Bên Dòng Floss

Lượt đọc: 31 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Tom Áp Dụng Dao Hàu Của Mình

❊ ❊ ❊

Hôm sau, đúng mười giờ, Tom đang trên đường đến St Ogg’s để thăm người bác Deane — theo lời bà bác, ông đã về nhà từ tối hôm qua; và Tom đã đinh ninh rằng bác Deane chính là người thích hợp nhất để xin lời khuyên về việc tìm kiếm một công việc làm. Bác đang kinh doanh rất lớn; bác không có những quan niệm chật hẹp như bác Glegg; và bác đã vươn lên trong xã hội bằng những bước tiến hoàn toàn phù hợp với hoài bão của Tom.

Đó là một buổi sáng u ám, lạnh lẽo và mờ sương, có vẻ như sẽ kết thúc bằng những trận mưa — một trong những buổi sáng mà ngay cả những kẻ hạnh phúc cũng phải tìm sự che chở trong niềm hy vọng của mình. Còn Tom thì vô cùng bất hạnh; với sự nhạy cảm sắc bén của một bản tính kiêu hãnh, cậu cảm nhận rõ ràng nỗi nhục nhã cũng như những gian khổ trước mắt trong hoàn cảnh của mình; và đằng sau tinh thần tận tụy kiên quyết đối với cha, trong lòng cậu còn ẩn chứa một nỗi uất hận không thể kìm nén đối với ông — thứ đã biến bất hạnh thành một sự bất công càng khó lòng chịu đựng hơn. Vì đây là những hậu quả của việc dây dưa kiện tụng, cha cậu thực sự đáng trách, đúng như các bác trai và bác gái vẫn thường nói; và một dấu hiệu khá rõ ràng về tính cách của Tom là, mặc dù cậu cho rằng các bác gái nên làm gì đó nhiều hơn cho mẹ mình, cậu lại chẳng hề cảm thấy sự phẫn nộ dữ dội như Maggie đối với họ vì đã không tỏ ra ân cần và hào phóng thiết tha. Ở Tom không có những sự thúc đẩy khiến cậu trông đợi những thứ vốn không hiện diện như một quyền lợi đáng được đòi hỏi. Tại sao người ta lại phải rộng tay đem tiền của mình bố thí cho những kẻ không biết tự lo cho tiền bạc của chính họ sự chứ? Tom nhìn thấy một phần công lý trong sự nghiêm khắc; và lại càng thấy vậy hơn, bởi vì cậu có lòng tự tin rằng bản thân sẽ không bao giờ đáng phải chịu đựng sự nghiêm khắc công bằng ấy. Thật quá bất công cho cậu khi phải rơi vào hoàn cảnh bất lợi này trong đời chỉ vì sự thiếu thận trọng của cha; nhưng cậu không hề có ý định oán thán hay trách móc mọi thứ chỉ vì người ta không dọn sẵn mọi con đường cho cậu dễ đi. Cậu sẽ không xin ai giúp đỡ ngoài việc cho cậu công ăn việc làm và trả thù lao tương xứng. Tội nghiệp Tom, cậu vẫn nhen nhóm những niềm hy vọng để bấu víu vào giữa sự giam cầm ẩm ướt lạnh lẽo của màn sương mù tháng Mười Chạp — thứ dường như chỉ là một phần trong những rắc rối gia đình của cậu. Ở tuổi mười sáu, tâm trí dẫu có gắn bó sâu sắc nhất với thực tế đi chăng nữa thì cũng không thể tránh khỏi ảo tưởng và sự tự huyễn hoặc; và Tom, khi phác thảo tương lai của mình, chẳng có chiếc la bàn nào khác để sắp xếp các sự kiện ngoài những gợi ý từ chính lòng tự lập đầy can đảm của cậu. Cả ông Glegg và ông Deane, cậu đều biết, thuở trước từng rất nghèo; cậu không muốn tích cóp từng chút tiền rồi về hưu với một gia tài khiêm tốn như bác Glegg, mà cậu muốn được như bác Deane — kiếm một chân làm việc trong một hãng buôn lớn và phất lên thật nhanh. Giao du với bác Deane chẳng được mấy trong ba năm qua — hai gia đình ngày càng ít qua lại; nhưng chính vì lý do này mà Tom lại càng thêm phần hy vọng khi tính chuyện nhờ cậy ông. Cậu chắc mẩm rằng bác Glegg sẽ chẳng bao giờ ủng hộ bất kỳ dự án táo bạo nào, nhưng trong đầu cậu lại có một ấn tượng mơ hồ và đầy sức nặng về nguồn lực mà bác Deane đang nắm giữ. Từ lâu lắm rồi, cậu từng nghe cha kể về việc ông Deane đã trở nên quan trọng thế nào đối với hãng Guest & Co. đến mức họ sẵn sàng biếu không cho ông một phần cổ phần trong công việc kinh doanh; đó chính là điều mà Tom tự nhủ mình sẽ phải làm cho kỳ được. Thật không thể chịu đựng nổi khi nghĩ đến cảnh nghèo hèn và bị người đời khinh miệt suốt cả cuộc đời. Cậu sẽ lo cho mẹ và em gái, và khiến cho tất cả mọi người phải thừa nhận rằng cậu là một người có phẩm giá cao đẹp. Cậu cứ thế phóng vọt qua những năm tháng dài đằng đẵng, và trong sự vội vã của mục đích lớn cùng khát khao mãnh liệt, cậu đã không nhận ra rằng tương lai ấy vốn được bồi đắp từ những ngày, những giờ, và những phút trôi đi vô cùng chậm chạp.

