Bên Dòng Floss

Lượt đọc: 31 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Hội Đồng Gia Đình

❊ ❊ ❊

Vào lúc mười một giờ sáng hôm sau, các dì và các cậu tụ họp lại để mở cuộc họp bàn. Lò sưởi đã được đốt trong căn phòng khách lớn, còn tội nghiệp bà Tulliver, với một cảm giác mơ hồ rằng đây là một sự kiện trọng đại chẳng khác gì đám tang, liền tháo những chiếc tua rua ở dây chuông ra, tháo ghim rèm cửa rồi chỉnh lại cho ngay ngắn từng nếp gấp. Bà đảo mắt nhìn quanh và buồn bã lắc đầu trước những mặt bàn cùng chân bàn được đánh bóng loáng mà đến cả dì Pullet cũng chẳng thể chê là chưa đủ sáng.

Ông Deane không đến vì ông bận việc kinh doanh; nhưng bà Deane lại có mặt đúng giờ trên chiếc xe ngựa hai bánh kiểu mới sang trọng có mui che và do người hầu mặc đồng phục lái – chiếc xe từng soi chiếu một thứ ánh sáng rạng rỡ lên nhiều nét tính cách của bà trong mắt một số bạn gái ở St Ogg’s. Ông Deane ngày càng phất lên nhanh chóng bao nhiêu thì ông Tulliver lại lụi tàn bấy nhiêu; và tại nhà bà Deane, đồ vải cùng đồ bạc dòng Dodson bắt đầu rơi xuống vị trí thứ yếu, chỉ còn đóng vai trò như món phụ phẩm cho những vật dụng sang trọng tương tự mới được mua sắm trong những năm gần đây. Sự thay đổi này đôi khi đã gây ra sự lạnh nhạt trong tình chị em giữa bà và bà Glegg – người cảm thấy rằng Susan đang “trở nên giống như những người khác,” và chẳng mấy chốc nữa sẽ chẳng còn lại mấy chút tinh thần Dodson chân chính ngoại trừ ở bản thân bà, và, có lẽ, ở cả những người cháu trai đang gìn giữ họ tên dòng họ Dodson trên mảnh đất gia đình ở tận vùng Wolds xa xôi.

Những người sống ở nơi xa xôi tự nhiên sẽ ít lỗi lầm hơn những kẻ ở ngay trước mắt chúng ta; và hình như thật thừa thãi, khi ta nghĩ đến vị trí địa lý xa xôi của người Ethiopia và việc người Hy Lạp chẳng dính líu mấy đến họ, nếu lại đi gặng hỏi xem vì sao Homer gọi họ là những kẻ “không vết nhơ.”

Bà Deane đến đầu tiên; và khi bà đã ngồi xuống trong phòng khách lớn, bà Tulliver bước xuống gặp bà với gương mặt xinh xắn hơi biến dạng, trông gần như thể bà vừa khóc xong. Bà không phải là người dễ tuôn trào nước mắt, trừ những khoảnh khắc viễn cảnh mất đi đồ đạc bỗng trở nên quá đỗi rõ mồn một, nhưng bà cảm thấy thật chẳng phải phép chút nào nếu lại tỏ ra hoàn toàn bình tĩnh trong hoàn cảnh hiện tại.

– Ôi lạy Chúa, chị ơi, cõi đời này mới ra sao chứ! – bà thốt lên ngay khi bước vào. – Thật là lắm nỗi truân chuyên, ôi trời đất ơi!

Bà Deane là một phụ nữ mỏng môi, hay thốt ra những lời lẽ ngắn gọn đã được cân nhắc kỹ lưỡng trong những dịp đặc biệt, rồi sau đó lặp lại chúng với chồng và hỏi xem mình đã ăn nói đúng mực lắm hay chưa.

– Vâng, thưa chị, – bà điềm tĩnh đáp, – đây là một thế giới đổi thay, và hôm nay chúng ta chẳng thể biết ngày mai điều gì sẽ xảy ra. Nhưng chuẩn bị sẵn sàng cho mọi chuyện là điều phải lẽ, và nếu hoạn nạn giáng xuống, ta phải ghi nhớ rằng nó không bao giờ đến mà không có nguyên do. Em rất lấy làm tiếc cho chị trên cương vị người nhà, và nếu bác sĩ ra lệnh dùng thạch cho ông Tulliver, em hy vọng chị sẽ cho em hay. Em sẽ sẵn lòng gửi tới; vì chăm sóc chu đáo cho ông ấy khi lâm bệnh là lẽ đương nhiên.

