Ngồi thuyền xuôi dòng sông Rhone vào một ngày hè, có lẽ bạn đã từng cảm thấy ánh nắng chói chang bỗng trở nên ảm đạm bởi những ngôi làng hoang tàn nằm rải rác bên bờ ở một số đoạn sông. Cảnh tượng ấy gợi nhắc về một thời con sông cuồn cuộn dâng cao như một vị thần tàn phá giận dữ, quét sạch những thế hệ mỏng manh chẳng khác gì ngọn cỏ trước gió, biến những mái ấm của họ thành chốn hoang vu. Bạn hẳn đã nghĩ thật là một sự tương phản kỳ lạ: giữa nỗi buồn mà chúng ta cảm nhận từ những tàn tích xám xịt của những ngôi nhà tầm thường ấy — vốn dĩ trong thời kỳ huy hoàng nhất cũng chỉ là biểu tượng của một cuộc sống thấp kém, gắn liền trong từng chi tiết với kỷ nguyên phàm tục của chính chúng ta — với cảm xúc do những lâu đài bên bờ sông Rhine mang lại. Những lâu đài ấy đã sụp đổ và phai màu theo thời gian, hòa quyện đến mức hoàn hảo với những vách đá xanh hiểm trở, tựa như chúng sinh ra vốn dĩ thuộc về nơi đó, tựa như cây thông mọc trên núi cao; thậm chí, ngay từ ngày được xây dựng, chúng chắc chắn đã mang vẻ đẹp hòa hợp ấy, như thể được dựng lên bởi một chủng tộc sinh ra từ lòng đất, những kẻ thừa hưởng từ người mẹ vĩ đại bản năng cao cả về hình khối. Và đó là một thời đại lãng mạn; dẫu cho những nam tước cướp bóc ấy có phần nào giống như những con yêu tinh cục cằn, say xỉn, thì trong họ vẫn ẩn chứa một nét hùng vĩ mang hơi hướng dã thú — họ giống như những con lợn rừng hung ác với chiếc ngà sắc nhọn, xé xác và quật ngã, chứ không phải loài lợn nhà tầm thường; họ đại diện cho những thế lực ma quái muôn đời đối với cái đẹp, đức hạnh và những cung bậc dịu dàng của cuộc sống; họ tạo nên một bức tranh tương phản tuyệt vời với những lãng tử hát rong, những nàng công chúa môi mềm, những tu sĩ sùng đạo và kẻ tha hương rụt rè xứ Do Thái. Đó là một thời kỳ rực rỡ sắc màu, khi ánh nắng rọi xuống những thanh gươm sắc bén và những lá cờ bay phấp phới; một thời kỳ của phiêu lưu và tranh đấu khốc liệt — phải, một thời kỳ của nghệ thuật tôn giáo sống động và lòng nhiệt thành tôn giáo; bởi chẳng phải những ngôi nhà thờ lớn đã được xây dựng trong thời kỳ đó sao, và chẳng phải những vị hoàng đế vĩ đại đã rời bỏ cung điện phương Tây để ngã xuống trước các thành lũy của kẻ ngoại đạo nơi miền Đông thánh địa hay sao?
Đó là lý do tại sao những lâu đài bên sông Rhine đánh thức trong tôi niềm rung cảm nên thơ; chúng thuộc về lịch sử nhân loại hào hùng, và gợi lên trong tâm trí tôi hình ảnh của một âm vang. Thế nhưng, những bộ xương làng mạc góc cạnh, hõm mắt sâu hoắm, nhạt nhòa trên sông Rhone lại đè nặng lên tôi cảm giác rằng đời sống con người — phần lớn trong số đó — chỉ là một sự tồn tại chật hẹp, xấu xí và thấp hèn, một sự tồn tại mà ngay cả tai họa cũng không đủ sức nâng tầm, mà trái lại, chỉ phơi bày trọn vẹn sự phàm tục trong bản chất của nó; và tôi mang một nỗi niềm cay đắng rằng cuộc sống mà những tàn tích này để lại dấu vết chỉ là một phần trong khối sinh khí tối tăm, thô kệch, rồi sẽ bị cuốn vào cõi hư vô giống như những bầy kiến và bầy hải ly.