Lúc đã băng qua cây cầu đá bắc qua con sông Floss và chuẩn bị bước vào St Ogg’s, Tom đang thầm nghĩ rằng khi nào giàu có, cậu sẽ mua lại nhà xưởng và đất đai của cha, rồi tu sửa lại ngôi nhà để đến đó sinh sống; cậu thích nơi này hơn bất kỳ chốn nào sang trọng hay mới mẻ hơn, và ở đó cậu thích nuôi bao nhiêu chó ngựa tùy ý.

Đang sải bước kiên quyết và nhanh nhẹn trên đường, đến đoạn này trong dòng suy tưởng, cậu bỗng giật mình vì có một kẻ đã băng qua mà cậu không để ý, và cất tiếng hỏi bằng một giọng sỗ sàng, quen thuộc:

“Ơ kìa, Cậu Tom, sáng nay cha cậu thế nào rồi?” Đó là một chủ quán rượu ở St Ogg’s, một trong những khách hàng của cha cậu.

Tom vốn chẳng thích bị bắt chuyện vào lúc này; nhưng cậu vẫn lịch sự đáp: “Ông ấy vẫn còn rất mệt, cảm ơn bác.”

“Ừ, đúng là một cú ngã đau đớn cho cậu em đấy nhỉ, khi cái vụ kiện ấy lại thua ngược thế này?” gã chủ quán rượu nói, với một ý nghĩ lờ mờ, nồng nặc mùi bia rằng mình đang tỏ ra tốt bụng.

Tom đỏ bừng mặt rồi bước tiếp; cậu sẽ vẫn cảm thấy đau đớn như thể có ai chạm vào một vết bầm trên cơ thể, ngay cả khi người ta nhắc đến hoàn cảnh của cậu bằng những lời lẽ lịch thiệp và tế nhị nhất.

“Đấy là con trai lão Tulliver đấy,” gã chủ quán rượu nói với một tay chủ tiệm tạp hóa đang đứng trên bậc cửa nhà bên cạnh.

“À!” gã chủ tiệm tạp hóa đáp, “Thảo nào tôi thấy quen mặt. Nó hưởng nét bên nhà ngoại; mẹ nó là người dòng họ Dodson. Trông nó là một thằng bé khôi ngô, thẳng thắn đấy chứ; thế nó được cho ăn học nghề ngỗng gì rồi?”

“Ồ! Học cái thói hếch mũi coi thường khách hàng của cha nó, rồi làm một tay công tử bột chứ báu gì, tôi nghĩ thế.”

Tom, từ giấc mộng về tương lai bừng tỉnh trở lại với thực tại phũ phàng, càng rảo bước nhanh hơn để đến các văn phòng nhà kho của hãng Guest & Co., nơi cậu hy vọng sẽ tìm gặp bác Deane. Nhưng một nhân viên đã bảo cậu rằng hôm nay là ca trực ngân hàng của ông Deane, với một chút vẻ khinh miệt sự thiếu hiểu biết của cậu; không thể tìm thấy ông Deane ở phố River vào một buổi sáng thứ Năm được.

Tại ngân hàng, Tom được cho phép vào phòng riêng của bác ngay sau khi gửi danh thiếp. Ông Deane đang kiểm tra sổ sách; nhưng ông ngẩng đầu lên khi Tom bước vào, chìa tay ra và nói: “Nào, Tom, nhà cửa không có chuyện gì mới đấy chứ, tôi hy vọng thế? Cha cháu thế nào rồi?”

“Vẫn thế thôi ạ, thưa bác, cảm ơn bác,” Tom nói, cảm thấy bắt đầu thấy lúng túng. “Nhưng cháu muốn thưa với bác một chuyện, phiền bác dành cho cháu ít phút lúc bác thảnh thơi.”

“Ngồi xuống đi, ngồi xuống đi,” ông Deane nói, rồi lại cắm cúi vào đống sổ sách, nơi ông và viên trưởng phòng kế toán cứ cặm cụi làm việc suốt nửa tiếng đồng hồ tiếp theo khiến Tom bắt đầu tự hỏi liệu mình có phải ngồi thế này cho đến khi ngân hàng đóng cửa hay không — dường như chẳng có chút dấu hiệu nào cho thấy thủ tục đều đặn, lặng lẽ và đầy vẻ viên mãn của những con người làm ăn phát đạt này sắp đi đến hồi kết. Liệu bác cậu có cho cậu một chân làm việc trong ngân hàng không nhỉ? Cậu nghĩ đó sẽ là một công việc thật tẻ nhạt và khô khan, cứ ngồi viết lách mãi ở đây bên tiếng đồng hồ tích tắc inh ỏi. Cậu thích những cách làm giàu khác hơn. Nhưng cuối cùng thì sự chờ đợi cũng chấm dứt; bác cậu cầm lấy cây bút và ký một nét uốn lượn điệu nghệ ở cuối trang.

“Cậu ghé qua chỗ Torry một lát nhé, anh Spence?” ông Deane nói, và tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ bỗng trở nên bớt inh ỏi và chậm chạp hơn trong tai Tom.