– Cảm ơn em, Susan, – bà Tulliver đáp với giọng hơi yếu ớt, rút bàn tay mũm mĩm của mình khỏi bàn tay gầy gò của cô em gái. – Nhưng đã ai đả động gì đến chuyện thạch biếc đâu. – Rồi sau một thoáng ngập ngừng, bà nói thêm: – Trên gác có cả một tá ly đựng thạch bằng thủy tinh mài – tôi sẽ chẳng bao giờ còn đựng thạch vào đấy nữa đâu.

Giọng bà có phần xao động khi thốt lên những lời cuối, nhưng tiếng bánh xe ngựa đã kéo sự chú ý của bà đi nơi khác. Ông bà Glegg đã tới, và ngay sau đó là ông bà Pullet.

Bà Pullet bước vào trong tiếng khóc nức nở – cách duy nhất để thu gọn mọi biểu cảm nhằm bộc lộ quan điểm sống nói chung của bà, và tóm lại là cả những suy nghĩ của bà về tình cảnh cụ thể đang bày ra trước mắt.

Bà Glegg diện chiếc mái tóc giả xù nhất cùng những bộ y phục trông cứ như vừa được khai quật từ một nấm mồ đầy nếp nhăn; một bộ trang phục được chọn lựa với mục đích đạo đức cao cả là gieo rắc sự khiêm nhường tuyệt đối vào lòng Bessy cùng lũ trẻ.

– Này bà G., bà không lại gần lò sưởi chút sao? – chồng bà lên tiếng, vốn ngượng ngùng khi ngồi vào chiếc ghế thoải mái hơn mà không mời vợ.

– Ông thấy tôi ngồi ở đây rồi đấy, ông Glegg, – người phụ nữ bề trên ấy đáp lại; – nếu thích thì ông cứ tự sưởi ấm thân mình đi.

– Ồ, – ông Glegg vừa nói vừa vui vẻ ngồi xuống, – thế còn người tội nghiệp ở trên gác thì sao hả mình?

– Bác sĩ Turnbull bảo sáng nay ông ấy khá hơn nhiều rồi, – bà Tulliver nói; – ông ấy đã chú ý hơn và cất tiếng nói với tôi; nhưng ông ấy vẫn chưa nhận ra Tom – cứ nhìn thằng bé tội nghiệp như thể nó là người lạ vậy, dù có lần ông ấy đã nhắc đến Tom và con ngựa pony. Bác sĩ bảo trí nhớ của ông ấy đã lùi về tận quá khứ xa xôi, và ông ấy không nhận ra Tom vì đang tưởng nhớ về thằng bé hồi còn nhỏ. Ôi chao là khổ, ôi chao là khổ!

– Tôi cứ thấy nghi ngờ là nước đã dâng lên não ông ấy rồi, – dì Pullet vừa quay người lại sau khi chỉnh sửa chiếc mũ bằng vẻ u sầu trước chiếc gương soi lớn vừa nói. – Liệu ông ấy có còn gượng dậy nổi nữa hay không; mà nếu gượng dậy được đi chăng nữa, chắc chắn ông ấy sẽ lú lẫn như tội nghiệp ông Carr cho mà xem! Người ta phải đút muỗng cho ông ấy cứ như thể một đứa trẻ sơ sinh suốt ba năm trời. Ông ấy hoàn toàn mất đi khả năng cử động chân tay; nhưng bù lại người ta sắm cho ông ấy một chiếc xe lăn kiểu Bath và thuê người kéo; còn cái đó, Bessy ơi, chắc gì cô đã có được.

– Dì Pullet, – bà Glegg nghiêm khắc lên tiếng, – nếu tôi hiểu cho đúng, sáng nay chúng ta tề tựu về đây là để bàn bạc và tham khảo xem phải giải quyết thế nào trước nỗi ô nhục đã giáng xuống gia đình, chứ không phải để ngồi lê đôi mách về những kẻ chẳng hề dính dáng gì đến chúng ta. Ông Carr nào có phải máu mọt gì của chúng ta, hay có họ hàng thân thích gì với mình đâu cơ chứ, từ trước tới nay tôi chưa hề nghe thấy.