Có lẽ một cảm giác tương tự với nỗi u uất này đã từng đè nặng lên bạn khi quan sát đời sống gia đình cổ điển bên bờ sông Floss, một cuộc sống mà ngay cả nỗi đau buồn cũng khó lòng nâng lên khỏi vũng bùn bi-hài kịch. Bạn bảo rằng đây là một cuộc sống thấp kém, đời sống của nhà Tulliver và Dodson, không được chiếu rọi bởi bất kỳ nguyên tắc siêu việt nào, không có tầm nhìn lãng mạn nào, không có đức tính hy sinh hay niềm tin hành động nào; không bị lay động bởi những cảm xúc dữ dội, không thể kìm chế từng tạo nên bóng tối u ám của đau khổ và tội ác; lại thiếu đi cái sự mộc mạc nguyên thủy, thô ráp của những nhu cầu cơ bản, cái sự lao động nhọc nhằn, phục tùng và ít ỏi, hay cái cách bập bẹ như trẻ thơ trước những gì tự nhiên viết nên — thứ vốn ban tặng nét thơ cho đời sống nông dân. Ở đây, người ta chỉ tìm thấy những quan niệm và thói quen thế tục thông thường, không học thức và không trau chuốt, quả thực là hình thái dung tục nhất của đời sống con người; đó là sự kiêu hãnh đáng kính trên một cỗ xe ngựa lỗi thời; là sự trần tục chẳng lấy một chút tinh tế. Quan sát kỹ những con người này, ngay cả khi bàn tay sắt của bất hạnh đã lay chuyển họ khỏi niềm tin mù quáng vào thế giới, người ta vẫn thấy rất ít dấu vết của tôn giáo, và càng ít hơn nữa bóng dáng của một tín điều Ki-tô giáo rõ rệt. Niềm tin của họ vào Thế giới Vô hình, nếu có biểu hiện đi chăng nữa, thì dường như lại mang sắc thái ngoại giáo nhiều hơn; những quan niệm đạo đức của họ, dù được bám giữ rất dai dẳng, dường như cũng chẳng có tiêu chuẩn nào ngoài tập quán gia truyền. Bạn không thể sống chung với những con người như thế; bạn cảm thấy ngột ngạt vì thiếu đi một lối thoát hướng tới cái gì đó đẹp đẽ, vĩ đại hay cao cả; bạn cảm thấy bực bội trước những con người tẻ nhạt này, tựa như họ là một giống loài lạc lõng trên chính mảnh đất họ đang sống — trên vùng đồng bằng trù phú này, nơi con sông lớn mãi mãi chảy về phía trước, nối liền nhịp đập nhỏ nhoi của một thị trấn Anh quốc cổ kính với nhịp đập của trái tim vĩ đại toàn cầu.
Một thứ mê tín mạnh mẽ, biết tự roi vọt thần linh hay tự đánh vào lưng mình, hãy còn phù hợp với sự huyền bí của số phận con người hơn là trạng thái tinh thần của những kẻ mang hình hài loài kiến thuộc gia tộc Dodson và Tulliver.
Tôi đồng cảm với bạn về cái cảm giác ngột ngạt và chật hẹp ấy; nhưng chúng ta buộc phải cảm nhận điều đó, nếu chúng ta thực sự muốn thấu hiểu cách thức nó tác động lên cuộc đời của Tom và Maggie — cách nó đã chi phối những tâm hồn trẻ tuổi qua bao thế hệ, những kẻ trong xu hướng tiến hóa không ngừng của nhân loại đã vươn lên vượt bậc so với thế hệ đi trước, dẫu cho họ vẫn bị trói buộc với thế hệ ấy bằng những sợi dây bền chặt nhất của trái tim. Nỗi đau khổ, dù là của một vị tử đạo hay một nạn nhân, thứ vốn gắn liền với mọi bước tiến lịch sử của nhân loại, đều được thể hiện theo cách này ở mỗi thị trấn, bên hàng trăm mái ấm vô danh; và chúng ta chẳng việc gì phải e dè khi so sánh những điều nhỏ bé với những thứ vĩ đại; bởi chẳng phải khoa học đã dạy chúng ta rằng nỗ lực cao cả nhất của nó chính là tìm kiếm một sự thống nhất gắn kết những gì nhỏ bé nhất với những điều vĩ đại nhất hay sao? Trong khoa học tự nhiên, tôi được biết, không có gì là tầm thường đối với một tâm trí có tầm nhìn bao quát về các mối quan hệ, và đối với tâm trí ấy, mỗi một sự vật riêng lẻ đều gợi mở ra một tập hợp vô tận các điều kiện. Chắc chắn rằng việc quan sát đời sống con người cũng tương tự như vậy.
