Bên Dòng Floss

Lượt đọc: 163 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Cho Thấy Những Người Quen Cũ Cũng Biết Cách Khiến Chúng Ta Ngỡ Ngàng

❊ ❊ ❊

Khi Maggie trở về nhà, mẹ nàng mang đến cho nàng tin tức về một thái độ bất ngờ từ phía dì Glegg. Ngay từ khi người ta chưa có tin tức gì về Maggie, bà Glegg đã khép hờ cửa chớp và kéo rèm xuống. Bà đinh ninh rằng Maggie đã chết đuối; điều đó xảy ra còn dễ tin hơn chuyện đứa cháu gái kiêm người thừa kế của bà lại làm điều gì đó tổn hại đến danh dự gia đình ở nơi nhạy cảm nhất. Cuối cùng, khi nghe Tom kể rằng Maggie đã về nhà, và nắm bắt từ cậu câu chuyện giải thích cho sự vắng mặt của con bé, bà liền mắng Tom một trận khốc liệt vì tội vội vàng tin vào điều tồi tệ nhất ở em gái mình khi chưa bắt buộc phải thế. Nếu con không đứng về phía "huyết thống" của mình chừng nào còn vót lại dù chỉ một mảnh danh dự cho họ, thì xin hỏi con còn đứng về phía ai? Việc dễ dãi thừa nhận hành vi của một người trong gia đình đến mức buộc mình phải sửa di chúc chưa bao giờ là phong cách của dòng họ Dodson; và dẫu bà Glegg vẫn luôn tiên đoán những điều gở cho tương lai của Maggie vào thời điểm mà người khác có lẽ ít tinh mắt hơn, nhưng sự công bằng là một thứ quý giá, và những người thân thiết không nên góp tay cướp đi danh tiếng trong sạch của con bé, rồi hắt hủi nó khỏi chiếc áo giáp của gia đình để mặc nó chịu đựng sự khinh miệt của thế giới bên ngoài, cho đến khi nó thực sự trở thành nỗi nhục của gia đình. Hoàn cảnh này là chưa từng có trong tiền lệ của bà Glegg; chưa từng có chuyện tương tự xảy ra trong gia đình Dodson trước đây; nhưng đây là trường hợp mà sự chính trực truyền thống và bản lĩnh cá nhân của bà tìm được tiếng nói chung với những ý tưởng căn cốt về tình thân tộc, đúng như cách bà hằng tôn trọng sự công bằng trong các vấn đề tiền bạc suốt cả đời mình. Bà đã cãi nhau với ông Glegg—người vì quá thương xót Lucy nên đâm ra phán xét Maggie gay gắt chẳng kém gì bản thân ông Deane—và nổi giận với cô em gái Tulliver vì đã không chạy đến xin lời khuyên và sự giúp đỡ của mình ngay lập tức, rồi tự giam mình trong phòng với cuốn sách “Saints’ Rest” của Baxter từ sáng đến tối, từ chối tiếp mọi vị khách, cho đến khi ông Glegg mang từ chỗ ông Deane tin tức về bức thư của Stephen. Lúc đó, bà Glegg cảm thấy mình đã có một chiến địa xứng đáng; thế là bà dẹp cuốn sách của Baxter sang một bên, sẵn sàng nghênh đón bất kỳ ai. Trong khi bà Pullet chẳng làm gì ngoài việc lắc đầu, khóc lóc, và ước gì anh họ Abbot đã chết, hoặc có vô số đám tang diễn ra còn hơn là cái chuyện chưa từng có tiền lệ này, khiến người ta chẳng biết phải xử sự thế nào, và bà Pullet không thể bước chân đến St Ogg’s nữa vì những kẻ “quen biết” đều đã hay chuyện hết cả, thì bà Glegg chỉ mong sao bà Wooll hay bất cứ ai khác đến gặp bà với những câu chuyện xàm ngôn về đứa cháu gái của mình, bà sẽ cho kẻ thiếu suy nghĩ đó biết tay!