– Dì Glegg, – bà Pullet cất giọng van nài, vừa xỏ lại găng tay vừa vuốt ve các ngón tay một cách đầy bồn chồn, – nếu dì có điều gì bất kính muốn nói về ông Carr, tôi thực lòng van xin dì đừng thốt ra trước mặt tôi. Tôi biết rõ con người ông ấy mà, – bà nói thêm với một tiếng thở dài, – hơi thở của ông ấy ngắn đến mức đứng cách hai căn phòng cũng nghe tiếng.

– Sophy! – bà Glegg phẫn nộ thốt lên với vẻ ghê tởm. – Cậu cứ hay bàn về bệnh tật của thiên hạ cho đến mức chẳng còn chút phép tắc nào nữa. Nhưng tôi xin nhắc lại lần nữa, hệt như lúc nãy tôi đã nói, tôi rời nhà đến đây không phải để bàn tán chuyện người quen, dù họ thở ngắn hay thở dài đi nữa. Nếu chúng ta không tề tựu ở đây để người này lắng nghe xem người kia sẽ làm gì nhằm cứu vớt một người chị cùng lũ con thơ khỏi cảnh ra đường xin cứu tế, thì tôi xin quay về. Chẳng lẽ người này lại có thể hành động mà không cần đến người kia, chắc chắn tôi không thể gánh vác hết mọi chuyện một mình được.

– Này Jane, – bà Pullet nói, – tôi có thấy chị xông xua hăng hái gì cho cam. Theo tôi được biết thì đây là lần đầu tiên chị đặt chân tới đây kể từ khi người ta loan tin có thừa phát lại trối trăn trong nhà; còn tôi đã có mặt từ hôm qua, xem xét từng món đồ vải và mọi thứ của Bessy, và tôi đã bảo với cô ấy rằng tôi sẽ mua lại những chiếc khăn trải bàn thêu hoa. Tôi nói chẳng có gì phải thẹn với lòng cả; còn cái ấm trà mà cô ấy không muốn thất lạc ra ngoài gia đình á, logic sờ sờ ra đấy là tôi chẳng thể nào dùng nổi hai cái ấm trà bạc, dù cho nó chẳng có cái vòi thẳng đi chăng nữa, nhưng riêng bộ đồ damask hoa thêu thì từ trước tới nay tôi vẫn luôn yêu thích.

– Tôi chỉ ước sao giữ lại được cái ấm trà, bộ đồ sứ cùng mấy cái xe đựng gia vị thượng hạng, không phải đem ra bán đấu giá, – bà Tulliver tội nghiệp van xin, – cả cái kẹp gắp đường – món đồ đầu tiên tôi từng mua trong đời nữa.

– Nhưng điều đó là bất khả kháng, cô biết rõ mà, – ông Glegg nói. – Nếu một ai trong gia đình muốn tự tay mua lại thì cứ việc, nhưng món nào cũng phải được ra giá sòng phẳng như món khác.

– Và cũng chẳng thể trông mong, – cậu Pullet cất lời với một sự độc lập trong tư duy hiếm thấy, – người nhà mình lại phải bỏ ra nhiều tiền hơn giá trị thực của món đồ để chuộc về. Đem ra đấu giá khéo chúng chỉ bán được rẻ như cho không.

– Ôi chao là khổ, ôi chao là khổ, – bà Tulliver than thở, – nghĩ đến cảnh bộ đồ sứ của tôi bị đem bán theo cách đó, trong khi tôi mua nó vào ngày cưới hệt như anh chị đã làm vậy, Jane và Sophy ạ; và tôi biết các chị vốn chẳng ưa gì bộ của tôi vì có họa tiết cành hoa, nhưng tôi lại vô cùng quý trọng nó; mà chưa hề mẻ một miếng nào đâu nhé, vì toàn do một tay tôi tự giặt giũ cẩn thận; lại thêm những đóa tulip và hoa hồng trên tách trà, bất kỳ ai ngắm nhìn cũng phải thấy xiêu lòng. Chắc chắn các chị sẽ chẳng đành lòng nhìn bộ đồ sứ của mình bị bán tống bán tháo rồi đập nát ra từng mảnh đâu, dù cho bộ của chị Jane vốn chẳng có lấy một sắc màu nào – toàn một màu trắng toát lại còn có rãnh khía, thuở mua lại chẳng tốn kém bằng của tôi. Chưa hết, cả mấy chiếc lọ đựng gia vị nữa chứ, dì Deane ơi, tôi cứ nghĩ thể nào dì cũng muốn giữ lại mấy cái lọ đựng gia vị ấy chứ, vì tôi từng nghe dì khen chúng xinh xắn cơ mà.