“Nào, Tom,” ông Deane nói khi hai chú cháu chỉ còn lại một mình, xoay người một chút trên ghế và rút hộp đựng thuốc hít ra; “chuyện gì thế cháu trai, có chuyện gì thế?” Ông Deane, người đã nghe vợ kể lại mọi chuyện diễn ra ngày hôm qua, đinh ninh rằng Tom đến để cầu cứu ông tìm cách xoay sở tiền bạc nhằm ngăn chặn vụ đấu giá sắp tới.

“Cháu hy vọng bác thông cảm vì đã làm phiền bác,” Tom nói, mặt đỏ bừng nhưng cất giọng tuy có hơi run rẩy nhưng vẫn mang theo một vẻ tự lập đầy kiêu hãnh; “nhưng cháu nghĩ bác là người thích hợp nhất để tư vấn cho cháu phải làm gì.”

“À!” ông Deane nói, dừng lại chưa nhón một nhúm thuốc hít và nhìn Tom với một sự chú ý mới mẻ, “hãy nghe cháu nói xem nào.”

“Cháu muốn kiếm một công việc, thưa bác, để có thể tự kiếm ra tiền,” Tom vốn chẳng bao giờ thích vòng vo tam quốc.

“Kiếm việc làm á?” ông Deane nói, rồi mới thong thả nhón một nhúm thuốc hít với sự chăm chút tỉ mỉ cho từng bên lỗ mũi. Tom thấy cái thói quen hít thuốc này thật là chướng mắt hết sức.

“Nào, để xem nào, cháu bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?” ông Deane nói khi ngả người ra sau ghế.

“Mười sáu; ý cháu là, cháu chuẩn bị sang tuổi mười bảy,” Tom đáp, thầm hy vọng bác mình có để ý đến chòm râu đangú nhú trên cằm cậu.

“Để xem nào; cha cháu hình như có ý định cho cháu theo học ngành kỹ sư phải không nhỉ?”

“Nhưng cháu không nghĩ là mình có thể kiếm được chút tiền nào từ nghề đó trong một thời gian dài, phải không bác?”

“Đúng thế thật; nhưng ngẫm lại thì người ta chẳng kiếm được nhiều tiền từ bất cứ việc gì đâu cháu trai ạ, nhất là khi mới ở tuổi mười sáu. Dù sao thì cháu cũng đã được ăn học đàng hoàng; bác đoán là cháu khá sõi về số học chứ, hử? Cháu có hiểu biết về sổ sách kế toán chứ?”

“Dạ không,” Tom đáp, có phần ấp úng. “Cháu từng học qua phần Thực hành. Nhưng thầy Stelling bảo chữ viết của cháu rất đẹp, thưa bác. Đấy là chữ viết của cháu đây ạ,” Tom nói thêm, đặt lên bàn một bản sao danh sách mà cậu đã chép lại vào ngày hôm qua.

“À! Thế thì tốt, thế thì tốt. Nhưng cháu thấy đấy, chữ có đẹp nhất trần đời đi nữa thì cũng chẳng tài nào kiếm nổi cho cháu một vị trí nào khá khẩm hơn chân nhân viên chép thuê, nếu như cháu chẳng biết tí gì về sổ sách kế toán — chẳng biết gì về tính toán cả. Mà một chân chép thuê thì rẻ mạt lắm. Thế rốt cuộc ở trường cháu đã học những gì?”

Ông Deane chưa từng bận tâm đến các phương pháp giáo dục, và cũng chẳng có khái niệm cụ thể nào về những gì diễn ra trong các ngôi trường đắt đỏ.

“Chúng cháu học tiếng La-tinh,” Tom nói, dừng lại một nhịp giữa mỗi môn học, cứ như thể cậu đang lật giở từng cuốn sách trong ngăn bàn học để đánh thức trí nhớ của mình — “học rất nhiều tiếng La-tinh; và năm ngoái cháu làm bài luận, một tuần bằng tiếng La-tinh và một tuần bằng tiếng Anh; rồi lịch sử Hy Lạp và La Mã; hình học Euclid; và cháu có bắt đầu học Đại số, nhưng rồi lại bỏ dở; ngoài ra mỗi tuần chúng cháu có một buổi học Số học. Thêm nữa, cháu thường có các giờ học vẽ; và còn mấy cuốn sách khác tụi cháu đọc hoặc học theo — thơ ca tiếng Anh, cuốn *Horæ Paulinæ*, và nửa cuối cuốn *Blair’s Rhetoric*.”

Ông Deane lại gõ gõ hộp thuốc hít và mím chặt môi; ông rơi vào hoàn cảnh của rất nhiều người đáng kính khi họ đọc bản Biểu thuế Mới và phát hiện ra có biết bao nhiêu mặt hàng được nhập khẩu mà họ hoàn toàn mù tịt; giống như một con người làm ăn cẩn trọng, ông không đời nào chịu phát biểu liều lĩnh về một thứ nguyên liệu thô mà mình chưa từng có chút kinh nghiệm nào. Nhưng theo lẽ thường, nếu nó thực sự có tích sự gì, thì một người thành đạt như ông chắc chắn đã không thể không biết đến nó.

Riêng về tiếng La-tinh thì ông có một quan điểm riêng, rằng trong trường hợp xảy ra một cuộc chiến tranh khác, vì người ta sẽ chẳng còn dùng phấn thơm bôi tóc nữa, nên đánh thuế vào tiếng La-tinh là một ý hay, bởi đó là một thứ xa xỉ rất được giới thượng lưu ưa chuộng mà chẳng ảnh hưởng gì đến ngành tàu bè hàng hải cả. Còn theo những gì ông biết, cuốn *Horæ Paulinæ* kia có lẽ cũng chẳng trung lập hơn là mấy. Nói chung, cái danh sách các môn học này khiến ông có chút cảm giác bài xích đối với tội nghiệp cậu Tom.

