Bên Dòng Floss

Lượt đọc: 79 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
Ông Tulliver Bộc Lộ Điểm Yếu

❊ ❊ ❊

“Giả sử chị Glegg đòi lại số tiền thì hẳn anh sẽ rất khốn đốn khi phải xoay xở năm trăm bảng ngay lúc này,” bà Tulliver nói với chồng vào buổi tối hôm ấy, khi bà đang hoài niệm đầy u sầu về một ngày đã qua.

Bà Tulliver đã sống mười ba năm làm vợ ông, thế nhưng bà vẫn giữ nguyên vẹn sự ngây thơ thuở mới kết hôn cùng khả năng thốt ra những lời khiến ông gạt phăng đi, đi ngược lại hoàn toàn với mong muốn của bà. Có những tâm hồn thật kỳ lạ khi vẫn giữ được vẻ non tơ ấy theo năm tháng, giống như một con cá vàng trong bể kiểng, dù đã già nua nhưng hình như vẫn mãi ôm mộng thanh xuân rằng nó có thể bơi một đường thẳng tắp vượt qua lớp kính vây quanh. Bà Tulliver là một chú cá dễ mến như thế; sau mười ba năm lao đầu vào cùng một bức tường kính ngăn trở, hôm nay bà vẫn sẽ lao vào lại với sự hăng hái chẳng hề mai một.

Nhận xét này của bà chỉ càng khiến ông Tulliver đinh ninh rằng việc xoay xở năm trăm bảng chẳng có gì là khốn đốn đối với ông cả; và khi bà Tulliver bắt đầu gặng hỏi xem ông sẽ xoay xở ra sao nếu không chịu thế chấp cối xay cùng ngôi nhà — điều mà ông từng tuyên bố là sẽ không bao giờ làm, bởi thời buổi này chẳng mấy ai sẵn sàng cho vay tiền mà không có tài sản đảm bảo — ông Tulliver bèn nổi nóng, lớn tiếng tuyên bố rằng chị Glegg muốn đòi lại tiền thế nào cũng được, ông sẽ trả đứt một cục cho dù thế nào đi nữa. Ông chẳng việc gì phải chịu ơn mấy người chị em vợ. Khi một người cưới vợ vào một gia đình toàn đàn bà con gái, anh ta có thể phải chịu đựng đủ thứ phiền toái nếu anh ta muốn. Nhưng ông Tulliver thì không muốn.

Bà Tulliver sụt sùi khóc nhỏ trong lúc đội chiếc mũ ngủ lên đầu; nhưng rồi chẳng mấy chốc đã chìm vào giấc ngủ êm đềm, được vỗ về bởi ý nghĩ rằng bà sẽ đem mọi chuyện ra bàn tán với cô em gái Pullet vào ngày mai, khi bà dẫn bọn trẻ sang Garum Firs uống trà. Không phải là bà trông chờ một kết quả rõ ràng nào từ cuộc nói chuyện đó; chỉ là dường như thật vô lý khi những chuyện đã qua lại ngoan cố đến mức không thể thay đổi được gì khi người ta đem ra phàn nàn.

Chồng bà nằm trằn trọc lâu hơn một chút, bởi ông cũng đang suy tính về chuyến viếng thăm sẽ thực hiện vào ngày mai; và những ý nghĩ trong đầu ông không hề mơ hồ và dễ chịu như của người vợ khả ái.