Quả thực, các quan niệm tôn giáo và đạo đức của nhà Dodson và Tulliver mang tính chất cụ thể đến mức không thể suy luận ra từ việc khẳng định họ là một phần trong cộng đồng theo đạo Tin Lành của nước Anh. Lý thuyết về cuộc sống của họ có cốt lõi vững vàng, như mọi lý thuyết phải có để những gia đình đàng hoàng, thị vượng có thể gầy dựng và phát triển; nhưng nó lại chứa đựng lượng thần học ít ỏi đến đáng kinh ngạc. Nếu trong những ngày tháng còn là thiếu nữ, các cô nhà Dodson mở Kinh Thánh dễ dàng ở trang nào hơn các trang khác, thì đó chỉ là vì những cánh hoa tulip ép khô được kẹp đều đặn ở đó, chẳng hề có sự thiên vị nào dành cho phần lịch sử, sùng đạo hay giáo lý cả. Tôn giáo của họ thuộc loại đơn giản, bán ngoại giáo, nhưng hoàn toàn chẳng có chút dị giáo nào trong đó — nếu dị giáo thực sự có nghĩa là sự lựa chọn — bởi vì họ chẳng hề biết có tôn giáo nào khác, ngoại trừ tôn giáo của những kẻ đi nhà thờ vốn dĩ truyền đời trong các gia đình giống như bệnh hen suyễn. Làm sao họ biết được chứ? Vị mục sư của giáo xứ nông thôn dễ mến ấy không phải là một kẻ thích tranh luận, mà là một tay chơi bài whist cừ khôi, luôn sẵn sàng nói những câu đùa giởn với bất kỳ nữ giáo dân phơi phới thanh xuân nào. Tôn giáo của nhà Dodson bao gồm việc tôn kính bất cứ điều gì thuộc về tập tục và sự đàng hoàng; cần phải chịu phép bão tết, nếu không thì chẳng được chôn cất ở nghĩa trang nhà thờ, và phải rước lễ trước khi chết như một sự bảo đảm chống lại những hiểm nguy mơ hồ hơn; nhưng điều quan trọng không kém là phải có những người khiêng quan tài đúng điệu, những chiếc giăm bông được muối ngon lành trong đám tang của mình, và để lại một di chúc không tì vết. Sẽ chẳng ai dám quở trách một thành viên nhà Dodson vì đã bỏ sót bất kỳ điều gì phải phép, hay bất kỳ điều gì thuộc về quy chuẩn vĩnh cửu của vạn vật vốn được thể hiện rõ rệt qua việc làm của những giáo dân giàu có nhất cũng như qua truyền thống gia đình — chẳng hạn như sự vâng lời cha mẹ, lòng trung thủy với họ hàng, sự chăm chỉ, tính trung thực rạch ròi, sự tiết kiệm, việc cọ rửa thật sạch sẽ các dụng cụ bằng gỗ và đồng, việc cất trữ những đồng tiền có nguy cơ biến mất khỏi lưu thông, việc tạo ra những mặt hàng loại một cho thị trường, và nguyên tắc chung là ưu tiên bất cứ thứ gì "cây nhà lá vườn". Nhà Dodson là một dòng họ rất kiêu hãnh, và niềm kiêu hãnh của họ nằm ở việc đập tan mọi ý định quy trách nhiệm cho họ về việc vi phạm bổn phận hay phép tắc truyền thống. Đó là một sự kiêu hãnh lành mạnh ở nhiều khía cạnh, bởi nó đồng nhất danh dự với sự chính trực hoàn hảo, sự chu đáo trong công việc và lòng trung thành với các nguyên tắc được thừa nhận; và xã hội nợ những phẩm chất đáng trân quý ở nhiều thành viên của mình chính là nhờ những người mẹ thuộc tầng lớp nhà Dodson, những người đã làm ra những mẻ bơ và món cháo lúa mì thật ngon, và sẽ cảm thấy vô cùng hổ thẹn nếu làm khác đi. Sống trung thực mà nghèo khó chưa bao giờ là châm ngôn của nhà Dodson, lại càng không có chuyện ra vẻ giàu sang trong khi nghèo khó; trái lại, huy hiệu của gia đình họ là phải trung thực và giàu có, không chỉ giàu có mà còn phải giàu hơn mức người ta tưởng tượng. Sống được mọi người kính trọng và có những người khiêng quan tài thích hợp trong đám tang chính là việc hoàn thành mục đích tồn