“Ừ thì,” cuối cùng ông lên tiếng, với giọng điệu lạnh lùng và mỉa mai, “cháu đã dành ba năm trời để học những thứ ấy — chắc hẳn cháu phải nắm rất vững chúng rồi chứ nhỉ. Sao cháu không chọn một ngành nghề nào mà mấy thứ đó có đất dụng võ đi?”

Tom đỏ bừng mặt, bùng nổ với một nguồn năng lượng mới:

“Cháu không thích làm bất kỳ công việc kiểu đó đâu, thưa bác. Cháu không thích tiếng La-tinh và những thứ tương tự. Cháu chẳng biết mình có thể làm gì với chúng ngoài việc đi làm trợ giảng trong một ngôi trường; mà cháu thì đâu đủ giỏi để làm việc đó! Hơn nữa, thà đi khiêng hai cái bồ hai bên còn hơn. Cháu không muốn trở thành loại người như thế. Cháu muốn bước chân vào một lĩnh vực kinh doanh nào mà cháu có thể thăng tiến — một công việc đích thực của đàn ông, nơi cháu phải tự tay lo liệu mọi thứ và gặt hái thành quả xứng đáng với công sức mình bỏ ra. Hơn nữa, cháu còn phải phụng dưỡng mẹ và em gái nữa.”

“À, cậu thanh niên,” ông Deane nói, với cái thói quen dập tắt những hoài bão tuổi trẻ mà những người đàn ông vạm vỡ, thành đạt ở tuổi năm mươi vẫn thường coi là một trong những nhiệm vụ dễ dàng nhất của họ, “nói thì dễ hơn làm — nói thì dễ hơn làm nhiều.”

“Nhưng chẳng phải bác cũng từng vươn lên bằng con đường đó sao, thưa bác?” Tom nói, có chút bực bội vì ông Deane không chịu nhanh chóng đi vào trọng tâm những suy nghĩ của cậu. “Ý cháu là, chẳng phải bác đã bước lên từng nấc thang nhờ vào năng lực và hạnh kiểm tốt của mình sao?”

“Đúng thế, đúng thế chứ, cậu bạn trẻ,” ông Deane nói, ngả người ra ghế một cách thoải mái và rất sẵn lòng hoài niệm về con đường sự nghiệp của chính mình. “Nhưng để tôi nói cho cháu nghe tôi đã vươn lên thế nào. Không phải bằng cách cưỡi lên một cây gậy rồi ảo tưởng nó sẽ biến thành ngựa nếu ta cứ ngồi lên đó đủ lâu đâu. Tôi luôn mở to mắt vành tai ra, cậu bạn trẻ ạ, tôi chẳng bao giờ sợ nhọc nhằn, và tôi luôn đặt lợi ích của chủ lên trên hết. Chỉ bằng cách quan sát những gì diễn ra trong nhà máy xay, tôi đã phát hiện ra lỗ hổng làm thất thoát tới năm trăm bảng một năm mà lẽ ra có thể ngăn chặn được. Này cậu bạn, học vấn lúc khởi nghiệp của tôi chẳng thấm vào đâu so với một đứa trẻ được trợ cấp từ thiện; nhưng tôi sớm nhận ra rằng mình không thể tiến xa nếu không nắm vững sổ sách kế toán, và tôi đã tự học chúng trong những giờ nghỉ giữa các ca làm việc, sau khi đã phụ vác hàng xong xuôi. Nhìn đây.” Ông Deane mở một cuốn sổ ra và chỉ tay vào trang giấy. “Chữ viết của tôi đủ dùng, và tôi thách bất cứ ai đọ lại khả năng tính nhẩm đủ mọi loại của tôi đấy; tất cả đều đổi bằng mồ hôi nước mắt và tiền tự kiếm ra — thường xuyên phải bớt xén cả tiền cơm tối và cơm khuya của chính mình. Tôi đã tìm hiểu bản chất của mọi công việc trong cơ ngơi đó, vừa làm vừa nhặt nhạnh kiến thức rồi ngẫm nghĩ trong đầu. Tôi chẳng phải là thợ máy — chưa từng nhận mình là thợ máy — nhưng tôi đã nghĩ ra vài điều mà đám thợ máy chẳng đời nào ngờ tới, và điều đó đã tạo nên một sự khác biệt lớn lao cho doanh thu của chúng ta. Chẳng có một mặt hàng nào được đưa lên hay dỡ xuống ở bến tàu của hãng mà tôi lại không rõ chất lượng của nó. Nếu tôi có được những vị trí tốt, cậu bạn ạ, ấy là vì tôi tự làm cho mình xứng đáng với chúng. Nếu cậu muốn chui vừa một cái lỗ tròn, cậu phải tự nhào nặn mình thành một khối tròn vo; mọi chuyện là thế đấy.”

Ông Deane lại gõ hộp thuốc hít. Bị cuốn theo sự nhiệt huyết thuần túy dành cho chủ đề yêu thích, ông thực sự đã quên mất buổi hoài niệm này có liên quan gì đến người đang ngồi nghe mình. Ông đã từng có dịp nói đi nói lại điều này không chỉ một lần, và hoàn toàn không nhớ rõ là trước mặt mình lúc này không có ly rượu vang đỏ quen thuộc.

