Bên Dòng Floss

Lượt đọc: 79 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Ông Tulliver Ở Cối Xay Dorlcote Bày Tỏ Quyết Định Về Tom

❊ ❊ ❊

“Điều tôi muốn, cô biết đấy,” ông Tulliver cất lời,—“điều tôi muốn là cho Tom một nền học vấn đàng hoàng; một cái chữ đủ để nó kiếm kế sinh nhai. Đó là điều tôi đã nghĩ tới khi báo cho nó nghỉ học ở trường tư hồi lễ Phu nhân. Tôi định gửi nó đến một ngôi trường thực sự tốt vào giữa hè này.”

“Hai năm ở trường tư thế là đủ nếu tôi định hướng cho nó làm một thợ xay kiêm nông dân rồi, vì nó đã được học hành chữ nghĩa chán chê hơn tôi thuở nhỏ. Tất cả vốn học thức mà cha tôi từng bỏ tiền ra mua chỉ là một trận đòn roi ở một đầu và bảng chữ cái ở đầu kia. Nhưng tôi muốn Tom có chút chữ nghĩa, để nó đủ sức đối phó với những ngón lừa lọc của mấy kẻ ăn nói văn hoa và viết lách uốn lượn. Thế thì mới giúp ích cho tôi trong mấy vụ kiện tụng, phân xử, và đủ thứ chuyện. Tôi không định biến thằng bé thành một tay luật sư chính hiệu,—tôi thấy tiếc cho nó nếu nó thành kẻ gian ác,—nhưng mà là một dạng kỹ sư, hay một trắc địa viên, hoặc một tay đấu giá kiêm thẩm định viên như Riley, hay làm mấy nghề lanh lợi kiểu như chỉ thu lợi chứ không bỏ vốn, chỉ cần một sợi dây đồng hồ to và một chiếc ghế cao. Mấy nghề đó gần như là một, và tôi tin là chúng chẳng kém cạnh gì luật pháp; bởi vì Riley dám nhìn thẳng vào mặt Luật sư Wakem cứng cỏi chẳng khác nào mèo nhìn mèo. Nó chẳng sợ gì lão ta cả.”

Ông Tulliver đang nói chuyện với vợ mình, một người phụ nữ tóc vàng ưa nhìn đội chiếc mũ hình chiếc quạt (tôi không dám nghĩ đã bao lâu rồi những chiếc mũ hình quạt không còn được mội người sử dụng nữa, chắc là chúng sắp quay lại mốt xưa đến nơi rồi. Vào thời điểm ấy, khi bà Tulliver ngấp nghé tuổi bốn mươi, những chiếc mũ đó vẫn còn mới mẻ ở St Ogg’s, và được xem là những thứ dễ thương).

“Thôi được, ông Tulliver, ông biết rõ hơn tôi: tôi nào có phản đối gì. Nhưng mà hay là tôi thịt một cặp gà, rồi mời mấy ông bà cô bác đến ăn cơm vào tuần tới, để ông có thể nghe xem dì Glegg và dì Pullet có ý kiến gì về chuyện đó? Có một cặp gà đang cần thịt đấy!”

“Bà muốn thịt mọi con gà trong sân cũng được, Bessy; nhưng tôi sẽ chẳng hỏi dì hay bác nào xem tôi phải làm gì với đứa con trai của chính mình,” ông Tulliver đáp lại với vẻ thách thức.

“Trời đánh thánh vật!” bà Tulliver kêu lên, bàng hoàng trước lời lẽ mang tính sát sinh này, “sao ông lại có thể ăn nói như thế hả ông Tulliver? Nhưng mà cái thói của ông là cứ hay nói thiếu tôn trọng gia đình tôi; còn dì Glegg thì trút mọi tội lỗi lên đầu tôi, mặc dù tôi dám chắc mình ngây thơ trong trắng chẳng khác gì đứa trẻ chưa ra đời. Vì chẳng ai từng nghe tôi nói rằng việc các cháu tôi có được những người cô người bác sống độc giả sản là điều không may mắn cả. Tuy nhiên, nếu Tom sắp phải đi học ở một ngôi trường mới, tôi muốn nó đến nơi nào mà tôi có thể tự tay giặt giũ và vá víu cho nó; kẻo không thì dùng vải calico hay vải lanh cũng rứa, vì chúng sẽ vàng ố như nhau chỉ sau nửa tá lần giặt. Và rồi, khi cái hòm cứ chuyển đi chuyển lại, tôi có thể gửi cho thằng bé một cái bánh ngọt, hay một cái bánh nhân thịt lợn, hay một quả táo; vì nó rất cần ăn thêm chút đỉnh, ơn trời! bất luận ở trường có bóp méo khẩu phần ăn của nó hay không. Con cái nhà tôi ăn khỏe chẳng kém ai đâu, tạ ơn Chúa!”