Một lần nữa, bà lại có một cuộc tranh cãi nảy lửa với Tom, càng dữ dội hơn tương ứng với vị thế hiện tại vô cùng vững chắc của bà. Nhưng Tom, cũng giống như những thứ cố định khác, dường như càng trở nên cứng nhắc hơn trước nỗ lực lay chuyển ấy. Tội nghiệp Tom! Cậu phán xét dựa trên những gì mình có thể nhìn thấy; và sự phán xét đó đủ đau đớn cho chính cậu. Cậu tưởng mình đã nắm giữ bằng chứng rành rành được chứng thực qua bao năm tháng bằng chính đôi mắt mình—những bằng chứng chưa từng hé lộ chút sơ hở nào—rằng bản chất của Maggie hoàn toàn không thể tin tưởng được, và mang nặng những xu hướng tội lỗi đến mức không thể đối xử nhân nhượng một cách an toàn. Cậu sẽ hành động theo bằng chứng đó bằng bất cứ giá nào; nhưng ý nghĩ ấy khiến những ngày tháng của cậu trở nên cay đắng. Tom, cũng như mỗi chúng ta, bị giam cầm trong những giới hạn của bản chất chính mình, và nền giáo dục chỉ lướt qua cậu, để lại một lớp bóng bẩy mỏng manh; nếu bạn có ý định khắt khe với sự khắt khe của cậu, hãy nhớ rằng trách nhiệm của sự khoan dung thuộc về những kẻ có tầm nhìn rộng mở hơn. Trong lòng Tom đã nảy sinh một sự ghê tởm đối với Maggie, một thứ cảm xúc càng trở nên mãnh liệt chính bởi tình yêu thơ bé thuở hai người từng đan những ngón tay nhỏ xíu vào nhau, và ý thức gắn bó sâu sắc sau này trong một sứ mệnh chung và nỗi buồn chung; hình ảnh của con bé, như cậu từng nói với nó, là điều đáng ghét đối với cậu. Trong nhánh này của gia đình Dodson, dì Glegg đã tìm thấy một bản chất mạnh mẽ hơn cả của chính mình; một bản chất mà ở đó tình cảm gia đình đã phai nhạt đi tính chất họ hàng thân tộc để khoác lên mình thứ phẩm chất kiêu hãnh cá nhân đậm đặc gấp bội.

Bà Glegg thừa nhận rằng Maggie đáng bị trừng phạt—bà không phải là người phủ nhận điều đó; bà thừa nhận thế nào là lẽ phải—nhưng phải bị trừng phạt tương xứng với những lỗi lầm đã được chứng minh là do nó gây ra, chứ không phải những lỗi lầm bị quy chụp bởi những kẻ ngoài gia đình vốn chỉ muốn chứng tỏ người nhà của họ tốt đẹp hơn.

“Dì Glegg của con đã mắng mẹ một trận tơi bời hoa lá, con yêu ạ,” bà Tulliver tội nghiệp nói khi trở về bên Maggie, “vì mẹ đã không đến gặp dì ấy trước; dì ấy bảo không có chuyện dì ấy phải cất công đến tìm mẹ trước. Nhưng dì ấy cũng nói chuyện ra dáng chị em lắm; dẫu dì ấy xưa nay vẫn thế, khó chiều chuộng vô cùng—ôi chao!—nhưng dì ấy đã thốt ra những lời tử tế nhất từ trước tới nay dành cho con đấy, con ạ. Vì dì ấy bảo, dù dì ấy vốn ghét cay ghét đắng việc phải có thêm một người trong nhà, phải sắm thêm thìa dĩa các thứ và bị xáo trộn nếp sống quen thuộc, nhưng con vẫn sẽ có một mái nhà nương náu bên cạnh dì ấy, nếu con chịu đến với một lòng cung kính, và dì ấy sẽ bênh vực con trước những kẻ dám nói lời cay độc về con khi chúng chẳng có quyền gì cả. Và mẹ đã bảo rằng mẹ nghĩ con chẳng thể chịu đựng gặp ai ngoài mẹ, vì con đã quá kiệt quệ vì đau khổ rồi; nhưng dì ấy nói, ‘Tôi sẽ không ném lời cay độc vào nó đâu; khối kẻ ngoài họ hàng sẵn sàng làm chuyện đó cơ mà. Nhưng tôi sẽ cho nó những lời khuyên đúng đắn; và nó phải biết khiêm nhường.’ Thật đáng ngạc nhiên về con mụ Jane ấy; vì mẹ chắc chắn rằng xưa nay dì ấy luôn lôi những chuyện mẹ làm hỏng ra để đay nghiến—dù là mẻ rượu nho làm từ nho khô hỏng, hay mẻ bánh quá lửa, hoặc bất cứ chuyện gì đi nữa.’”