– Ờ, tôi chẳng ngại mua lại một vài món thượng hạng đâu, – bà Deane đáp với giọng hơi trịch thượng; – nhà chúng tôi lúc nào cũng có thể dùng thêm đồ dự phòng mà.

– Đồ thượng hạng cơ đấy! – bà Glegg phẫn nộ thốt lên, sự giận dữ vốn kìm nén sau quãng thời gian im lặng dài nay đã bùng nổ lên đỉnh điểm. – Nghe tất cả các người bàn tán về đồ thượng hạng, rồi lại đi mua sắm cái này cái nọ, toàn đồ bạc với đồ sứ mà tôi đến phát điên lên được. Bessy này, cô phải biết cúi đầu chấp nhận hoàn cảnh hiện tại đi, đừng có mà mơ tưởng đến đồ bạc với đồ sứ nữa; thay vào đó hãy lo xem mình có kiếm được lấy một chiếc giường rơm mà ngả lưng, một chiếc chăn đắp qua ngày và một chiếc đẩu để ngồi hay không kìa. Cô phải nhớ cho kỹ rằng, nếu có được mấy thứ đó, ấy là nhờ ơn bạn bè thân thích gom góp mua cho cô, bởi vì cô đang phải ăn bám vào họ trong mọi chuyện; chồng cô thì đang nằm liệt giường ở trên kia chẳng thể tự lo liệu nổi, trong tay chẳng có lấy một xu dính túi để mà vỗ ngực nhận là của mình. Tôi nói những lời này đều là vì muốn tốt cho cô thôi, vì cô cần phải tỉnh ngộ để nhận thức rõ tình cảnh thảm hại của mình cùng nỗi nhục nhã mà chồng cô đã giáng xuống gia đình ngoại tộc – nơi cô đang phải ngửa tay xin ăn từng bữa, từ đó mà biết buông bỏ cái tôi xuống và sống khiêm nhường lại.

Bà Glegg ngừng lời, bởi vì việc ra oét lên với người khác bằng một năng lượng tràn trề vốn là một việc vô cùng tốn sức.

Bà Tulliver, từ lâu đã luôn bị áp đảo bởi uy quyền gia tộc của người chị cả Jane – người từng bắt bà phải cúi đầu chịu đựng ách thống trị của người chị từ thuở bé thơ, nay rụt rè cất lời van vỉ:

– Em xin thưa với chị, chưa bao giờ em mở miệng nhờ vả ai bất cứ điều gì, ngoại trừ việc ngỏ ý nhờ mua lại những món đồ mà nếu họ giữ lại sẽ thấy vui lòng, kẻo chúng rơi vào những gia đình xa lạ rồi bị đối xử tàn tệ. Em chưa từng nài nỉ ai mua hộ đồ đạc cho mẹ con em; dù rằng số vải vóc kia đều do một tay em tự xe chỉ dệt côi, và hồi Tom mới chào đời – một trong những điều đầu tiên em thầm nghĩ khi thằng bé còn nằm trong nôi, ấy là toàn bộ số của cải em tự bỏ tiền túi ra mua sắm và gìn giữ nâng niu ấy sẽ thuộc về nó. Thế nhưng em chưa từng đòi hỏi các chị phải bỏ tiền túi ra gánh vác thay cho mình. Những gì chồng em đã làm cho nhà em chồng thì chẳng ai thấu hết, và có lẽ giờ này chúng ta đã chẳng lâm vào cơ sự này nếu ông ấy không vì cả nể cho người ta vay mượn tiền bạc mà chẳng buồn đòi lại.

– Thôi nào, thôi nào, – ông Glegg dịu dàng can thiệp, – đừng có tô vẽ mọi chuyện thêm phần tối tăm u ám nữa chứ. Chuyện gì đã xảy ra thì không thể vãn hồi. Anh em chúng ta sẽ cùng nhau lo toan để sắm sửa những thứ vừa đủ cho các cô dùng; dẫu cho, như lời bà G. đã nói, chúng phải là những vật dụng thiết thực và bình dị. Chúng ta không thể cứ mãi tơ tưởng đến những thứ xa hoa thừa thãi. Nào là một chiếc bàn, dăm ba cái ghế, dồ dùng nhà bếp, một chiếc giường thật tốt, đại loại thế. Chớ chi, tôi đã từng trải qua những ngày tháng mà nếu phải ngả lưng trên đám rơm thay vì chiếc sàn nhà quen thuộc, có lẽ tôi đã chẳng còn nhận ra chính mình nữa. Con người ta thường vướng vào biết bao thứ vô bổ xung quanh, chỉ đơn thuần vì trong túi họ đang rủng rỉnh tiền để tiêu pha.