“Thôi, thôi, chúng ta sẽ không gửi nó đi quá tầm với của chiếc xe chở hàng đâu, nếu mọi chuyện đều thuận lợi,” ông Tulliver nói. “Nhưng cô đừng có mà chen ngang hay gây khó dễ chuyện giặt giũ, nếu chúng ta không kiếm được ngôi trường nào đủ gần. Đó là cái tật tôi không ngửi nổi ở cô đấy, Bessy; cứ hễ thấy một cành cây chắn ngang đường là cô lại đâm ra nghĩ rằng mình không thể bước qua nổi. Cả chuyện tôi thuê một người đánh xe giỏi mà cô cũng muốn ngăn cản, chỉ vì hắn có một cái nốt ruồi trên mặt.”

“Trời đất ơi!” bà Tulliver thốt lên với vẻ ngạc nhiên nhẹ nhàng, “có bao giờ tôi phản đối một người chỉ vì hắn có nốt ruồi trên mặt đâu cơ chứ? Tôi dám cá là mình còn thấy thích mấy cái nốt ruồi ấy chứ; vì người anh trai đã khuất của tôi cũng có một cái nốt ruồi trên trán mà. Nhưng tôi chẳng nhớ có lần nào ông chủ động thuê một người đánh xe có nốt ruồi cả, ông Tulliver ạ. Hồi đó có John Gibbs mặt mũi nhẵn nhụi chẳng có nốt ruồi nào giống như ông đâu, và tôi đã hết lời khuyên ông thuê hắn đấy chứ; rồi ông cũng thuê hắn thật, và nếu hắn không chết vì bệnh sưng viêm mà chúng ta đã trả tiền thuốc cho bác sĩ Turnbull để chữa trị, thì rất có thể giờ này hắn vẫn đang đánh xe rồi. Hắn hoàn toàn có thể có một cái nốt ruồi ở chỗ nào khuất mắt, nhưng làm sao mà tôi biết được chuyện đó chứ, ông Tulliver?”

“Không, không, Bessy; ý tôi không phải là kè kè cái nốt ruồi đó; ý tôi dùng nó để ví von với chuyện khác thôi; nhưng mà thôi kệ đi—nói chuyện đúng là nhức đầu thật. Điều tôi đang suy nghĩ lúc này là làm sao tìm được đúng cái loại trường để gửi Tom đến học, vì tôi không muốn bị lừa gạt một vố nữa giống như cái trường tư vừa rồi. Tôi sẽ chẳng dính líu gì đến trường tư nữa đâu: dù tôi có gửi Tom đến trường nào đi chăng nữa, thì tuyệt đối không phải là trường tư; đó phải là nơi bọn trẻ dùng thời gian vào những việc ích lợi khác ngoài việc đánh giày cho gia đình và đào khoai tây. Chọn được một ngôi trường ưng ý quả là chuyện rắc rối lạ thường.”

Ông Tulliver ngập ngừng một lát rồi thò cả hai tay vào túi quần như thể hy vọng tìm thấy chút gợi ý nào trong đó. Xem chừng ông không phải thất vọng, bởi chẳng mấy chốc ông liền cất lời: “Tôi biết mình sẽ làm gì rồi: tôi sẽ bàn bạc chuyện này với Riley; ngày mai cậu ấy tới đây để phân xử vụ cái đập nước.”

“Thôi được, ông Tulliver, tôi đã trải sẵn ga giường cho căn phòng tốt nhất rồi, và Kezia đang hong chúng bên lò sưởi. Dù đó không phải là bộ ga tốt nhất, nhưng chúng cũng đủ tốt để bất cứ ai cũng có thể ngả lưng, dù kẻ đó là ai đi nữa; còn về mấy tấm ga vải Hà Lan thượng hạng kia, tôi sẽ phải hối hận vì đã mua chúng mất, nếu không vì chúng còn dùng để liệm chúng ta khi qua đời. Hơn nữa, nếu ngày mai ông có lăn ra chết, ông Tulliver, thì những tấm ga ấy đã được là ủi phẳng phiu, sẵn sàng đâu vào đấy, và thoang thoảng mùi hoa oải hương khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi nằm lên; chúng nằm ở góc bên trái của chiếc rương đựng đồ bằng gỗ sồi lớn ở phía sau: không đời nào tôi dám tin tưởng giao cho ai việc lục tìm chúng ngoài chính tôi.”

