Sáng hôm sau, Địch Thanh lên thuyền rời khỏi Tuyền Châu, quay về kinh thành để bắt đầu lại một cuộc sống dù rằng chẳng mấy vui vẻ gì. Nói thật, ông đã chán ngấy cảnh ở Tuyền Châu rồi. Việc khai thác hải ngoại thành công hay thất bại, giờ đây đều đã giao cho Phạm Ninh, không còn liên quan gì đến ông nữa.
Suốt một buổi sáng, Phạm Ninh ở tại nha môn Kinh lược phủ để làm quen với các thuộc hạ. Nha môn có hơn ba mươi viên quan, đa số là các chức quan bậc thấp phẩm hàm thất phẩm, hơn một nửa vẫn chưa được chuyển chính thức thành kinh quan. Những viên quan trẻ tuổi này tuy có thể còn thiếu kinh nghiệm nhưng ai nấy đều tràn đầy sức sống, hừng hực ý chí, đều muốn lập nên sự nghiệp để bản thân có thành tích chuyển thành kinh quan. Vì vậy, các quan viên tại Kinh lược phủ vô cùng chào đón sự xuất hiện của Phạm Ninh.
Chào đón thì chào đón, nhưng bữa trưa Phạm Ninh không dùng cùng họ, mà lại đi cùng Minh Nhân và Minh Lễ. Hai anh em họ đã biết Phạm Ninh đến từ hôm qua, mãi mới đợi được Địch Thanh rời đi, cả hai lập tức tìm đến gặp chàng.
Hai anh em mở tiệc tại Tấn Giang tửu lâu - tửu lâu tốt nhất trong thành - để tẩy trần cho Phạm Ninh. Tấn Giang tửu lâu này chính là cơ ngơi mà hai người đã bỏ vốn đầu tư.
"Hai người đừng mong chờ việc ta đến đây sẽ giúp được gì cho các ngươi, ngược lại ta còn cần các ngươi giúp đỡ. Hiện tại ta như kẻ mù đường, rất cần thông tin từ phía các ngươi."
Minh Lễ và Minh Nhân nhìn nhau, Minh Nhân nói: "Lời khuyên đầu tiên chúng ta dành cho ngài là đừng quá tin vào lời của Địch lão gia tử, nhất là về Lưu Cầu phủ. Ngài đến đó rồi sẽ thất vọng tràn trề cho mà xem."
"Tại sao?" Phạm Ninh khó hiểu hỏi.
"Hai ngàn hộ dân ở Lưu Cầu phủ, họ liều mạng cũng muốn quay về. Nơi đó đóng quân ba ngàn người, việc duy nhất phải làm là ngăn cản bách tính bỏ trốn. So với Côn Châu, nơi đó còn kém xa. Chướng khí, độc trùng, thổ nhân, ba thứ này đe dọa nghiêm trọng đến sự sinh tồn của bách tính."
Minh Lễ cũng tiếp lời: "Thực ra vấn đề chướng khí không lớn lắm, có thuốc để phòng tránh. Còn về độc trùng, trong thành không có, chủ yếu là khi canh tác bên ngoài mới gặp phải. Đau đầu nhất vẫn là thổ nhân, bọn chúng đi lại như gió, dùng tên độc bắn giết nông dân. Những năm gần đây, ít nhất đã có vài trăm nông dân chết dưới mũi tên độc của chúng, gây nên nỗi hoang mang tột độ. Vì vậy dù có miễn thuế, bách tính cũng không muốn ở lại đó."
"Vậy tại sao quân đội không vây quét?"
Minh Nhân bĩu môi: "Chuyện này phải hỏi Địch soái rồi. Ta đoán là ông ấy không có quyền khai chiến, không giống như ngài ở Nhật Bản, có toàn quyền tác chiến với quân đội Nhật. Tay chân của Địch soái bị trói buộc, chỉ có thể phòng ngự bị động."
Phạm Ninh gật đầu, hai ngày nữa chàng phải tự mình đi một chuyến đến Lưu Cầu phủ, tận mắt chứng kiến mới được.
Phạm Ninh lại hỏi Minh Nhân: "Ngươi đã lấy được hòn đảo ở nước Tô Lộc chưa?"