“Ôi, mẹ ơi,” Maggie tội nghiệp thốt lên, co rúm lại trước ý nghĩ về tất cả những sự va chạm mà tâm hồn bầm dập của nàng sẽ phải gánh chịu, “hãy bảo với dì rằng con vô cùng biết ơn; con sẽ sang thăm dì ngay khi có thể; nhưng lúc này con chưa thể gặp ai cả, ngoại trừ bác sĩ Kenn. Con đã đến gặp bác ấy—bác ấy sẽ cho con lời khuyên và giúp con tìm việc làm. Con không thể sống chung với ai, hay phụ thuộc vào ai đâu, mẹ hãy nói thế với dì Glegg nhé; con phải tự kiếm sống lấy. Nhưng mẹ có nghe ngóng được gì về Philip—Philip Wakem không? Mẹ chưa từng gặp ai nhắc đến cậu ấy sao?”

“Không, con yêu ạ; nhưng mẹ đã đến nhà Lucy, và mẹ gặp bác của con, bác ấy bảo họ đã thuyết phục được con bé lắng nghe bức thư, và con bé đã chú ý đến cô Guest, rồi đặt câu hỏi, và vị bác sĩ nghĩ rằng con bé đang chuyển biến tốt hơn rồi. Thật là một cõi đời trớ trêu—bao nhiêu là phiền muộn, ôi chao! Vụ kiện tụng chính là khởi đầu, rồi mọi thứ cứ thế tồi tệ đi, hết chuyện này đến chuyện khác, đúng vào lúc vận may tưởng như sắp xoay chiều.” Đây là lời than vãn đầu tiên mà bà Tulliver thốt ra trước mặt Maggie, nhưng thói quen cũ đã sống lại sau cuộc gặp gỡ với người chị chồng Glegg.

“Mẹ tội nghiệp của con ơi!” Maggie bật khóc nghẹn ngào, trái tim như thắt lại vì xót xa và hối hận, và quàng tay ôm lấy cổ mẹ; “Con lúc nào cũng hư đốn và gây phiền toái cho mẹ. Để rồi giờ đây lẽ ra mẹ đã có thể sống hạnh phúc nếu không vì con.”

“Ầy, con yêu của mẹ,” bà Tulliver nói, áp sát má vào gò má trẻ trung đang ấm áp; “Mẹ đành phải chịu đựng lũ con của mình thôi—mẹ sẽ chẳng thể sinh thêm đứa nào nữa; và nếu chúng mang lại vận rủi cho mẹ, thì mẹ vẫn cứ phải yêu quý chúng thôi. Chẳng còn mấy thứ khác để mà thương yêu nữa, vì đồ đạc trong nhà của mẹ đã đi bay tứ tán từ lâu rồi. Thế mà có bận con đã từng rất ngoan ngoãn; mẹ không thể hiểu nổi sao mọi chuyện lại ra nông nỗi này cơ chứ!”