Khi bị chi phối bởi một cảm xúc mạnh mẽ, ông Tulliver thường có sự quyết đoán trong hành động — điều có vẻ mâu thuẫn với cảm giác bứt rứt về sự phức tạp, rối rắm của cõi nhân gian trong những lúc ông trầm ngâm bình tĩnh hơn; nhưng thực ra rất có thể giữa hai hiện tượng tưởng chừng trái ngược ấy lại có một mối liên hệ trực kiến, bởi tôi nhận thấy rằng để có được ấn tượng mạnh mẽ rằng một cuộn chỉ đang bị rối tung, không gì sánh bằng việc giật phắt một sợi đơn lẻ nào đó. Chính nhờ sự quyết đoán ấy mà ngay sau bữa trưa ngày hôm sau, ông Tulliver đã lên ngựa (ông chẳng hề bị khó tiêu chút nào) để đến Basset thăm người em gái Moss cùng chồng cô. Một khi đã đinh ninh không thể lay chuyển rằng mình sẽ trả khoản tiền vay năm trăm bảng cho bà Glegg, ông liền nghĩ ngay đến việc mình đang nắm giữ một giấy nhận nợ trị giá ba trăm bảng đã cho người em rể Moss vay; và nếu cậu em rể kia có thể xoay xở trả được số tiền ấy trong một thời hạn nhất định, thì nó sẽ làm giảm đi đáng kể cái vẻ bất tiện hão huyền mà bước đi hào hiệp của ông Tulliver có thể gây ra trong mắt những kẻ yếu bóng vía — những kẻ luôn đòi hỏi phải biết chính xác mọi việc được tiến hành ra sao trước khi dám chắc chắn rằng nó sẽ dễ dàng.