Khi bà Tulliver thốt lên câu cuối cùng, bà rút một chùm chìa khóa sáng loáng từ trong túi ra, chọn lấy một chiếc, rồi lấy ngón cái và ngón trỏ xoa đi xoa lại trên chiếc chìa khóa với một nụ cười điềm tĩnh trong lúc ánh mắt dán vào lò sưởi đang cháy rực. Giả sử ông Tulliver là một người nhạy cảm trong đời sống vợ chồng, có lẽ ông đã tưởng rằng vợ mình rút chìa khóa ra để khơi gợi trí tưởng tượng, đoán trước khoảnh khắc ông ngã bệnh đến mức phải lôi bộ ga vải Hà Lan thượng hạng ấy ra dùng. May thay, ông chẳng hề nhạy cảm như vậy; ông chỉ nhạy cảm đối với quyền lợi về nguồn nước của mình mà thôi; hơn nữa, ông lại có thói quen của người chồng là chẳng mấy khi lắng nghe cho chăm chú, và kể từ khi nhắc đến ông Riley, có vẻ như ông đang bận rộn sờ nắn đôi tất len của mình.

“Tôi nghĩ ra rồi đấy, Bessy,” đó là câu nói đầu tiên của ông sau khoảng không gian lặng im ngắn ngủi. “Riley là kẻ có nhiều khả năng biết về một ngôi trường nào đó nhất; bản thân cậu ấy từng được học hành tử tế, lại hay đi đây đi đó khắp nơi để phân xử, định giá này nọ. Và chúng ta sẽ có thời gian bàn kỹ vào tối mai khi công việc đã xong xuôi. Tôi muốn Tom trở thành một người giống như Riley, cô biết đấy,—có thể ăn nói trôi chảy cứ như thể mọi thứ đã được soạn sẵn cho cậu ta, và nắm trong tay kha khá những từ ngữ vô thưởng vô phạt để chẳng ai có thể bắt bẻ được cậu ta trước pháp luật; lại thêm một vốn hiểu biết vững chắc về kinh doanh nữa chứ.”

“Thôi được,” bà Tulliver đáp, “nếu là chuyện ăn nói đoan trang, hiểu biết tường tận, đi đứng khom lưng, và chải chuốt đầu tóc, thì tôi chẳng ngại gì việc thằng bé được giáo dục thành một kẻ như thế. Nhưng những gã ăn nói văn hoa đến từ mấy thành phố lớn hầu như toàn đeo cổ áo giả bằng vải; chúng diện cái cổ nhún cho đến khi nhàu nát, rồi lại lấy yếm che đi; tôi biết Riley cũng thế mà. Và rồi, nếu Tom phải đến sống ở Mudport giống như Riley, nó sẽ ở trong một ngôi nhà có cái nhà bếp chật chội đến mức không xoay người nổi, chẳng bao giờ có nổi một quả trứng tươi cho bữa sáng, rồi ngủ ở tầng ba—hoặc tầng bốn, xét theo những gì tôi biết,—và có khi bị thiêu cháy ngùn ngụt trước khi kịp chạy xuống dưới nhà.”

“Không, không,” ông Tulliver gạt đi, “tôi chẳng có ý định cho nó đến Mudport đâu: tôi muốn nó lập văn phòng ngay tại St Ogg’s, sát cạnh chúng ta đây, và sống cùng gia đình. Nhưng,” ông Tulliver nói tiếp sau một khoảng lặng, “điều làm tôi hơi lo ngại là Tom có vẻ không sở hữu đúng loại óc thông minh cần có của một gã lanh lợi. Tôi ngờ rằng nó hơi chậm chạp một chút. Nó hưởng cái gen bên nhà cô đấy, Bessy.”

“Vâng, đúng thế thật,” bà Tulliver đáp, hoàn toàn tán thành nhận định vừa rồi dựa trên chính bản chất của nó; “nó rất thích ăn canh thật mặn. Thói quen của anh trai tôi và của cha tôi trước kia cũng y hệt như vậy.”