“Thưa bác,” Tom nói với một chút hờn dỗi trong giọng điệu, “đấy chính là điều cháu muốn làm. Chẳng lẽ cháu không thể phất lên theo cách tương tự hay sao?”

“Theo cách tương tự ư?” ông Deane vừa nói vừa ném cái nhìn điềm tĩnh, dò xét về phía Tom. “Còn phải xét đến hai ba điều nữa cơ, cậu Tom ạ. Điều đó trước hết phụ thuộc vào việc cháu là loại bột gì, và liệu cháu đã được ném vào đúng cái cối xay hay chưa. Nhưng để tôi nói cho cháu nghe thế này. Người cha đáng thương của cháu đã đi sai đường khi cho cháu ăn học như thế. Đó không phải việc của tôi nên tôi đã không nhúng tay vào; nhưng sự đời lại đúng như những gì tôi đã dự đoán. Cháu đã được thụ hưởng một thứ chữ nghĩa rất phù hợp với một công tử bột như cậu Stephen Guest nhà chúng ta — kẻ chẳng có việc gì làm ngoài việc đặt bút ký chi phiếu suốt đời, và nhét đầy đầu thứ tiếng La-tinh hay bất kỳ thứ rác rưởi nào khác cũng chẳng sao.”

“Nhưng thưa bác,” Tom quả quyết nói, “cháu không thấy tiếng La-tinh lại có thể cản trở việc làm ăn của cháu. Cháu sẽ sớm quên bén nó đi thôi; nó chẳng ảnh hưởng gì đến cháu cả. Cháu bắt buộc phải làm bài tập ở trường đấy chứ, nhưng cháu luôn đinh ninh rằng sau này chúng chẳng bao giờ có tích sự gì cho mình; cháu chẳng mảy may bận tâm đến chúng.”

“Ừ thì, thế thì hay đấy,” ông Deane nói; “nhưng điều đó chẳng thay đổi được những gì tôi sắp nói. Tiếng La-tinh và mấy thứ nhảm nhí của cháu có thể bay sạch khỏi đầu rất nhanh, nhưng sau khi gột sạch nó đi thì cháu cũng chỉ là một cành cây khô khốc mà thôi. Hơn nữa, nó đã làm cho đôi tay cháu non mềm đi và tước đi ở cháu sự dẻo dai của lao động chân tay. Thế rốt cuộc cháu biết cái gì? Này nhé, ngay từ bước đầu tiên cháu đã mù tịt về sổ sách kế toán, và khả năng tính toán thì chẳng bằng một tay bán hàng tầm thường. Tôi nói cho cháu hay, nếu cháu muốn ngoi lên trong cuộc đời này, cháu sẽ phải bắt đầu từ cái nấc thang thấp nhất đấy. Chẳng ích gì khi cứ vứt bỏ cái học vấn mà cha cháu đã phải è cổ trả tiền, nếu như cháu không tự trang bị cho mình một cái vốn kiến thức hoàn toàn mới.”

Tom mím chặt đôi môi; cậu cảm thấy nước mắt chực trào ra, và thà chết chứ cậu không đời nào để chúng rơi xuống.

“Cháu muốn tôi giúp tìm cho một công việc,” ông Deane nói tiếp; “được rồi, tôi không chê trách gì điều đó. Tôi sẵn sàng giúp đỡ cháu một tay. Nhưng bọn trẻ các cháu thời nay cứ nghĩ rằng mình vừa bước chân vào đời đã được sống sung sướng và làm việc nhàn hạ; các cháu chẳng có nổi khái niệm phải tập bò trước khi tập đi ngựa đâu. Này, cháu phải nhớ mình là ai chứ — một thằng nhóc mười sáu tuổi, chẳng được huấn luyện thành thạo một nghề ngỗng cụ thể nào. Có hằng hà sa số những kẻ như cháu, giống như những viên sỏi chẳng vừa vặn với cái hốc nào trên đời cả. Ờ thì, cháu có thể đi học nghề buôn bán — có lẽ là làm học việc cho tiệm thuốc tây; tiếng La-tinh của cháu có lẽ sẽ có đất dụng võ chút ít ở đó——”

Tom định lên tiếng, nhưng ông Deane giơ tay ra hiệu và bảo:

“Khoan đã! Hãy nghe tôi nói hết đã. Cháu không muốn làm thợ học việc — tôi biết, tôi biết — cháu muốn phất lên thật nhanh, và không muốn phải đứng sau quầy hàng. Nhưng nếu là một nhân viên chép thuê, cháu sẽ phải cắm mặt sau cái bàn giấy, dán mắt vào đống mực và giấy suốt cả ngày; chẳng có mấy tương lai xán lạn ở đó đâu, và đến cuối năm thì cái đầu của cháu cũng chẳng khôn ra được tí nào so với lúc khởi đầu. Thế giới này không được tạo nên từ bút, mực và giấy, và nếu muốn ngóc đầu lên ở cái xứ này, cậu bạn trẻ ạ, cháu phải biết thế giới này được nhào nặn từ cái gì. Giờ thì cơ hội tốt nhất cho cháu là kiếm một chân làm việc ở bến tàu hay trong nhà kho, nơi cháu sẽ được hít hà mùi mồ hôi của hàng hóa, nhưng chắc chắn là cháu chẳng thích thế đâu; cháu sẽ phải chịu đựng cảnh lạnh lẽo ẩm ướt, và bị đám cửu vạn thô lỗ va quẹt xô đẩy. Cậu quý tử đây quá kiêu kỳ để làm mấy việc đó cơ mà.”