Thêm hai ba ngày nữa trôi qua, và Maggie vẫn chẳng hề hay tin gì về Philip; sự lo lắng về cậu đang trở thành nỗi thống khổ lớn nhất của nàng, và cuối cùng nàng đã gom đủ can đảm để hỏi thăm về cậu với bác sĩ Kenn trong lần bác sĩ đến thăm nàng sắp tới. Bác sĩ thậm chí còn không biết Philip có đang ở nhà hay không. Ông Wakem cha đang chìm trong tâm trạng âm u do một loạt những phiền muộn dồn dập; sự thất vọng ở gã Jetsome trẻ tuổi này—người mà bề ngoài ông ta vô cùng quý mến—đã nối tiếp ngay sau thảm kịch giáng xuống hy vọng của con trai ông, sau khi chính ông ta đã phải đè nén tình cảm mãnh liệt của mình để chấp thuận chúng, lại còn lỡ miệng nhắc đến sự nhượng bộ đó ở St Ogg’s; và ông ta tỏ ra vô cùng cục cằn, gay gắt khi bất cứ ai hỏi ông ta câu nào về con trai mình.

Nhưng chắc chắn Philip không thể nào bị ốm được, bằng không thì người ta đã biết thông qua việc mời bác sĩ đến khám; có lẽ cậu đã đi khỏi thị trấn một thời gian ngắn. Maggie quỵ ngã dưới sức nặng của sự chờ đợi này, và trí tưởng tượng của nàng bắt đầu ngày càng chìm đắm dai dẳng vào những gì Philip đang phải chịu đựng. Cậu ấy nghĩ gì về nàng?

Cuối cùng Bob cũng mang đến cho nàng một bức thư, không có dấu bưu điện, được đề ngoài bằng một nét chữ mà nàng vô cùng quen thuộc qua những trang sách cũ của chính mình—một nét chữ từng viết tên nàng từ lâu lắm rồi, trong một cuốn sách nhỏ đựng thơ Shakespeare mà nàng sở hữu. Mẹ nàng đang ở trong phòng, và Maggie, với một nỗi xúc động mãnh liệt, vội vã chạy lên lầu để có thể đọc thư trong không gian cô quí. Nàng đọc nó với một vầng trán đang đập phừng phừng từng nhịp.

“Maggie,—Anh tin tưởng em; anh biết em chưa bao giờ có ý định lừa dối anh; anh biết em đã cố gắng giữ trọn lời hứa với anh và với tất cả mọi người. Anh đã tin điều đó trước khi có bất kỳ bằng chứng nào khác ngoài chính bản chất của em. Đêm sau buổi chia tay cuối cùng với em, anh đã phải trải qua những nỗi dằn vặt khôn cùng. Anh đã tận mắt thấy những điều thuyết phục anh rằng em không được tự do; rằng có một kẻ khác sở hữu thứ uy quyền lên em mà anh chưa từng có được; nhưng vượt qua mọi sự xúi giục—gần như mang tính sát hại—của cơn thịnh nộ và ghen tuông, tâm trí anh vẫn tự mở đường để tin vào sự chân thực của em. Anh chắc chắn rằng em đã định gắn bó với anh, như em từng nói; rằng em đã từ chối hắn; rằng em đã đấu tranh để từ bỏ hắn, vì lợi ích của Lucy và của chính anh. Nhưng anh chẳng thể nhìn thấy một ngõ ra nào không mang lại tai họa cho em; và nỗi kinh hoàng đó đã bóp nghẹt ngay cả ý nghĩ về sự buông xuôi. Anh tiên đoán trước rằng hắn sẽ không buông tha em, và anh tin khi ấy, cũng như anh tin lúc này đây, rằng sức hút mạnh mẽ kéo hai người lại với nhau chỉ xuất phát từ một khía cạnh trong tính cách của đôi bên, và thuộc về phần hành động phiến diện, chia rẽ ấy trong bản tính con người—thứ tạo nên một nửa nỗi bi thương của phận người. Anh từng cảm nhận được sự rung động của những cung bậc trong tâm hồn em mà anh hằng thấy thiếu vắng ở hắn. Nhưng có lẽ anh đã lầm; có lẽ anh cảm nhận về em giống như một người nghệ sĩ đối với khung cảnh mà tâm hồn anh đã ấp ủ bằng tình yêu; người nghệ sĩ ấy sẽ run rẩy khi thấy nó được giao phó vào đôi tay khác; anh ta sẽ chẳng bao giờ tin rằng nó có thể mang lại cho người khác tất cả ý nghĩa và vẻ đẹp mà nó vốn có đối với riêng anh.”