Bởi vì hoàn cảnh của ông Tulliver chẳng có gì mới mẻ hay nổi bật, nhưng giống như bao điều tầm thường khác trong đời sống, nó chắc chắn sẽ tạo ra một hiệu ứng dồn tụ mà người ta sẽ cảm nhận được về lâu về dài: thiên hạ vẫn tưởng ông là một người có lực lượng tài chính vững vàng hơn thực tế rất nhiều. Và vì tất cả chúng ta đều dễ dàng tin vào những gì thế gian tin về mình, ông vẫn quen nghĩ về sự phá sản và lụi tàn bằng một thứ lòng trắc ẩn xa xôi giống như một kẻ gầy gò, cổ dài nghe tin người hàng xóm béo tốt, cổ ngắn của mình bị cơn tai biến quật ngã. Ông từ xưa đã quen nghe những lời bông đùa dễ chịu về lợi thế của một người tự tay vận hành cối xay và sở hữu một mảnh đất xinh xắn; và những lời trêu chọc ấy dĩ nhiên đã củng cố niềm tin của ông rằng mình là một người có tài sản đáng kể. Chúng mang lại hương vị đậm đà cho ly rượu của ông vào những ngày đi chợ, và nếu không vì sự lặp lại của những khoản thanh toán nửa năm một lần, có lẽ ông Tulliver thực sự đã quên mất rằng đang có một khoản thế chấp hai nghìn bảng trên khu đất tự do cực kỳ đáng mơ ước của mình. Đó không hoàn toàn là lỗi của riêng ông, bởi một nghìn bảng trong số đó chính là phần hồi môn của em gái ông mà ông phải trả khi cô kết hôn; và một người có những kẻ hàng xóm sẵn sàng lôi nhau ra tòa thì khó lòng mà trả hết các khoản thế chấp của mình, nhất là khi ông lại rất tận hưởng thiện cảm từ những quen biết muốn vay một trăm bảng với thứ tài sản bảo đảm quá cao cả chẳng tài nào quy đổi ra văn tự được. Người bạn ông Tulliver của chúng ta mang trong mình bản tính lương thiện, chẳng đành lòng cất lời từ chối phũ phàng ngay cả với cô em gái — người không chỉ xuất hiện trên cõi đời này theo cái cách thừa thãi vốn là đặc quyền của các cô em gái, gây ra sự cần thiết phải thế chấp tài sản, mà lại còn tự đày đọa đời mình trong hôn nhân, rồi tô điểm thêm cho những lầm lỗi bằng việc đẻ đứa con thứ tám. Về điểm này, ông Tulliver nhận thức rõ mình hơi mềm lòng; nhưng ông tự biện hộ bằng cách nhủ rằng tội nghiệp con bé Gritty từng là một thiếu nữ ưa nhìn trước khi gả cho Moss; đôi khi ông thậm chí còn nói điều này với giọng hơi run run. Nhưng sáng nay, tâm trạng ông lại ra dáng một thương gia hơn, và trên suốt dọc con đường mòn lầy lội ở Basset — nơi nằm xa thị trấn chợ đến mức công sức vận chuyển nông sản và phân bón đủ để ngốn sạch phần lớn lợi nhuận từ thứ đất đai cằn cỗi của giáo xứ ấy — ông đã kịp nuôi dưỡng một sự bực dọc vừa đủ đối với Moss như một kẻ tay trắng, kẻ mà nếu dịch bệnh hay sâu bọ hoành hành thì chắc chắn sẽ hứng trọn phần của mình, và là kẻ càng cố kéo ra khỏi vũng bùn thì lại càng lún sâu hơn. Bây giờ, nếu hắn bị bắt buộc phải xoay xở ba trăm bảng này thì điều đó chỉ có lợi chứ chẳng hại gì; nó sẽ khiến hắn biết nhìn trước ngó sau hơn, và không còn hành động ngốc nghếch về chuyện lông cừu năm nay như năm ngoái nữa; thực ra, ông Tulliver đã quá dễ dãi với cậu em rể rồi, và chính vì ông cứ để tiền lãi trôi qua hai năm trời nên Moss rất có thể nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ bị quấy rầy về khoản tiền gốc. Nhưng ông Tulliver đã hạ quyết tâm không dung dưỡng những kẻ lươn lẹo ấy nữa; và một chuyến đi dọc những con đường mòn Basset khó lòng mà làm nhụt chí một người bằng cách làm dịu đi tính khí của anh ta. Những vết móng ngựa hằn sâu từ những ngày đông lầy lội nhất thi thoảng lại xóc cho ông vài cái, gợi lên một tiếng gầm gừ liều lĩnh nhưng đầy kích thích nhắm vào chúa tể của lũ luật sư — kẻ, dù bằng móng guốc hay cách nào khác, chắc chắn có dính líu đến tình trạng tồi tệ của những con đường này; cùng với sự bạt ngàn của những thửa đất hoang hóa và hàng rào xơ xác đập vào mắt, dù chẳng thuộc trang trại của cậu em Moss, cũng góp phần không nhỏ vào sự bất mãn của ông đối với tay làm nông kém may mắn ấy. Nếu đây không phải là mảnh đất bỏ hoang của Moss, thì nó hoàn toàn có thể là thế; Basset nơi nào cũng vậy; trong mắt ông Tulliver, đó là một giáo xứ nghèo mạt rượi, và nhận định của ông chắc chắn không phải là không có cơ sở. Basset có đất đai cằn cỗi, đường sá tồi tàn, một địa chủ vắng mặt nghèo túng, một vị linh mục quản nhiệm vắng mặt nghèo túng, và một vị phó tế nghèo túng còn chưa được một nửa. Nếu có ai đó bị thuyết phục mạnh mẽ bởi sức mạnh của trí tuệ con người trong việc chiến thắng hoàn cảnh mà tranh cãi rằng giáo dân Basset dẫu thế vẫn có thể là một tầng lớp người vô cùng ưu tú, tôi chẳng có gì để phản bác mệnh đề trừu tượng đó; tôi chỉ biết rằng, trên thực tế, tư duy của người Basset hoàn toàn tương xứng với hoàn cảnh của họ. Những con đường lầy lội, xanh rờn rêu hoặc đặc quánh đất sét, thoạt nhìn tưởng chẳng dẫn đi đâu ngoài việc đâm vào nhau, kỳ thực nếu kiên trì đi sẽ dẫn ra được một con đường lớn ở đằng xa; nhưng có rất nhiều đôi chân ở Basset lại thường xuyên dẫn đến một chốn ăn chơi trác táng hơn, trước đây từng được gọi là quán “Markis o’ Granby,” nhưng trong đám bạn thân thì gọi là “Dickison’s”. Một căn phòng rộng, trần thấp với sàn rải cát; thoang thoảng mùi thuốc lá lạnh ngắt hòa lẫn với cặn bia lâu ngày chưa dọn; ông Dickison dựa người vào khung cửa với gương mặt buồn rầu chi chít mụn trứng cá, trông lạc lõng giữa ban ngày chẳng khác gì một ngọn nến sụt sáp từ đêm hôm trước — tất cả những điều ấy có lẽ trông chẳng mấy hấp dẫn hay cám dỗ; nhưng đa số đàn ông ở Basset lại thấy nó có sức hút chết người khi họ ghé qua trên đường về nhà vào tầm bốn giờ chiều một ngày mùa đông; và nếu bất kỳ người vợ nào ở Basset muốn ám chỉ rằng chồng mình không phải là kẻ mê chơi bời, bà ấy khó lòng mà diễn tả điều đó một cách đanh thép hơn ngoài việc nói rằng chồng bà chẳng tiêu dù chỉ một xu ở quán Dickison từ mùa Lễ Ngũ Tuần này sang mùa Lễ Ngũ Tuần khác. Bà Moss đã nói về chồng mình như thế hơn một lần, vào những lúc anh trai bà đang có tâm trạng muốn bắt bẻ ông ấy, hệt như ngày hôm nay.