Ông Deane dừng lại và nhìn chằm chằm vào Tom — kẻ chắc chắn đang phải trải qua một cuộc giằng xé nội tâm dữ dội trước khi có thể cất lời.

“Cháu thà làm những gì tốt nhất cho tương lai của mình về lâu về dài, thưa bác; cháu sẵn sàng chịu đựng những điều khó chịu.”

“Thế thì tốt, nếu cháu làm được như lời nói. Nhưng phải nhớ rằng không chỉ là chộp lấy một sợi dây, cháu còn phải tiếp tục kéo nữa cơ. Sai lầm của đám thanh niên các cháu — những kẻ trong đầu lẫn trong túi đều trống rỗng — là cứ nghĩ mình sẽ có một khởi đầu ngon nghẻ hơn nếu nhét bản thân vào một nơi có thể giữ cho chiếc áo khoác luôn sạch sẽ, và được mấy cô bán hàng ngước nhìn như những vị công tử bột. Hồi mười sáu tuổi, tôi không khởi đầu như thế đâu cậu bạn trẻ ạ; chiếc áo khoác của tôi khi ấy nồng nặc mùi hắc ín, và tôi chẳng hề ngần ngại khi phải bốc từng khối phô mai. Đó là lý do vì sao giờ đây tôi có thể mặc những bộ vảiạ dày dặn đắt tiền, và ngồi chung mâm với những người đứng đầu các hãng buôn lớn nhất ở St Ogg’s.”

Bác Deane lại gõ hộp thuốc hít, và dường như ngực áo cùng chiếc dây chuyền vàng của ông phình ra thêm một chút khi ông ưỡn ngực thẳng vai trên chiếc ghế tựa.

“Bác có biết chỗ nào đang trống mà cháu có thể làm được không ạ? Cháu muốn được bắt tay vào việc ngay lập tức,” Tom nói, giọng run run đầy vẻ nài nỉ.

“Từ từ đã, từ từ đã; chúng ta không việc gì phải vội vàng. Cháu phải nhớ rằng, nếu tôi nhét cháu vào một vị trí mà cháu còn hơi non tay, chỉ vì cháu là cháu ruột của tôi, thì tôi sẽ phải chịu trách nhiệm về cháu đấy. Hơn nữa, chẳng có lý do gì chính đáng hơn việc cháu là cháu ruột tôi cả; bởi vì năng lực thực sự của cháu đến đâu thì vẫn còn phải chờ xem đã.”

“Cháu hy vọng sẽ không bao giờ làm bác phải mất mặt, thưa bác,” Tom nói, tổn thương sâu sắc như bất kỳ thiếu niên nào khi phải đối mặt với một sự thật phũ phàng rằng người ta chẳng có lý do gì để tin tưởng mình cả. “Cháu coi trọng uy tín của bản thân lắm chứ.”

“Làm tốt lắm, Tom, làm tốt lắm! Thế mới là tinh thần đúng đắn chứ, và tôi chẳng bao giờ từ chối giúp đỡ ai nếu họ có ý chí tự khẳng định mình. Đằng kia có một thanh niên hai mươi hai tuổi mà tôi đang để mắt tới. Tôi sẽ làm hết sức mình vì cậu thanh niên ấy; cậu ta là kẻ có chí khí. Nhưng cháu thấy đấy, người ta biết tận dụng thời gian — một bộ óc tính toán siêu đẳng — có thể nhẩm ra thể tích khối của bất cứ vật gì trong tích tắc, và hôm nọ còn mách cho tôi một thị trường mới bán vỏ cây chiết xuất ở Thụy Điển; cậu thanh niên đó cực kỳ sành sỏi về các mặt hàng sản xuất.”

“Chắc cháu phải bắt tay vào học sổ sách kế toán ngay thôi, phải không bác?” Tom nói, tỏ rõ sự sốt sắng muốn được vươn lên.

“Đúng thế, đúng thế, học cái đó thì chẳng bao giờ thiệt đi đâu được. Mà — Ơ kìa anh Spence, anh đã về rồi đấy à. Thôi Tom, tạm thời cứ thế đã nhé, tôi lại phải quay lại với công việc đây. Chào cháu. Gửi lời thăm hỏi của tôi tới mẹ cháu nhé.”

Ông Deane chìa tay ra với vẻ tiễn khách đầy thân thiện, và Tom đã không đủ dũng khí để hỏi thêm câu nào nữa, nhất là khi có sự hiện diện của ông Spence. Thế là cậu lại thẫn thờ bước ra cái không khí lạnh lẽo ẩm ướt bên ngoài. Cậu còn phải ghé qua nhà bác Glegg để hỏi về khoản tiền trong Quỹ Tiết kiệm, và lúc cậu cất bước trở lại thì sương mù đã dày đặc hơn trước, tầm nhìn bị hạn chế đi rất nhiều; nhưng khi đi qua phố River một lần nữa, cậu lại giật mình thon thót khi chỉ còn cách phần kính trưng bày lồi ra của một cửa tiệm chừng hai bước chân, đập vào mắt là dòng chữ “Đất đai và Nhà máy xay Dorlcote” in hoa to đùng trên một tờ áp-phích dán hớ hênh như thể chọc tức cậu. Đó chính là bản cáo thị về phiên đấu giá sẽ diễn ra vào tuần tới; nó chính là lý do thôi thúc cậu phải cắm cổ rời khỏi thị trấn này thật nhanh.