“Anh không dám liều lĩnh gặp em vào buổi sáng hôm ấy; anh ngập tràn trong thứ đam mê ích kỷ; anh suy sụp sau một đêm mê sảng đầy tỉnh táo. Anh đã nói với em từ lâu rằng anh chưa bao giờ cam chịu sự tầm thường trong năng lực của chính mình; làm sao anh có thể cam chịu việc mất đi thứ duy nhất từng đến với anh trên cõi đời này mang theo lời hứa hẹn về một niềm vui sâu sắc đến mức ban cho nỗi đau trước đó một ý nghĩa mới mẻ và hạnh phúc—lời hứa về một cái tôi thứ hai sẽ nâng bổng tình cảm đau đáu của anh lên tầm vóc của niềm hoan hỉ thiêng liêng từ một khát khao luôn trào dâng, luôn được thỏa mãn?”

“Nhưng những đớn đau trong đêm hôm đó đã chuẩn bị cho anh đón nhận những gì xảy đến trước đêm tiếp theo. Đó không phải là điều bất ngờ đối với anh. Anh chắc chắn rằng hắn đã thuyết phục em hy sinh tất cả vì hắn, và anh chờ đợi với một sự chắc chắn không kém để nghe tin về đám cưới của hai người. Anh đã đo lường tình yêu của em và của hắn bằng tình yêu của chính mình. Nhưng anh đã lầm, Maggie. Trong em có một thứ mạnh mẽ hơn cả tình yêu em dành cho hắn.”

“Anh sẽ không kể cho em nghe những gì anh đã phải trải qua trong khoảng thời gian ấy đâu. Nhưng ngay cả trong cơn hoạn nạn tột cùng—ngay cả trong những quằn quại khủng khiếp mà tình yêu phải gánh chịu trước khi có thể rũ bỏ thứ ham muốn ích kỷ—tình yêu của anh dành cho em vẫn đủ sức ngăn cản anh tự vẫn, chẳng cần đến sự trợ giúp của bất kỳ động lực nào khác. Giữa sự ích kỷ của mình, anh vẫn không thể chịu đựng nổi việc bước đến như một bóng ma tử thần cắt ngang bữa tiệc vui mừng của em. Anh không thể chịu nổi ý nghĩ ruồng bỏ thế giới nơi em vẫn đang sống và có thể vẫn cần đến anh; đó là một phần lời thề gắn bó mà anh đã đoan nguyện với em—phải chờ đợi và nhẫn nhục. Maggie đó là minh chứng cho điều mà anh viết ra lúc này để đoan chắc với em rằng—không có nỗi thống khổ nào mà anh phải gánh chịu vì em lại là một cái giá quá đắt phải trả cho cuộc đời mới mà anh đã bước vào khi yêu em. Anh muốn em dạt bỏ mọi sầu muộn vì nỗi đau mà em đã gây ra cho anh. Anh lớn lên trong sự thiếu thốn; anh chưa từng mong đợi hạnh phúc; và khi được biết em, khi được yêu em, anh đã có, và vẫn đang có, những gì hòa giải anh với cuộc sống. Em đã trở thành ánh sáng, thành sắc màu đối với đôi mắt anh, là âm thanh âm nhạc đối với tâm hồn bên trong, em đã khơi gợi một nỗi trằn trọc mờ ảo thành một nhận thức vô cùng sống động. Cuộc đời mới mà anh tìm thấy khi quan tâm đến niềm vui và nỗi buồn của em nhiều hơn là những gì thuộc về riêng mình, đã chuyển hóa tinh thần oán thán nổi loạn thành sự nhẫn nhục tự nguyện—đứa con ra đời từ sự đồng cảm mạnh mẽ. Anh nghĩ không có gì ngoài một tình yêu trọn vẹn và mãnh liệt đến thế mới có thể khai tâm cho anh bước vào cõi đời rộng lớn ấy—một cõi đời ngày một sinh sôi bằng cách thấu cảm cuộc đời của kẻ khác; bởi vì trước đây, anh luôn bị kéo giật lại bởi thứ ý thức về bản thân đầy đau đớn luôn hiện hữu. Đôi khi anh thậm chí còn nghĩ rằng món quà về một cuộc đời được chuyển hóa đã đến với anh khi yêu em, biết đâu lại chính là một nguồn sức mạnh mới mẻ dành cho anh.”