Và chẳng có gì có thể làm ông Tulliver bớt bực bội hơn là cái hành động của cánh cổng sân trại: ông vừa dùng gậy cưỡi ngựa định đẩy mở thì nó liền giở chứng như đặc tính muôn thuở của những chiếc cổng mất bản lề trên, đe dọa trực tiếp đến ống chân của cả người lẫn ngựa. Ông toan trèo xuống dắt ngựa đi qua lớp bùn ẩm ướt của khoảng sân trang trại trũng thấp, bị bóng tối u ám của những dãy nhà nửa gạch nửa gỗ phủ trùm lên, tiến tới dãy nhà ở dài xiêu vẹo nằm trên một con đường tôn cao; nhưng sự xuất hiện kịp thời của một cậu bé chăn bò đã cứu ông khỏi việc phải từ bỏ một kế hoạch mà ông đã đinh ninh từ trước — đó là không bao giờ xuống ngựa trong chuyến viếng thăm này. Nếu một người đã quyết tâm tỏ ra cứng rắn, hãy cứ ngồi trên yên ngựa và cất tiếng từ độ cao đó, vượt lên trên tầm mắt của những đôi mắt đang nài nỉ, và với uy quyền của một chân trời xa tắp. Bà Moss nghe thấy tiếng móng ngựa, và khi anh trai vừa cưỡi tới, bà đã đứng sẵn ở cửa nhà bếp, trên môi nở nụ cười nửa mệt mỏi, tay ôm một đứa bé mắt đen láy. Khuôn mặt bà Moss có nét phảng phất tàn phai giống hệt anh trai; bàn tay bụ bẫm của đứa bé áp lên má bà lại càng làm nổi bật rõ rệt hơn sự tàn phai ấy.

“Anh hai, em rất vui được gặp anh,” bà nói với giọng đầy âu yếm. “Em không nghĩ hôm nay anh sang. Anh khỏe không?”

“Ồ, bình thường, cô Moss ạ, bình thường thôi,” người anh trả lời với vẻ điềm tĩnh lạnh lùng, cứ như thể cô hỏi câu đó là hơi sỗ sàng rồi thì phải. Bà nhận ra ngay là anh trai mình đang không vui; anh chưa bao giờ gọi bà là cô Moss trừ khi nổi giận hoặc khi họ đang ở chỗ đông người. Nhưng bà nghĩ đó là quy luật tự nhiên khi những kẻ nghèo túng thì hay bị hắt hủi. Bà Moss không bận tâm đến sự bình đẳng của nhân loại; bà là một phụ nữ nhẫn nại, mắn đẻ và giàu lòng nhân ái.

“Chắc chồng cô không có nhà nhỉ?” ông Tulliver nói thêm sau một khoảng lặng trang nghiêm, trong thời gian đó có bốn đứa trẻ đã ùa ra như bầy gà con khi thấy gà mẹ bất ngờ biến mất sau chuồng.

“Dạ không,” bà Moss đáp, “nhưng nhà tôi ở ngay ngoài ruộng khoai đằng kia thôi. Georgy, con chạy mau ra khu Far Close bảo bố là bác tới kìa. Anh xuống ngựa vào nhà uống nước chứ, anh hai?”

“Không, không; tôi không xuống đâu. Tôi phải về nhà ngay đây,” ông Tulliver nói, mắt hướng nhìn về phía xa xăm.

“Thế mẹ con nhà chị Tulliver vẫn mạnh giỏi cả chứ ạ?” bà Moss hỏi với vẻ nhún nhường, không dám nài nỉ thêm.

“Ồ, bình thường cả. Thằng Tom sắp vào trường học mới vào dịp Giữa Hạ — tốn kém cho tôi lắm. Chẳng hay ho gì khi tiền cứ đọng lại ở ngoài mà không thu về được.”