Tội nghiệp Tom, cậu chẳng vẽ ra viễn cảnh nào về một tương lai xa xôi khi lủi thủi tìm đường về nhà; cậu chỉ cảm thấy thực tại sao mà khắc nghiệt đến thế. Cậu thấy đó là một sự bất công khi bác Deane chẳng mảy nào tin tưởng mình — không nhận ra ngay rằng cậu sẽ hoàn thành xuất sắc mọi việc, điều mà bản thân Tom chắc chắn hệt như sự tồn tại của ánh ban mai. Dường như cậu, Tom Tulliver, sắp bị coi là một kẻ tiểu tiểu tốt trong cõi đời này; và lần đầu tiên, cậu cảm thấy lòng mình chùng xuống trước nhận thức phũ phàng rằng bản thân quả thật rất dốt nát và chẳng làm được tích sự gì nên hồn. Kẻ thanh niên đáng ghen tị có thể tính nhẩm thể tích khối của mọi thứ trong nháy mắt và hiến kế về vỏ cây Thụy Điển ấy là ai cơ chứ? Tom vốn quen với việc tự mãn tột độ về bản thân, dẫu cho có vấp ngã khi trình bày bài học hay dịch cụm từ *nunc illas promite vires* thành “giờ hãy hứa với những người đàn ông đó”; nhưng giờ đây, cậu bỗng cảm thấy mình bị lép vế chỉ vì biết ít hơn kẻ khác. Chắc chắn phải có cả một thế giới những điều kỳ diệu gắn liền với thứ vỏ cây Thụy Điển kia, mà nếu biết được chúng, có chừng ấy thứ đã giúp cậu phất lên rồi. Cưỡi trên lưng một con ngựa phi nước đại với chiếc yên ngựa mới tinh rõ ràng là dễ làm oai hơn biết bao nhiêu.

Hai tiếng trước, khi đang rảo bước đến St Ogg’s, Tom nhìn thấy tương lai ở phía trước hệt như một dải bãi cát mịn màng đầy cám dỗ hiện ra sau một vành đai sỏi đá lổn nhổn; lúc ấy cậu đang đứng trên bờ cỏ và tưởng rằng đám đá sỏi kia sẽ sớm được vượt qua. Nhưng giờ đây đôi chân cậu đang giẫm lên những hòn đá sắc nhọn; vành đai sỏi đá ấy đã nhân lên rộng ngút ngàn, trong khi dải bãi cát mịn màng kia thì đã bị thu hẹp lại đến mức chẳng còn lấy một chỗ dung thân.

“Bác Deane nói gì thế hả Tom?” Maggie vừa hỏi vừa luồn tay qua cánh tay Tom khi cậu đang ủ rũ sưởi ấm bên bếp lửa nhà bếp. “Bác ấy bảo sẽ cho anh một công việc chứ?”

“Không, bác ấy không nói thế. Bác ấy chẳng hứa hẹn gì với anh cả; hình như bác ấy nghĩ anh chẳng thể kiếm được một chân nào ra hồn. Rằng anh còn quá trẻ.”

“Nhưng bác ấy không nói những lời tử tế với anh sao, Tom?”

“Tử tế á? Chà! Nói mấy chuyện đó để làm gì chứ? Anh thèm vào cái sự tử tế bằng lời nói ấy nếu như anh không kiếm nổi một việc làm. Nhưng đúng là phiền phức và rắc rối hết chỗ nói; anh đã cắm cổ ở trường ngần ấy năm trời để học tiếng La-tinh với mấy thứ vớ vẩn — chẳng được cái tích sự gì sất — thế mà giờ đây bác lại bảo anh phải cắm đầu đi học sổ sách kế toán và tính toán các kiểu. Bác ấy cứ làm như anh là một kẻ vô tích sự không bằng.”

Cơ miệng Tom giật giật với một nét mặt cay đắng khi đăm đăm nhìn vào đống lửa.

“Ôi, sao chúng ta lại không có lấy một thầy Dominie Sampson cơ chứ!” Maggie thốt lên, không kìm được việc pha chút vui vẻ vào nỗi buồn chung. “Nếu thầy ấy dạy em kế toán theo phương pháp ghi sổ kép của người Ý, giống như đã dạy Lucy Bertram ấy, thì em có thể dạy lại cho anh, Tom.”

“Em dạy á? Ừ, anh dám cá lắm. Lúc nào em cũng mở miệng ra với cái giọng điệu ấy,” Tom làu bàu.

“Tom yêu quý, em chỉ đùa thôi mà,” Maggie nói, áp má vào tay áo khoác của anh.

“Nhưng lúc nào cũng thế cả thôi, Maggie,” Tom nói, nhíu đôi mày quen thuộc mỗi khi cậu chuẩn bị tỏ ra nghiêm khắc một cách chính đáng. “Lúc nào em cũng tự cao tự đại, coi mình hơn anh và tất cả mọi người, và anh đã muốn nói cho em biết điều này từ lâu rồi. Em không nên ăn nói kiểu đó với các bác; em phải để anh lo cho mẹ và em chứ không phải lúc nào cũng chõ mõm vào tranh phần. Em tưởng mình biết tuốt mọi thứ hơn người khác, nhưng hầu như lúc nào em cũng sai bét nhè. Anh có khả năng phán đoán tốt hơn em nhiều.”