“Thế nên, người thương ạ, bất chấp tất cả, em vẫn là phúc phần trong cuộc đời anh. Đừng để bất kỳ sự tự trách nào đè nặng lên em vì anh. Chính anh mới là kẻ nên tự trách vì đã ép buộc cảm xúc của mình lên em, và vội vã đẩy em vào những từ ngữ mà em cảm thấy như gông cùm. Em đã định giữ trọn những từ ngữ ấy; em đã sống chân chính với chúng. Anh có thể đo lường sự hy sinh của em qua những gì anh từng biết chỉ trong vỏn vẹn nửa giờ đồng hồ ở bên em, khi anh từng mơ tưởng rằng em có thể yêu anh nhất mực. Nhưng, Maggie, anh chẳng có quyền chính đáng nào đòi hỏi ở em điều gì hơn ngoài một ký ức đầy âu yếm.”

“Đã có lúc anh chần chừ không muốn viết thư cho em, bởi vì anh thậm chí còn sợ hãi cả việc tỏ ra muốn xen vào cuộc đời em, và cứ thế lặp lại sai lầm ban đầu của mình. Nhưng em sẽ không hiểu lầm anh đâu. Anh biết rằng chúng ta phải sống xa cách trong một thời gian dài; những lưỡi dao sắc bén của miệng đời sẽ chia cắt chúng ta, nếu không có thứ gì khác làm điều đó. Nhưng anh sẽ không đi đâu cả. Nơi nào có em, nơi đó là chốn tâm trí anh buộc phải cư ngụ, dù anh có bôn ba đến tận đâu đi nữa. Và hãy nhớ rằng anh mãi mãi là của em—của em không phải với những ham muốn ích kỷ, mà bằng một lòng tận tụy loại bỏ mọi ham muốn tầm thường ấy.”

“Chúa hãy an ủi em, Maggie nhân hậu và cao thượng của anh. Nếu tất cả mọi người ngoài kia đều hiểu lầm em, hãy nhớ rằng em chưa bao giờ bị hoài nghi bởi kẻ từng nhận ra trái tim em từ mười năm về trước.”

“Đừng tin bất cứ ai nói rằng anh đang lâm bệnh, chỉ vì người ta không thấy anh bước chân ra ngoài đường. Anh chỉ bị những cơn đau nửa đầu do thần kinh thôi—chẳng tồi tệ hơn những lúc anh từng bị trước đây. Nhưng cái nóng ngột ngạt khiến anh muốn được nằm yên hoàn toàn vào ban ngày. Anh đủ khỏe mạnh để tuân theo bất kỳ lời sai bảo nào cho thấy anh có thể phục vụ em bằng lời nói hay hành động.”

“Của em đến hơi thở cuối cùng,

“Philip Wakem.”

Khi Maggie quỳ sụp bên chiếc giường mếu máo khóc, với bức thư được áp chặt ngực, cảm xúc trong lòng nàng hết lần này đến lần khác tụng lại thành một tiếng thì thầm, vẫn mãi bằng ngần ấy chữ,—

“Lạy Chúa, liệu có thứ hạnh phúc nào trong tình yêu có thể khiến con quên đi nỗi đau đớn của họ chăng?”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của George Eliot

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.