Nhắc đến chuyện hải đảo, Minh Nhân tỏ vẻ đầy phẫn nộ: "Đừng nhắc nữa, quốc vương nước Tô Lộc đó đúng là kẻ tiểu nhân bỉ ổi. Năm trăm tấm lụa đưa cho hắn, vậy mà hắn chỉ cho ta một hòn đảo nhỏ dài rộng hai dặm, trên đó toàn là đá, nước ngọt cũng không có. Hơn nữa xung quanh đá ngầm dày đặc, tàu thuyền không thể tiếp cận. Ta đi tìm quốc vương Tô Lộc tính sổ, hắn lại bảo ta nghe nhầm, rằng hòn đảo ta muốn ít nhất cũng đáng giá năm vạn tấm lụa, thiếu một tấm hắn cũng không bán."
Phạm Ninh mỉm cười rồi hỏi tiếp: "Dân số nước Tô Lộc có đông không?"
"Rất ít, nhiều nhất cũng chỉ vài vạn người. Ngài muốn dùng họ làm lao công sao?"
Minh Nhân và Minh Lễ vốn là kẻ tinh khôn, lập tức đoán ra ý định của Phạm Ninh.
Phạm Ninh vỗ trán, chàng chợt nhớ ra một việc quan trọng. Tô Lộc là cái tên do chính chàng đặt, nhưng nước Tô Lộc trong lịch sử phải mấy trăm năm sau mới xuất hiện. Hiện tại ở đó nhiều nhất chỉ là những bộ lạc thổ dân, quốc vương mà Minh Nhân nói có lẽ là nước Lữ Tống, chứ không phải nước Tô Lộc.
Nghĩ thông suốt điểm này, chàng vội hỏi: "Mấy vạn người này là do một quốc vương thống trị, hay chỉ là những bộ lạc lớn nhỏ giống như người Côn tộc?"
Minh Nhân suy nghĩ một chút rồi nói: "Là một tiểu quốc, quốc vương tên là Minh Minh Đạt, bỉ ổi vô sỉ. Dân số tiểu quốc này tối đa bảy tám vạn, đều là người da đen vóc dáng thấp bé, dùng lối canh tác đốt nương làm rẫy, vô cùng lạc hậu. Không có thành trì nhưng có cung điện xây bằng gỗ, tuy nhiên lại sản xuất nhiều vàng, điểm này rất thu hút."
Phạm Ninh đã hiểu, đã có những bình nguyên lớn thì đó chính là nước Lữ Tống chứ không phải Tô Lộc. Chàng lại hỏi: "Thế còn các hòn đảo ở phía nam thì sao?"
Minh Nhân nói tiếp: "Các đảo phía nam đều là những bộ lạc lớn nhỏ. Theo ta biết, tổng cộng có mười ba bộ lạc, mỗi bộ lạc chừng hơn ngàn người, năm nào cũng xảy ra chiến tranh, chém giết lẫn nhau. Nói thật, sức chiến đấu rất yếu, đều là người da đen vóc dáng thấp bé, dùng cung tên tự chế và giáo mác. Nếu quân Tống qua đó, chỉ cần một ngàn người là có thể quét sạch tất cả các bộ lạc."
Phạm Ninh nhẩm tính, dân số Lữ Tống vẫn chưa đông, dùng làm lao công để khai phá Lưu Cầu phủ là điều không thực tế, chỉ có thể nghĩ cách khác, nếu không được thì tiếp tục trưng dụng lao công Nhật Bản.
Ba người trò chuyện thêm chốc lát, Minh Lễ hỏi: "Thím và các em dâu đều sẽ tới đây chứ?"
Phạm Ninh gật đầu: "Họ sẽ sống ở Tuyền Châu."
"Vậy thì quan trạch sao đủ chỗ ở, ngài phải nghĩ cách khác mới được."
Quan trạch do Địch Thanh xây dựng, Phạm Ninh đã xem qua rồi, toàn là những căn nhà nhỏ rộng hai ba mẫu. Cũng do Địch Thanh vốn tiết kiệm quen rồi, những căn nhà ông xây rất đơn sơ, diện tích nhỏ đã đành, hơn nữa còn chẳng thể bàn đến cảnh quan. Đó chỉ là những dãy viện, số lượng tuy xây khá nhiều, chừng năm sáu mươi căn, nhưng không căn nào lọt vào mắt xanh của chàng.