“Ước gì anh rộng lòng cho các cháu sang chơi với họ hàng một bữa. Mấy đứa nhỏ nhà em ao ước được gặp chị Maggie lắm cơ. Mà em lại là mẹ đỡ đầu của con bé, lại hết mực thương yêu nó; chẳng có ai cưng chiều nó hơn đâu, tùy theo gia cảnh nhà em có gì. Hơn nữa em biết con bé cũng thích sang chơi, vì nó là đứa trẻ tình cảm, mà lại nhanh nhẹn, khôn ngoan nữa chứ, thật đấy!”

Nếu bà Moss là một trong những người phụ nữ thâm sâu nhất thế gian, thay vì chỉ là một kẻ đơn giản nhất, thì bà cũng chẳng thể nghĩ ra điều gì có thể làm đẹp lòng anh trai mình hơn là những lời ca ngợi Maggie. Rất hiếm khi anh trai bà nghe thấy ai tự nguyện ca ngợi “con bé nhỏ”; việc đó thường chỉ do một tay anh gánh vác để nhấn mạnh những ưu điểm của nó. Nhưng Maggie luôn xuất hiện trong ánh sáng đáng yêu nhất khi ở nhà dì Moss; đó là vùng đất tự do của con bé, nơi nó nằm ngoài tầm với của luật lệ — nếu nó làm đổ thứ gì, làm bẩn giày, hay rách váy, thì những điều đó ở nhà dì Moss đều là chuyện hết sức bình thường. Bất chấp ý chí của mình, ánh mắt ông Tulliver dịu lại, và ông không quay mặt đi chỗ khác khi nói:

“Ừ; con bé có vẻ quý cô hơn mấy người dì khác. Nó mang gen nhà mình đấy: chẳng có chút nào giống tính mẹ nó cả.”

“Anh Moss bảo con bé y hệt như em hồi nhỏ vậy,” bà Moss nói, “dù em chưa bao giờ nhanh nhẹn và ham đọc sách bằng nó. Nhưng em nghĩ con Lizzy nhà em cũng giống nó đấy; nó sắc sảo lắm. Lại đây nào, Lizzy con, để bác nhìn con chút; con lớn nhanh quá khiến bác suýt không nhận ra nữa.”

Lizzy, một đứa trẻ bảy tuổi mắt đen láy, tỏ ra vô cùng rụt rè khi mẹ kéo nó lại gần, bởi mấy đứa nhỏ nhà Moss rất kính sợ người bác bên Cối xay Dorlcote. Nó kém xa Maggie về sự nhiệt huyết và sức biểu cảm, đủ để sự giống nhau giữa hai đứa trở thành niềm ân sủng hoàn toàn làm thỏa lòng tình phụ tử của ông Tulliver.

“Ừ, chúng cũng có nét giống nhau,” ông nói, nhìn âu yếm vào hình bóng nhỏ bé trong chiếc tạp dề lem luốc. “Cả hai đứa đều mang nét của mẹ chúng ta. Cô đẻ lắm gái thế, Gritty,” ông nói thêm với giọng nửa thương hại, nửa trách móc.

“Bốn đứa liền, ơn trời!” bà Moss thở dài, tay vuốt mái tóc Lizzy sang hai bên trán; “đông bằng số con trai đấy chứ. Mỗi đứa đều có một thằng anh trai.”

“À, nhưng rồi chúng phải tự bươn chải lấy thân thôi,” ông Tulliver nói, cảm thấy sự cứng rắn của mình đang chùng xuống nên cố gồng lên bằng cách tung ra một lời nhắc nhở lành mạnh. “Chúng không thể trông chờ vào việc bám váy anh trai mình mãi được.”

“Dạ vâng; nhưng em mong mấy thằng anh sẽ yêu thương những đứa tội nghiệp ấy, và nhớ rằng chúng cùng một bố một mẹ sinh ra; mấy thằng nhỏ sẽ chẳng vì thế mà nghèo đi đâu ạ,” bà Moss bật thốt lên với vẻ rụt rè vội vã, tựa như ngọn lửa đang bị dập vùi một nửa.