– Này ông Glegg, – bà G. bực bội lên tiếng, – nếu ông làm ơn để cho tôi được mở miệng nói chuyện, thay vì cứ cướp lời trên móng vuốt của tôi thế – tôi đang định bảo thế này, Bessy, cô hay ho thật đấy khi cứ mở miệng ra là nói chưa từng nhờ vả chúng tôi mua hộ bất cứ thứ gì; để tôi nói cho cô hay, đáng lẽ ra cô phải biết đường cất lời nhờ vả chúng tôi mới phải. Thử hỏi, nếu gia đình cô không đứng ra cứu giúp thì ai là kẻ lo lắng cho cuộc đời cô? Chẳng phải cô sẽ phải dắt díu nhau ra nhà tế thần đó sao. Lẽ ra cô phải thấu hiểu điều đó, khắc ghi nó trong đầu, rồi khiêm nhường nài nỉ chúng tôi làm hết sức có thể vì cô, thay vì cứ mở mồm ra khoác lác rằng cô chưa từng ngửa tay xin xỏ chúng tôi bất cứ điều gì.

– Cậu vừa nhắc đến nhà Moss, và những gì ông Tulliver đã làm cho họ đấy thôi, – cậu Pullet cất lời, vốn là người rất hay nảy sinh những ý kiến thực tế mỗi khi dính dáng đến chuyện tiền nong. – Bọn họ có bén mảng tới lui gì chỗ các người không thế? Lẽ ra họ cũng phải có trách nhiệm gánh vác phần việc của mình chứ, hệt như những người khác vậy; và nếu ông ấy từng cho họ vay mượn tiền, họ phải bị ép buộc phải trả lại đủ đầy chứ lỵ.

– Vâng, chuẩn xác là thế rồi, – bà Deane tiếp lời; – tôi cũng đangnghĩ mãi về chuyện đó. Tại sao vợ chồng nhà Moss lại không có mặt ở đây để cùng họp mặt với chúng ta nhỉ? Chẳng phải gánh vác phần việc của họ là điều hiển nhiên hay sao.

– Ôi chao! – bà Tulliver kêu lên. – Tôi có bao giờ sai người nhắn tin báo cho họ biết chuyện của ông Tulliver đâu cơ chứ, mà nhà họ lại sống tít sâu trong mấy con đường làng ngoằn ngoèo ở Basset, chẳng bao giờ hóng hớt được tin tức gì trừ khi ông Moss có việc ra chợ. Mà ngặt nỗi đầu óc tôi lúc ấy cứ mụ mị cả đi chẳng tài nào nhớ nổi tới họ. Tự dưng tôi lại thấy lạ là sao con bé Maggie lại không nhắc đến nhỉ, từ xưa đến nay nó vốn quấn quýt và quý mến dì Moss của nó cơ mà.

– Sao cô không gọi mấy đứa nhỏ vào đây hả Bessy? – bà Pullet cất lời khi nghe nhắc đến tên Maggie. – Lẽ ra chúng phải được nghe những gì các dì các cậu cần nhủ bảo chứ; còn con bé Maggie nữa – chính tôi là người đã móc tiền túi ra tài trợ một nửa học phí cho nó kia mà, thế mà nó lại tỏ ra kính trọng dì Moss hơn là dì Pullet mới lạ chứ. Trở về nhà hôm nay có khi tôi đột tử lúc nào chẳng hay, chẳng thể biết trước được điều gì đâu.

– Nếu mọi chuyện theo đúng ý tôi, – bà Glegg quả quyết nói, – thì lũ trẻ đã phải có mặt ở căn phòng này ngay từ phút ban đầu rồi. Đã đến lúc chúng phải nhận thức rõ đâu là nơi nương náu của mình, và việc có ai đó đứng ra giáo huấn, vạch trần cho chúng hiểu thấu nghịch cảnh cuộc đời, cùng cái hố sâu mà chúng vừa rơi xuống, để rồi khắc cốt ghi tâm rằng chúng đang phải gánh chịu hậu quả cay đắng từ chính những lỗi lầm của người cha sinh ra chúng là điều vô cùng đúng đắn.