Phạm Ninh cười nói: "Ta định bàn với hai người việc này, các ngươi có gợi ý gì không?"
Minh Nhân tựa vào ghế cười: "Phú thương ở Tuyền Châu rất nhiều, đại trạch không thiếu, xem ngài có yêu cầu gì thôi."
Phạm Ninh mỉm cười nhẹ: "Ta thấy trong thành Tuyền Châu có không ít núi, ta hy vọng phủ đệ của mình cũng có núi, nhà ta có thể mua đứt, không cần thuê."
Minh Nhân và Minh Lễ thì thầm bàn bạc một lúc, Minh Lễ nói: "Đông Bình sơn thế nào? Trên Đông Bình sơn có rất nhiều đại trạch xây dựa vào núi, mỗi căn rộng chừng bốn năm mươi mẫu."
Đông Bình sơn chính là ngọn núi nằm ngang ngăn cách huyện thành và hải cảng, dài khoảng hơn ba mươi dặm, cao vài chục trượng, trên núi cây cối rậm rạp, phong cảnh tú lệ. Phạm Ninh trầm tư một lúc rồi nói: "Ta thấy trong thành còn không ít ngọn đồi nhỏ, chỉ rộng mười mấy mẫu, rất tinh xảo, có căn nhà nào như vậy không?"
Minh Lễ cười ha hả: "Cái ngài nói gọi là Độc Sơn trạch, đó là những đại trạch đỉnh cấp của Tuyền Châu, toàn thành chỉ có ba căn, đều là những dinh thự cổ đã xây dựng mấy chục năm nay. Để ta đi hỏi nhạc phụ giúp ngài."
Nhạc phụ của Minh Lễ là đại hào tộc số một Tuyền Châu, tên là Lý Nghiêu. Phạm Ninh chỉ cười nhạt, chàng không từ chối ý tốt của Minh Lễ, hai anh em họ làm thương nhân đã lâu, vẫn chưa hiểu rõ ý nghĩa của quyền lực.
Sau bữa trưa, Phạm Ninh dẫn theo hơn mười tùy tùng cưỡi ngựa tuần thị trong thành. Hôm nay thời tiết rất đẹp, nắng rực rỡ, tuy là tháng Giêng nhưng nhiệt độ ở Tuyền Châu lại vô cùng dễ chịu, tựa như tiết giữa xuân ở phương Bắc, gió biển mơn man khiến lòng người thư thái.
Trên phố người đi lại đông đúc, có thể bắt gặp thương nhân từ dị vực ở khắp nơi. Dân số bản địa Tuyền Châu khoảng mười vạn, nhưng cộng thêm thương nhân từ khắp nơi trên đất Đại Tống và hải ngoại, cùng với thủy thủ được các thương hội thuê mướn, tổng dân số đã vượt quá hai mươi vạn. Cửa hàng san sát trên phố, các loại chợ búa xuất hiện khắp nơi, thương mại vô cùng phát đạt.
Lúc này, Phạm Ninh dừng bước trước một đại trạch. Căn nhà này rộng ít nhất hơn năm mươi mẫu, trong phủ có một ngọn núi nhỏ hình bán nguyệt, phía bắc cao phía nam thấp. Đây không phải núi nhân tạo mà là một ngọn đồi nhỏ thực thụ, chiếm diện tích khoảng hai mươi mẫu, trên núi cây cối xanh tươi, thấp thoáng có thể nhìn thấy đình đài lầu các. Một thác nước hình thành từ khe suối trên núi đổ xuống từ đỉnh phía bắc, non xanh nước biếc, đẹp đẽ tuyệt luân.
Phạm Ninh lập tức nảy sinh hứng thú, quay đầu nói với Chu Long: "Đi xem thử xem, ta muốn bái phỏng chủ nhân nơi này!"
Chu Long xuống ngựa, chạy về phía cổng lớn. Cậu gõ cửa hồi lâu, cửa hé mở một khe nhỏ, dường như có người đang nói chuyện với cậu. Chốc lát sau, Chu Long quay lại bẩm báo: "Khởi bẩm quan nhân, chủ nhân căn nhà này không ở Tuyền Châu, chỉ có một lão già trông coi nhà cửa."
Phạm Ninh càng thêm hứng thú, chủ nhân không ở Tuyền Châu thì khả năng giao dịch là rất lớn.