Tội nghiệp Tom! Cậu vừa mới trải qua một tràng lên lớp và bị làm cho bẽ bàng vì nhận thức được sự kém cỏi của mình; phản ứng tự vệ của bản thể kiêu hãnh và mạnh mẽ ấy thể nào cũng phải tìm cách trút bỏ ra ngoài; và đây chính là một tình huống mà cậu có thể hiên ngang tỏ ra áp đảo một cách đường đường chính chính. Má Maggie bừng đỏ và đôi môi run rẩy vì sự phẫn uất lẫn lộn với tình thương yêu, cùng một chút kính cẩn pha lẫn ngưỡng mộ trước bản tính kiên quyết và đầy uy lực của Tom. Cô không đáp lại ngay; những lời nói giận dữ chực trào lên tận khóe môi, nhưng rồi chúng lại bị nuốt ngược vào trong, và cuối cùng cô thốt lên:

“Anh cứ hay nghĩ em là kẻ kiêu căng, Tom, trong khi sự thật là em chẳng hề có ý đó chút nào. Em không có ý định trèo lên đầu lên cổ anh; em thừa nhận hôm qua anh đã cư xử đúng đắn hơn em. Nhưng sao lúc nào anh cũng cay nghiệt với em thế, Tom?”

Đến câu cuối cùng thì sự giận dỗi lại bắt đầu trỗi dậy.

“Không, anh chẳng hề cay nghiệt chút nào,” Tom kiên quyết đáp với giọng điệu nghiêm khắc. “Lúc nào anh cũng đối xử tử tế với em, và sau này cũng vậy; anh sẽ luôn là người bảo bọc cho em. Nhưng em phải nhớ vâng lời anh nói.”

Mẹ bọn trẻ vừa lúc đó bước vào, và Maggie vội vã chạy biến đi, để những giọt nước mắt đang chực trào — mà cô biết chắc mình không thể kìm nén thêm được nữa — sẽ chỉ rơi xuống khi cô đã an toàn ở trên gác. Đó là những giọt nước mắt vô cùng đắng ngắt; dường như mọi người trên thế giới này đều quá đỗi nhẫn tâm và lạnh lùng với Maggie; chẳng hề có chút khoan dung, chẳng hề có sự trìu mến nào như những gì cô từng tưởng tượng ra khi tự tay vẽ nên một thế giới mới trong tâm trí mình. Trong sách vở, người ta luôn bắt gặp những con người dễ mến, dịu dàng, luôn cảm thấy sung sướng khi được làm những điều mang lại hạnh phúc cho kẻ khác, và họ chẳng bao giờ thể hiện lòng tốt của mình bằng cách bới lông tìm vết. Thế giới bên ngoài những trang sách ấy không hề là một nơi hạnh phúc, Maggie cảm nhận rõ điều đó; đó dường như là một nơi mà con người ta chỉ biết cư xử tử tế nhất với những kẻ mà họ chẳng mảy may yêu thương hay dính líu gì đến máu huyết của mình. Và nếu cuộc đời này hoàn toàn vắng bóng tình yêu, thì Maggie còn lại gì nữa chứ? Chẳng có gì ngoài cảnh nghèo khó và sự đồng hành cùng nỗi buồn tủi quạnh hiu của mẹ, và có lẽ là cả sự phụ thuộc ngây thơ đến xé lòng của người cha tội nghiệp. Chẳng có sự tuyệt vọng nào não nề cho bằng nỗi tuyệt vọng của tuổi trẻ mới lớn, khi tâm hồn ngập tràn những khát khao thiếu thốn, chưa hề có những ký ức dài dằng dặc, chưa hề có một phần đời chồng lấp trong cuộc đời của những kẻ khác; mặc dù chúng ta — những kẻ đứng ngoài cuộc quan sát — thường xem nhẹ nỗi tuyệt vọng sớm màng ấy, cứ ngỡ rằng tầm nhìn về tương lai của chúng ta có thể soi rọi vào hiện tại của kẻ đang quằn quại trong mù lòa.

Maggie, trong bộ váy nâu sờn, với đôi mắt sưng húp vì khóc và mái tóc dày hất ngược ra sau, đang đưa mắt nhìn từ chiếc giường nơi cha cô đang nằm sang những bức tường xám xịt buồn tẻ của căn phòng u ám vốn là trung tâm thế giới của cô — một sinh linh tràn trề những khao khát cuồng nhiệt, thiết tha hướng về mọi thứ đẹp đẽ và hân hoan; khát khao tột cùng đối với mọi tri thức; với đôi tai luôn cố rướn theo những giai điệu mơ màng cứ vụt tắt và mãi chẳng chịu đến gần cô; với một nỗi khắc khoải mù lòa, vô thức về một điều gì đó có thể kết nối những ấn tượng diệu kỳ của cuộc đời đầy bí ẩn này lại với nhau, và mang lại cho tâm hồn cô một cảm giác thân thuộc như được trở về chốn bình yên.

Chẳng có gì là lạ, khi tồn tại sự tương phản tột cùng giữa thế giới nội tâm và ngoại cảnh ấy, những va đập đau đớn cứ thế sinh ra.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của George Eliot

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.