“Dẫu sao thì cũng thấy hơi tiếc,” ông Tulliver lẩm bẩm, “khi thằng bé lại mang nét tính cách của nhà ngoại thay vì con bé nhỏ. Đó là điều tồi tệ nhất của việc lai giống: chẳng bao giờ có thể tính toán chính xác điều gì sẽ xảy ra. Ngược lại, con bé út lại giống gen nhà tôi: nó ranh mãnh gấp đôi thằng Tom. Tôi chỉ sợ nó quá ranh mãnh đối với một đứa con gái,” ông Tulliver tiếp lời, vừa nói vừa lắc đầu đầy ngờ vực sang bên này rồi sang bên kia. “Chuyện đó chẳng gây hại gì mấy khi nó còn nhỏ; nhưng một người phụ nữ quá ranh mãnh thì chẳng khác gì một con cừu đuôi dài—chẳng đời nào bán được giá cao hơn vì lý do đó cả.”

“Vâng, nó là một hiểm họa khi con bé còn nhỏ đấy chứ, ông Tulliver, bởi vì sự khôn lỏi ấy toàn dẫn đến thói hư tật xấu. Làm sao để giữ cho chiếc tạp dề của nó sạch sẽ trong vỏn vẹn hai tiếng đồng hồ là điều vượt quá sự khôn ngoan của tôi rồi. Mà nhắc tới chuyện này,” bà Tulliver tiếp lời, đứng dậy rồi bước tới bên cửa sổ, “tôi chẳng biết bây giờ nó đang lang thang ở xó xỉnh nào nữa, trong khi trời đã sắp đến giờ uống trà rồi. Ái chà, tôi đoán có sai đâu—lại lang thang dọc bờ sông giống như một con thú hoang: Có ngày nó ngã xuống nước cho mà xem.”

Bà Tulliver gõ mạnh vào khung cửa sổ, vẫy tay gọi và lắc đầu—một động tác mà bà lặp đi lặp lại nhiều hơn một lần trước khi quay trở lại chiếc ghế ngồi của mình.

“Ông cứ mở miệng ra là nói chuyện ranh mãnh,” bà nhận xét khi ngồi xuống ghế, “nhưng tôi dám chắc con bé ngốc nghéch đi một nửa ở vài phương diện; vì nếu tôi sai nó lên lầu lấy thứ gì đó, nó sẽ quên bẵng mất mục đích ban đầu, rồi có khi ngồi bệt xuống sàn nhà dưới ánh nắng nghịch tóc và tự hát lẩm bẩm như một kẻ điên ở nhà thương tâm thần, mặc cho tôi đứng dưới nhà đợi mòn mỏi. Chẳng có ai bên họ hàng tôi mang cái máu ấy cả, tạ ơn Chúa! Cũng chẳng có ai sở hữu làn da nâu khiến nó trông chẳng khác nào một đứa con lai da màu. Tôi không muốn chống lại ý Trời, nhưng ngẫm lại thấy thật cay đắng khi tôi chỉ sinh được một đứa con gái, mà nó lại kỳ quặc đến thế.”

“Thôi đi, vớ vẩn!” ông Tulliver gạt phăng đi; “nó là một con bé thẳng thắn, mắt đen láy chẳng kém bất cứ đứa trẻ nào trên đời. Tôi chẳng thấy nó thua kém con cái nhà ai ở điểm nào cả; và nó còn đọc sách giỏi gần bằng ông mục sư nữa là đằng khác.”

“Nhưng tóc nó chẳng chịu xoăn dù tôi đã tìm đủ mọi cách, và nó cứ làm mình làm mẩy lên khi bị bắt cuốn giấy vào tóc, tôi đã phải vất vả cực nhọc hết sức để bắt nó đứng im cho mấy cái kẹp sắt uốn xoăn.”

“Cắt phăng nó đi—cắt ngắn cũn cỡn đi,” người cha buông lời bộc chộp.