Chàng cười nói: "Vào xem thử!"
Lão quản gia trông cửa nghe nói là quan lớn trong triều, không dám ngăn cản, đành để Phạm Ninh vào trong. Phạm Ninh bước vào phủ đệ, tiền viện và trung đình không có gì đặc sắc, cũng giống như những căn nhà bình thường khác.
Nhưng khi bước vào hậu viện, mắt Phạm Ninh lập tức sáng lên. Dưới chân núi lại có một hồ nước rộng chừng bảy tám mẫu. Chỉ riêng ngọn núi nhỏ và hồ nước này đã chiếm gần ba mươi mẫu. Xung quanh núi và hồ xây dựng năm sáu tòa viện, chân núi được xây kè bằng đá tảng, dù có mưa thì bùn đất trên núi cũng không tràn ra ngoài. Một con đường nhỏ lát đá dẫn thẳng lên đỉnh núi, hai bên đường xây dựng đủ loại đình đài lầu các.
Căn đại trạch này tuy không được xây dựng tinh xảo tuyệt luân như nhà ở kinh thành, nhưng lại mang đậm hơi thở tự nhiên, thực sự xứng đáng là non xanh nước biếc, lại có cảm giác của một trang viên.
"Chủ nhân nhà ông là ai?" Phạm Ninh cười hỏi.
Lão quản gia nói bằng giọng quan thoại lơ lớ: "Chủ nhân nhà tôi họ Trình, hiện đang làm ăn ở huyện Mân, Phúc Châu."
Lão quản gia vào nhà lấy một tấm danh thiếp đưa cho Phạm Ninh. Phạm Ninh nhìn danh thiếp, tên là Trình Lũng. Cái tên này nghe rất quen, chàng hồi tưởng một lát rồi chợt nhận ra, chẳng phải lãnh tụ thương nhân Tống ở Nagasaki cũng tên là Trình Lũng sao? Chẳng lẽ là ông ta?
Phạm Ninh cười hỏi: "Chủ nhân nhà ông có phải người huyện Dư Hàng, có một người con trai tên là Trình Thanh, từng làm ăn ở Nhật Bản không?"
Lão quản gia ngẩn người: "Sao quan nhân lại biết?"
Phạm Ninh bật cười: "Ta là bạn cũ của chủ nhân nhà ông, tiểu viên ngoại nhà ông còn là thuộc hạ của ta đấy. Cậu ấy vẫn đang ở Côn Châu phải không?"
"Quan nhân chẳng lẽ họ Phạm?"
"Xem ra lão nhân gia cũng biết ta!"
Lão quản gia vội quỳ xuống nói: "Hóa ra là Phạm đại quan nhân, tiểu nhân Trình Đông, là cậu của Trình viên ngoại, thay ông ấy trông coi nhà cửa."
Phạm Ninh vội đỡ lão dậy, hỏi: "Lão nhân gia cũng là người Dư Hàng sao?"
"Tôi chính là người bản địa Tuyền Châu, mẫu thân của Trình viên ngoại là người Tuyền Châu."
Phạm Ninh gật đầu: "Có thể phiền lão nhân gia thông báo cho Trình viên ngoại, mời ông ấy đến Tuyền Châu một chuyến, ta có chút việc tìm ông ấy."
Lão cười nói: "Ngày mai hoặc ngày kia ông ấy sẽ đến Tuyền Châu, ông ấy còn một thương hội ở đây, thường xuyên qua lại Tuyền Châu."
"Trình viên ngoại đến Tuyền Châu sẽ ở tại đây sao?"
Lão lắc đầu: "Ông ấy thường không ở đây, nơi này quá rộng và quá quạnh quẽ. Ông ấy còn một căn nhà trong thành, ở phía bên bến tàu."
Phạm Ninh lấy danh thiếp của mình đưa cho lão, cười nói: "Sau khi ông ấy đến Tuyền Châu, xin hãy bảo ông ấy nhất định phải đến tìm ta."
Hàng loạt tước hiệu trên danh thiếp khiến lão già hoa cả mắt: Thanh Hà quận công, Tả tán kỵ thường thị, Ngự sử đại phu, Hải ngoại Kinh lược sứ...
Đây quả nhiên không phải nhân vật tầm thường! 8)