt và bộ râu đen. Tôi thấy mặt Jim đanh lại. Hắn vẫn luôn tỏ rõ mối thù hằn cay đắng với kẻ này, và tôi tự hỏi mãi lý do vì sao.

Chúng tôi đứng cách đó một chút. Đám đông thưa dần và tản đi cho đến khi chỉ còn lại một người, một trong những thanh niên cao gót đến từ Minnesota. Chúng tôi nghe thấy giọng nói trầm ấm của Mosher.

“Này bạn hiền, cá mười đô là anh không đoán được hạt đậu nằm ở đâu nhé. Thấy chưa! Tao đặt cái trò lừa đảo này ở đây, ngay trước mắt anh. Nào, nó ở đâu?”

“Ở đây,” người đàn ông nói, chạm vào một trong những chiếc vỏ sò.

“Đúng rồi, bạn tôi ơi! Nào, mười đô của anh đây.”

Người đàn ông Minnesota cầm lấy tiền và định bỏ đi.

“Từ từ đã,” Mosher nói; “sao tao biết được mày có đủ tiền để chơi cược lớn thế?”

Người đàn ông cười lớn và rút từ trong túi ra một tệp tiền dày cả phân.

“Chắc từng này là đủ rồi chứ nhỉ?”

Nhanh như chớp, Mosher giật phăng xấp tiền trên tay hắn, và chàng trai Minnesota bỗng thấy mình đang trân trân nhìn thẳng vào nòng súng lục sáu phát.

“Số tiền này là của tao,” Mosher nói; “giờ thì cút đi.”

Chỉ trong tích tắc—một tiếng súng vang lên. Tôi thấy khẩu súng rơi khỏi tay Mosher, và xấp tiền rơi xuống đất. Nhanh nhẹn, chàng trai Minnesota nhặt lại tiền và vội vã chạy đi gọi đồng bọn. Thế là những gã trai Minnesota lấy súng Winchester của chúng ra, và cuộc đấu súng bắt đầu.

Từ khu trại của mình, bọn cờ bạc ẩn nấp phía sau những tảng đá rải rác hai bên hẻm vực, rồi nã đạn xối xả vào đối thủ. Một trận chiến thực sự diễn ra, kéo dài cho đến khi màn đêm buông xuống. Theo những gì tôi nghe được, chỉ có duy nhất một thương vong. Một gã người Thụy Điển, cách con đường mòn chừng nửa dặm, trúng một viên đạn lạc vào má. Hắn đến phàn nàn với Phó cảnh sát trưởng. Viên quan chức ấy, đang ngồi trên lưng ngựa, nhìn hắn một lát rồi nhổm bọt một cách đầy khinh bỉ.

“Tao chẳng làm gì được đâu, Ole. Nhưng tao bảo cái này nhé. Lần sau mà có đạn bay quanh cái vùng này, đừng có thò cái bộ râu khỉ gió của mày vào đường đạn nữa. Hiểu chưa!”

Đêm đó tôi nói với Jim:

“Anh làm cách nào thế?”

Hắn cười và chỉ cho tôi thấy một lỗ thủng trên túi áo mà một viên đạn đã xuyên qua.

“Cậu thấy đấy, vì bản thân từng tham gia mấy trò này, tớ biết điều gì sắp xảy ra nên đã hành động tương ứng.”

“May là anh không bắn hắn ta nặng hơn.”

“Đợi đã cậu nhóc, đợi đã. Có cái gì đó cực kỳ quen thuộc ở Jake Mosher. Lão ta rất giống một tên Sam Mosely nào đó mà tớ đang quan tâm. Tớ vừa viết một bức thư ra bên ngoài để kiểm tra, và nếu đúng là lão ta—thì, tớ được cứu rỗi; tớ là một tín đạo Kitô tốt lành, nhưng mà—Chúa phù hộ cho lão!”

“Và Sam Mosely là ai vậy, Jim?”

“Sam Mosely ư? Sam Mosely chính là tên khốn đã phá hoại gia đình tớ và cướp đi người vợ của tớ, đê tiện thật!”

———

1 Jam-wagon là biệt danh chung gán cho một người Anh trên đường mòn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.