– Thôi được rồi, để tôi lên lầu gọi chúng xuống vậy, thưa các anh chị, – bà Tulliver buông xuôi đáp lại. Giờ đây bà đã hoàn toàn suy sụp, và những bảo vật ẩn chứa trong kho chứa đồ giờ đây chỉ còn mang lại cho bà một cảm giác tuyệt vọng trống rỗng đến cùng cực.

Bà bước lên lầu gọi Tom và Maggie – hai đứa trẻ nãy giờ vẫn quẩn quanh trong căn phòng của người cha, và đang trên đường quay trở lại thì khung cảnh trước cửa kho chứa đồ bỗng gợi lên trong đầu bà một ý tưởng mới. Bà bước hướng về phía đó và để mặc lũ trẻ tự mình đi xuống dưới.

Có vẻ như các dì và các cậu đang chìm trong một cuộc tranh luận gay gắt thì hai chị em bước vào – cả hai đều rụt rè nép mình; dẫu cho Tom, với sự nhạy bén thực tế đã được đánh thức bởi luồng kích thích mãnh liệt từ những cảm xúc mới mẻ mà cậu trải qua từ ngày hôm qua, đang nung nấu trong đầu một kế hoạch mà cậu dự định sẽ đề xuất với một trong các dì hoặc các cậu, nhưng tự đáy lòng cậu hoàn toàn chẳng có chút thiện cảm nào với họ, và việc phải đối mặt với tất cả bọn họ cùng một lúc khiến cậu thấy sợ hãi chẳng khác nào khi phải uống một liều thuốc đắng ngắt cô đặc – thứ chỉ vừa đủ chịu đựng nếu được chia nhỏ ra thành từng ngụm bé xíu. Về phần Maggie, sáng nay con bé đặc biệt chìm đắm trong nỗi u uất; nó bị gọi dậy sau một giấc ngủ ngắn ngủi lúc ba giờ sáng, và mang theo thứ mệt mỏi mơ màng kỳ lạ của những kẻ thức canh trong căn phòng bệnh qua những giờ khắc buốt giá của buổi chạng vạng sáng cùng khoảnh khắc rạng đông – thời điểm mà thế giới ánh sáng ban ngày ngoài kia bỗng trở nên vô nghĩa, và chỉ đóng vai trò như một đường viền mờ nhạt bao quanh những giờ khắc trong căn phòng khép kín u tối. Sự xuất hiện của hai đứa trẻ đã cắt đứt mạch chuyện trò. Nghi thức bắt tay diễn ra trong bầu không khí trầm mặc và ảm đạm, cho đến khi cậu Pullet cất lời khi thấy Tom tiến lại gần:

– Này cậu trai trẻ, chúng ta đang bàn tới chuyện cần dùng đến nghiên mực của cháu đấy; tao nghĩ là sau bao năm dùi mài kinh sử ở trường lớp, giờ đây cháu đã có thể viết lách một cách thành thạo lắm rồi chứ nhỉ.

– Phải, phải, – cậu Glegg hùa theo với vẻ giáo huấn mà ông ngỡ là đầy nhân ái, – giờ là lúc chúng ta phải chứng kiến thành quả từ mớ học thức tốn kém mà cha cháu đã ném vào đó không biết bao nhiêu tiền của rồi đấy, đặng mà ngẫm lại câu này —

Khi ruộng đất đã mất và tiền bạc đã tiêu tan,

Thì chữ nghĩa học thức mới là báu vật vô song.

Hôm nay chính là thời điểm thích hợp để Tom chứng minh cho chúng ta thấy sự hữu dụng từ vốn chữ nghĩa của cháu đấy. Để xem cháu có thể làm tốt hơn ta hay không – kẻ đã tự tay gầy dựng nên cơ đồ này mà chẳng cần qua trường lớp nào. Nhưng cháu biết đấy, ngày trước tao bắt đầu từ hai bàn tay trắng với những thứ vô cùng đạm bạc; tao có thể sống qua ngày chỉ với một bát cháo loãng cùng mẩu bánh mì phết phô mai. Nhưng tao e rằng lối sống nhung lụa cùng mớ kiến thức cao sang kia sẽ khiến con đường phía trước của cháu trở nên trắc trở hơn rất nhiều so với tao thủa trước đấy, hỡi chàng trai trẻ.