“Sao ông lại ăn nói như thế được hả ông Tulliver? Nó đã là một con bé lớn tướng—đã qua tuổi lên chín và cao vượt tuổi—sao lại đi cắt tóc ngắn ngủn như vậy; chưa kể con bé Lucy con nhà bác Deane có cả một hàng lọn tóc xoăn tít quanh đầu, chẳng có lấy một sợi tóc nào lệch chỗ. Thật là bất công khi chị Deane nhà tôi lại sở hữu đứa trẻ xinh xắn đến thế; tôi chắc chắn con bé Lucy giống tôi hơn cả con đẻ của mình. Maggie, Maggie,” người mẹ tiếp lời, với giọng điệu vừa dỗ dành vừa hờn dỗi, khi thực tế trớ trêu của tạo hóa bước chân vào phòng, “mẹ đã bảo con bao nhiêu lần là phải tránh xa cái bờ sông kia ra cơ mà? Con sẽ ngã xuống đó rồi chết đuối cho mà xem, và lúc đó con sẽ phải hối hận vì đã không nghe lời mẹ dặn đấy.”

Mái tóc của Maggie, ngay khi cô bé tháo chiếc mũ trùm đầu ra, đã chứng minh một cách đau đớn cho lời buộc tội của người mẹ. Bà Tulliver, vì muốn con gái mình phải có một mái tóc uốn xoăn “giống như con cái nhà người ta,” nên đã cắt nó quá ngắn ở phần trước để có thể giắt ra sau tai; và vì mái tóc ấy thường thẳng đơ chỉ một tiếng đồng hồ sau khi tháo giấy uốn ra, Maggie cứ liên tục hất đầu để vén những lọn tóc đen, dày khỏi đôi mắt đen láy sáng ngời—một động tác khiến cô bé trông chẳng khác nào một chú ngựa lùn Shetland nhỏ bé.

“Ôi chao, ôi chao, Maggie, con đang nghĩ cái quái gì mà vứt cái mũ trùm đầu ở đấy thế hả? Mang nó lên lầu đi, con gái ngoan, rồi để mẹ chải tóc cho, thay cái tạp dề khác vào, và đổi giày đi mau lên, thật xấu hổ quá đi mất; rồi mau xuống đây tiếp tục thêu tấm vải chắp vá đi, như một tiểu thư đài các ấy.”

“Ôi, mẹ ơi,” Maggie cất giọng bực bội ra mặt, “con không muốn làm việc thêu thùa chắp vá nữa đâu.”

“Cái gì! Không muốn làm cả tấm vải chắp vá xinh xắn để làm chiếc mền đắp cho dì Glegg nữa sao?”

“Đó là một việc làm ngớ ngẩn,” Maggie vừa nói vừa hất mái tóc bờm của mình,—“xé tung mọi thứ ra rồi lại khâu chúng vào với nhau. Và con chẳng muốn làm bất cứ điều gì cho dì Glegg cả. Con không thích bà ấy.”

Maggie bỏ đi, kéo lê chiếc mũ trùm đầu theo dải lụa buộc, trong khi ông Tulliver cười phá lên thành tiếng.

“Em thật lấy làm lạ vì anh lại hùa vào cười con bé, ông Tulliver ạ,” người mẹ cất lời với giọng điệu hờn dỗi yếu ớt. “Chính anh đang tiếp tay cho những thói hư tật xấu của nó đấy. Và mấy người cô của nó thì cứ đinh ninh rằng chính em là người hư hỏng chiều chuộng nó.”

Bà Tulliver vốn là một người được mệnh danh là có tính tình dễ chịu—chưa từng khóc lóc hồi còn là trẻ thơ, trừ những lý do cỏn con như đói bụng hay bị kim châm; và từ chiếc nôi cho đến khi lớn lên, bà luôn khỏe mạnh, da dẻ trắng trẻo, đầy đặn và có phần chậm chạp; tóm lại, bà là bông hoa của cả gia đình về nhan sắc lẫn sự niềm nở. Nhưng sữa và sự dịu ngọt không phải là những thứ dễ bảo quản, và khi chúng chỉ hơi chua đi một chút, chúng hoàn toàn có thể gây ra những rối loạn nghiêm trọng cho chiếc dạ dày non nớt. Tôi vẫn thường tự hỏi liệu những bức tranh Đức Mẹ thời kỳ đầu của Raphael, với khuôn mặt trắng trẻo và biểu cảm có phần ngây ngô, có giữ được sự bình thản nguyên vẹn khi những đứa con trai cường tráng, bướng bỉnh của họ lớn lên đến mức không thể sống thiếu quần áo nữa hay không. Tôi nghĩ chắc hẳn họ cũng hay cằn nhằn yếu ớt, ngày càng trở nên cáu kỉnh hơn khi những lời phàn nàn ấy càng lúc càng trở nên vô tác dụng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của George Eliot

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.