Ông Tulliver khẽ vỗ vào mạn sườn con ngựa, rồi kìm nó lại, bực bội quát: “Đứng im xem nào!” khiến con vật vô tội được một phen ngỡ ngàng.

“Và càng đông anh em thì lại càng phải thương yêu nhau hơn,” bà Moss nói tiếp, hướng ánh mắt mang tính dạy dỗ về phía lũ trẻ. Nhưng rồi bà quay lại phía anh trai, nói thêm: “Không phải là em không mong con trai anh đối xử tử tế với em gái nó đâu, dù chúng chỉ có hai anh em, hệt như anh em mình vậy, anh hai ạ.”

Mũi tên cắm phập thẳng vào trái tim ông Tulliver. Ông không có trí tưởng tượng phong phú, nhưng hình ảnh Maggie rất gần gũi với ông, và chẳng mất nhiều thời gian để ông liên tưởng mối quan hệ giữa mình với cô em gái đặt cạnh mối quan hệ giữa Tom và Maggie. Liệu có bao giờ con bé nhỏ rơi vào cảnh khốn đốn, còn Tom thì lại tỏ ra khắc nghiệt với nó hay không?

“Ừ, ừ, Gritty,” bác thợ xay nói với giọng dịu dàng hơn hẳn; “nhưng anh vẫn luôn làm hết sức vì cô đấy chứ,” ông nói thêm, như thể để tự thanh minh trước một lời trách cứ.

“Em đâu có phủ nhận điều đó, anh hai, và em chẳng hề vô ơn,” bà Moss nói, đã kiệt sức vì công việc đồng áng và con cái nên chẳng còn chút tâm sức nào cho lòng tự ái. “Kia kìa, bố chúng nó về rồi đấy. Sao anh đi lâu thế, Moss!”

“Lâu gì mà lâu?” ông Moss thở hổn hển, vẻ mặt đầy oan ức. “Tôi chạy một mạch từ ngoài đồng về đấy chứ. Anh không xuống ngựa à, anh Tulliver?”

“Thôi được, tôi xuống đây, ra vườn nói chuyện với cậu một lát,” ông Tulliver nghĩ rằng mình sẽ dễ giữ vững tinh thần kiên quyết hơn nếu không có sự hiện diện của cô em gái.

Ông xuống ngựa, cùng ông Moss đi ra khu vườn hướng về phía một cái chòi cây thủy tùng cổ thụ, trong khi người em gái đứng vỗ về lưng đứa con út, ngước nhìn theo với ánh mắt đầy đờ đẫn tiếc nuối.

Sự xuất hiện của họ trong chòi cây thủy tùng đã làm hoảng sợ mấy con gà đang mải bới những cái hố sâu trên nền đất khô cằn, khiến chúng lập tức vỗ cánh bay tán loạn với tiếng kêu cục tác inh ỏi. Ông Tulliver ngồi xuống băng ghế, vừa dùng gậy gõ gõ tò mò xuống đất chỗ này chỗ nọ như thể nghi ngờ có hốc rỗng, vừa mở đầu câu chuyện bằng một giọng điệu hằn học:

“Này, tôi thấy cậu lại trồng lúa mì ở mảnh Corner Close đó chứ; mà chẳng thèm bón phân bón miếc gì cả. Năm nay cậu chẳng thu được gì từ mảnh đất đó đâu.”

Ông Moss, người từng được coi là tay chơi bảnh chọe nhất Basset khi kết hôn với cô tiểu thư Tulliver, giờ đây để râu ria lởm chởm gần tuần chưa cạo, mang cái vẻ chán nản, mất hết hy vọng của một con ngựa kéo cối xay. Ông đáp bằng giọng càu nhàu nhẫn nhịn: “Thì đấy, những người nông dân nghèo như tôi đành phải chịu tùy cơ ứng biến thôi; việc bỏ ra nửa số tiền vốn vào đất so với số thu về, đành phải để cho những kẻ lắm tiền rủng rỉnh người ta làm chứ.”

“Tôi chẳng biết trên đời này ai là kẻ lắm tiền rủng rỉnh để mà phung phí, nếu không phải là những kẻ dám đi vay tiền mà chẳng thèm trả lãi,” ông Tulliver nói, vốn đang muốn gây sự đôi chút; đó là cách mở lời tự nhiên và dễ dàng nhất để đòi lại tiền.