– Nhưng nó buộc phải đối mặt với điều đó, dù cho có gian nan hay không đi chăng nữa, – dì Glegg kiên quyết chen ngang. – Nó không có quyền tơ tưởng đến chuyện sướng khổ hay dễ khó; nó phải khắc ghi rằng bản thân không được phép trông chờ vào sự bao bọc trong nhàn rỗi và xa hoa của người thân; nó phải gánh chịu hậu quả từ những hành vi sai trái của người cha, và tập thích nghi với lối sống khổ hạnh cùng lao động vất vả. Hơn thế nữa, nó phải biết cúi đầu khiêm nhường và tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các dì các cậu vì những gì mọi người đang ra sức làm cho cha mẹ chúng – những kẻ sẽ sớm bị tống cổ ra đường và dắt díu nhau vào nhà tế thần nếu không có sự cứu giúp của chúng ta. Cả con em gái của nó nữa chứ, – bà Glegg vừa nói vừa đưa ánh mắt sắc lạnh dán chặt vào Maggie – người nãy giờ đã ngồi xuống chiếc ghế sofa cạnh dì Deane, bị thu hút bởi cảm giác rằng đây chính là thân mẫu của bé Lucy, – con bé cũng phải tự dằn lòng mình xuống để sống khiêm nhường và lao động vất vả; bởi vì từ nay sẽ chẳng còn kẻ hầu người hạ nào cung phụng nó nữa đâu – nó phải ghi nhớ điều đó cho kỹ. Nó phải tự tay gánh vác mọi việc trong nhà, đồng thời phải bày tỏ lòng kính trọng và yêu thương sâu sắc đối với những người dì đã hy sinh biết bao nhiêu cho nó, chắt chiu từng đồng tiền bát gạo để rồi sau này để lại cho cháu chắt trong nhà.

Tom vẫn đứng sững trước chiếc bàn ở trung tâm nhóm người. Gương mặt cậu bừng lên một sắc hồng rực rỡ, và trông cậu hoàn toàn chẳng có vẻ gì là đang khép nép hay cúi đầu chịu đựng cả; ngược lại, cậu đang chuẩn bị cất tiếng bằng một giọng điệu đầy cung kính để bày tỏ những suy nghĩ đã được nghiền ngẫm từ trước, thì cánh cửa bỗng bật mở và người mẹ bước trở vào.

Bà Tulliver tội nghiệp trên tay đang cầm một chiếc khay nhỏ, trên đó đặt chiếc ấm trà bằng bạc, một bộ tách đĩa làm mẫu, những chiếc lọ đựng gia vị cùng chiếc kẹp gắp đường.

– Chị xem này, – bà vừa nói vừa nhìn chằm chằm về phía bà Deane khi đặt chiếc khay lên bàn, – em vẫn thầm nghĩ, nhỡ đâu khi chị ngắm lại chiếc ấm trà này – cũng đã một khoảng thời gian khá lâu từ lần cuối chị nhìn thấy nó – biết đâu chị sẽ lại cảm thấy mẫu hoa văn này hợp nhãn hơn; nó pha trà ngon tuyệt cú mèo, lại có cả bệ đỡ cùng đầy đủ bộ đi kèm; chị có thể dùng nó cho những buổi sinh hoạt thường nhật, hoặc không thì cất đi để dành cho Lucy sau này khi con bé về nhà chồng. Em thực lòng cảm thấy xót xa biết bao nếu để chúng đem ra bán đấu giá ở quán trọ Golden Lion, – người phụ nữ tội nghiệp nghẹn ngào thốt lên, lồng ngực phập phồng và dòng nước mắt trực trào tuôn rơi, – chiếc ấm trà mà em đã tậu vào ngày cưới, nghĩ đến cảnh nó sẽ bị trầy xước, rồi bầy biện trước mặt đám khách qua đường cùng thiên hạ, lại thêm mấy chữ cái khắc trên đó nữa – chị nhìn đây này, chữ E. D., – rồi bất kỳ ai cũng có thể nhìn thấy chúng.

– Ôi chao, đau đớn làm sao! – dì Pullet vừa lắc đầu nguầy nguậy vừa tỏ vẻ bi thương sâu sắc. – Thật là tệ hại vô cùng – khi nghĩ đến cảnh mấy chữ cái viết tắt của dòng họ cứ bôn ba khắp mọi ngẻo đường thế kia – từ trước đến nay nào có chuyện đó bao giờ; Bessy đúng là một người đàn bà vô phúc. Nhưng mà mua lại chiếc ấm trà để làm gì cơ chứ, khi mà nào là đồ vải, nào là thìa dĩa cùng muôn vàn thứ khác đều phải đem ra bán sạch, thậm chí có những món còn mang cả họ tên đầy đủ của cô nữa – chưa kể nó lại có cái vòi thẳng đơ thế kia cơ chứ.