tại, nhưng nó sẽ hoàn toàn tan thành mây khói nếu khi bản di chúc được đọc lên, bạn lại sụt giảm uy tín trong mắt đồng bào, hoặc vì hóa ra bạn nghèo hơn họ tưởng, hoặc vì bạn để lại tiền bạc một cách cảm tính, không tuân thủ nghiêm ngặt các bậc thứ bậc họ hàng. Phải luôn đối xử đúng mực với họ hàng. Điều đúng đắn là phải trừng phạt nghiêm khắc họ nếu họ không làm rạng danh gia đình, nhưng tuyệt đối không được tước đoạt của họ dù chỉ là phần nhỏ nhất đáng được hưởng từ những chiếc khóa giày hay tài sản khác của gia tộc. Một phẩm chất nổi bật trong tính cách nhà Dodson chính là sự chân thật; cả thói hư tật xấu lẫn đức hạnh của họ đều là những biểu hiện của một chủ nghĩa ích kỷ kiêu hãnh và trung thực, vốn căm ghét cay đắng bất cứ điều gì tổn hại đến uy tín và lợi ích của mình, sẵn sàng dùng lời lẽ cay nghiệt với những "người họ hàng" phiền phức, nhưng sẽ không bao giờ bỏ rơi hay phớt lờ họ — sẽ không để họ phải thiếu thốn bánh mì, mà chỉ bắt họ phải ăn nó cùng với những loại rau đắng.
Tinh thần tin tưởng truyền thống ấy cũng chảy trong huyết quản nhà Tulliver, nhưng mang dòng máu phong phú hơn, chứa đựng những yếu tố của sự liều lĩnh hào phóng, tình cảm nồng nhiệt và tính bốc đồng nóng nảy. Người ta từng nghe ông nội của ông Tulliver kể rằng ông là hậu duệ của một nhân vật tên là Ralph Tulliver, một kẻ cực kỳ thông minh nhưng đã tự tàn phá sự nghiệp của chính mình. Rất có thể tay Ralph thông minh ấy là một kẻ sống phóng túng, thích cưỡi những con tuấn mã bất kham và luôn khăng khăng giữ vững lập trường của riêng mình. Ngược lại, chưa từng ai nghe nói về một người nhà Dodson nào lại tự phá sản; đó không phải là phong cách của gia đình ấy.
Nếu đó là những quan niệm sống mà nhà Dodson và Tulliver đã được nuôi dưỡng trong thời kỳ quá khứ đáng ca ngợi của thời đại Pitt với vật giá leo thang, thì từ những gì bạn đã biết về tình trạng xã hội ở St Ogg’s, bạn có thể suy ra rằng chẳng có mấy ảnh hưởng cải biến sâu sắc nào tác động lên họ trong suốt quãng đời trưởng thành. Ngay cả vào thời kỳ sau đó với những bài giảng chống Công giáo, người ta vẫn có thể ôm giữ nhiều tư tưởng ngoại giáo mà vẫn tin rằng mình là những tín đồ giáo hội chân chính; thế nên chúng ta chẳng có gì phải ngạc nhiên trước thực tế là ông Tulliver, dẫu là một người đi lễ nhà thờ đều đặn, vẫn ghi lại mối thù hằn của mình ở trang bìa lót của cuốn Kinh Thánh. Không phải là người ta có thể chê trách điều gì về vị mục sư của giáo xứ nông thôn quyến rũ thuộc về Dorlcote Mill ấy; ông xuất thân từ một gia đình danh giá, là một người độc thân không tì vết, có gu thẩm mỹ tao nhã — từng đạt học vị cao và giữ chức danh nghiên cứu sinh. Ông Tulliver dành cho ông sự tôn kính phải phép, giống như mọi thứ khác thuộc về nghi lễ nhà thờ; nhưng ông cho ra trò là nhà thờ ra nhà thờ, còn lẽ phải ra lẽ phải, và ông chẳng cần ai phải dạy cho mình thế nào là lẽ phải cả.
Một số loài hạt cần phải tìm chỗ bám trong những hoàn cảnh bất lợi đã được thiên nhiên ban cho một bộ phận gồm các móc câu, nhờ đó chúng có thể bám chặt vào cả những bề mặt rất khó tiếp nhận. Bám vào đó, hạt giống tinh thần được gieo rắc vào tâm trí ông Tulliver dường như hoàn toàn không có sự chuẩn bị tương ứng nào, và đã trượt theo những cơn gió bay đi mất, do hoàn toàn thiếu vắng những chiếc móc câu.