“Tôi biết mình đang nợ đọng tiền lãi,” ông Moss nói, “nhưng năm ngoái tôi xui xẻo với vụ lông cừu quá; lại thêm việc nhà tôi ốm đau nằm liệt giường, mọi chuyện cứ trắc trở hơn bình thường.”

“Ừ,” ông Tulliver hằn học, “có những kẻ mà mọi chuyện lúc nào cũng trắc trở; bao tải rỗng thì làm sao mà đứng thẳng lên được.”

“Thì, tôi chẳng biết anh còn bắt bẻ tôi chuyện gì nữa, anh Tulliver,” ông Moss phân bua với giọng van xin; “tôi dám chắc chẳng có gã thợ làm thuê nào làm việc vất vả hơn tôi đâu.”

“Thế thì được tích sự gì,” ông Tulliver gay gắt, “khi một người lấy vợ mà chẳng có nổi chút vốn liếng nào để canh tác ngoài cái phần hồi môn ít ỏi của vợ? Tôi đã phản đối từ đầu rồi; nhưng hai người có chịu nghe tôi đâu. Và tôi không thể cứ để tiền của mình đọng mãi ở chỗ các người được, vì tôi phải trả năm trăm bảng cho bà Glegg, rồi lại còn phải lo tiền ăn học cho thằng Tom nữa. Tôi sẽ bị thiếu hụt, ngay cả khi giả sử tôi đã thu hồi được toàn bộ số vốn của chính mình. Cậu phải lo xoay xở thế nào để trả lại tôi ba trăm bảng ấy đi.”

“Và nếu ý anh là thế,” ông Moss trố mắt nhìn ra khoảng không phía trước, “thì thà chúng tôi cứ để người ta tịch biên tài sản bán đấu giá đi cho rồi chuyện; tôi đành phải bán sạch từng con gia súc mình có để trả cho anh cả tiền nhà nữa vậy.”

Những người họ hàng nghèo đúng là vô cùng phiền toái — sự tồn tại của họ hoàn toàn chẳng nằm trong nhu cầu của chúng ta, và họ lại hầu như luôn là những con người đầy rẫy khuyết điểm. Ông Tulliver đã thành công trong việc chuốc lấy sự bực dọc đối với ông Moss đúng như mong muốn, và ông có thể cất lời giận dữ khi đứng dậy khỏi ghế:

“Thì tùy cậu xoay xở lấy. Tôi không thể lo tiền cho tất cả mọi người thiên hạ lẫn bản thân mình được. Tôi phải lo cho công việc làm ăn và gia đình tôi chứ. Tôi không thể chịu cảnh tiền mất tụt lại mãi thế này được. Cậu phải kiếm trả càng sớm càng tốt.”

Ông Tulliver bước phắt ra khỏi chòi cây ngay sau câu nói đó, chẳng thèm ngoảnh lại nhìn ông Moss, cứ thế đi thẳng ra cửa nhà bếp nơi đứa con trai cả đang giữ ngựa và người em gái đang đứng đợi trong trạng thái lo lắng ngỡ ngàng — dẫu sự lo lắng ấy vẫn được xoa dịu đôi chút bởi đứa út đang phát ra những tiếng ọ ẹ vui tai và bận rộn nghịch ngợm trên khuôn mặt tàn phai của mẹ. Bà Moss có tới tám đứa con, nhưng chưa bao giờ nguôi ngoai nỗi tiếc nuối vì cặp song sinh đã đoản mệnh. Ông Moss thì cho rằng việc chúng ra đi cũng có những điểm an ủi riêng của nó. “Anh không vào nhà uống chén nước à, anh hai?” bà vừa nói vừa lo lắng nhìn người chồng đang chậm rãi bước tới, trong khi chân ông Tulliver đã đặt lên bàn đạp yên ngựa.

“Thôi, thôi; chào cô nhé,” ông vừa nói vừa quay đầu ngựa cưỡi đi.

Chẳng ai có thể cảm thấy kiên quyết hơn cho đến khi ra khỏi cánh cổng sân và đi được một đoạn ngắn trên con đường mòn lằn bánh xe sâu hoắm; nhưng trước khi tới khúc cua tiếp theo — nơi sẽ che khuất tầm nhìn tới những dãy nhà trang trại xiêu vẹo — ông dường như bị đánh gục bởi một ý nghĩ bất chợt nào đó. Ông kìm ngựa lại, đứng yên một chỗ suốt hai, ba phút liền, trong khoảng thời gian ấy ông quay đầu qua lại với vẻ đầy u sầu, hệt như đang ngắm nghía một cảnh tượng đau lòng từ nhiều phía khác nhau. Rõ ràng, sau cơn quyết đoán chớp nhoáng, ông Tulliver lại đang chìm đắm trở lại vào cảm giác rằng thế giới này thật lắm điều khó hiểu. Ông quay đầu ngựa, chậm rãi cưỡi quay trở lại, thốt lên cao trào cảm xúc đã quyết định hành động này bằng cách vừa quất ngựa vừa lớn tiếng nói: “Con bé tội nghiệp! Chẳng có ai ngoài thằng Tom, có lẽ thế, khi tôi không còn nữa.”

Sự quay trở lại sân nhà của ông Tulliver đã lọt vào tầm mắt của mấy đứa nhỏ nhà Moss, chúng lập tức chạy ù vào báo tin sốt dẻo cho mẹ, khiến bà Moss lại có mặt ở bậc cửa ngay khi anh trai cưỡi ngựa tới. Bà đã khóc, nhưng lúc này đang ôm ru con bé út ngủ trên tay, và không hề bày tỏ nỗi buồn một cách lộ liễu khi anh trai nhìn mình, mà chỉ đơn giản nói:

“Bố chúng nó lại ra đồng rồi đấy, nếu anh cần tìm, anh hai ạ.”

“Không, Gritty, không,” ông Tulliver dịu giọng bảo. “Cô đừng buồn nữa — thế thôi — tôi sẽ xoay xở tạm bằng cách này hay cách khác mà không cần số tiền ấy, chỉ là cô phải khéo léo và tháo vát hết sức có thể nhé.”

Nước mắt bà Moss lại trào ra trước sự tử tế bất ngờ này, khiến bà chẳng thốt nên lời.

“Thôi nào, thôi nào! — con bé nhỏ sẽ đến thăm cô. Tôi sẽ đưa nó và thằng Tom sang chơi vào một ngày nào đó trước khi nó đi học. Cô đừng buồn phiền nữa. Tôi sẽ mãi là một người anh tốt của cô.”

“Cảm ơn anh vì câu nói đó,” bà Moss vừa nói vừa lau nước mắt; rồi quay sang Lizzy, bà bảo: “Con chạy đi lấy quả trứng nhuộm màu đem ra cho chị Maggie mau lên.” Lizzy chạy biến vào trong, rồi nhanh chóng xuất hiện trở lại với một gói giấy nhỏ.

“Trứng luộc chín kỹ đấy anh ạ, được nhuộm bằng chỉ thêu màu đẹp lắm; em làm riêng cho con bé Maggie đấy. Anh mang giùm vào túi áo nhé?”

“Ừ, ừ,” ông Tulliver nói, cẩn thận nhét nó vào túi áo bên. “Chào cô nhé.”

Và thế là người bác thợ xay đáng kính quay về dọc theo những con đường mòn Basset với tâm trạng còn bối rối hơn trước về chuyện xoay xở đường đi nước bước, nhưng dẫu sao vẫn mang trong lòng cảm giác vừa thoát được một hiểm họa. Ý nghĩ ấy đã lóe lên trong đầu ông rằng nếu ông đối xử khắc nghiệt với em gái mình, thì điều đó biết đâu sẽ khiến Tom đối xử khắc nghiệt với Maggie vào một ngày xa xôi nào đó, khi người cha không còn ở đó để bênh vực cho con bé; bởi những con người đơn giản như người bạn ông Tulliver của chúng ta rất hay đem những tình cảm không chút vết nhọ của mình khoác lên những ý nghĩ sai lầm, và đó chính là cách lý giải rắc rối của ông để tự nhủ rằng tình yêu thương và nỗi lo lắng dành cho “con bé nhỏ” đã ban cho ông một sự nhạy cảm hoàn toàn mới đối với cô em gái.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của George Eliot

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.