– Còn về cái gọi là nỗi nhục nhã của dòng họ á, – bà Glegg đanh thép lên tiếng, – thì dăm ba cái chuyện mua lại ấm trà nào có cứu vãn nổi. Nỗi nhục nhã lớn nhất chính là việc một thành viên trong gia đình lại đi lấy phải một người đàn ông đẩy vợ mình vào bước đường cùng khốn đốn. Nỗi nhục lớn nhất chính là cảnh gia sản nhà cửa bị đem ra bán đấu giá sạch sành sanh. Chúng ta chẳng thể nào bịt miệng thiên hạ để họ không hay biết chuyện đó được đâu.

Maggie đã vùng dậy khỏi chiếc ghế sofa ngay khi nghe nhắc đến người cha kính yêu của mình, nhưng Tom đã kịp thời nhìn thấy hành động cùng gương mặt đỏ bừng của cô em gái để ngăn không cho con bé thốt lên lời. – Bình tĩnh nào, Maggie, – cậu dùng giọng điệu đầy quyền uy ra lệnh, đồng thời đẩy con bé sang một bên. Thật là một biểu hiện đáng kinh ngạc về khả năng tự chủ cùng sự phán đoán thực tế ở một thiếu niên mới mẻ mười lăm tuổi: ngay khi bà dì Glegg vừa dứt lời, cậu đã cất tiếng bằng một âm điệu trầm tĩnh và đầy cung kính, dù cho giọng nói vẫn còn đang run rẩy vì xúc động; bởi những lời cay nghiệt của người mẹ đã cứa sâu vào tâm can cậu.

– Thưa dì, – cậu vừa nói vừa nhìn thẳng vào mắt bà Glegg, – nếu dì cho rằng việc gia đình cháu bị đem bán đấu giá là một nỗi nhục nhã ê chề cho dòng họ, vậy thì chẳng phải việc ngăn chặn nó xảy ra ngay từ gốc rễ sẽ tốt hơn sao? Và nếu dì cùng với dì Pullet, – cậu vừa nói vừa hướng ánh mắt sang người vừa nhắc tới, – có ý định để lại một chút tài sản thừa kế cho cháu và con bé Maggie, vậy chẳng phải chi bằng hãy trao nó ngay vào lúc này, dùng số tiền ấy để trả hết khoản nợ đang là nguyên nhân khiến gia đình cháu bị lôi ra bán đấu giá, đồng thời cứu lấy người mẹ tội nghiệp khỏi cảnh phải dứt ruột chia lìa với những món đồ gia đình hay sao?

Không gian chìm vào tĩnh lặng trong chốc lát, bởi vì tất cả mọi người, kể cả Maggie, đều vô cùng kinh ngạc trước phong thái ra dáng nam nhi đầy đột ngột của Tom. Cậu Glegg là người đầu tiên phá vỡ sự im lặng.

– Ơ hay, cậu trai trẻ, khá lắm! Cháu bắt đầu biết suy tính thấu đáo mọi chuyện rồi đấy. Nhưng cháu phải nhớ rằng còn khoản tiền lãi nữa chứ; các dì của cháu đang hưởng mức lãi suất năm phần trăm trên số tiền của họ, và họ sẽ mất trắng khoản đó nếu đem ứng trước cho cháu; chắc là cháu chưa tính đến khía cạnh này rồi.

– Cháu có thể lao động kiếm tiền để trả khoản đó đều đặn hằng năm, – Tom nhanh nhảu đáp. – Cháu sẵn sàng làm bất cứ điều gì để cứu mẹ cháu khỏi cảnh phải chia tay với những món đồ gia đình.

– Làm tốt lắm! – cậu Glegg đầy vẻ tán thưởng thốt lên. Nãy giờ ông chỉ khơi gợi để Tom bộc lộ suy nghĩ chứ nào có tính toán đến tính khả thi trong đề xuất của thằng bé. Nhưng chính điều đó lại tạo ra một hệ lụy không mong muốn là làm cho vợ ông nổi giận.

– Vâng, thưa ông Glegg! – người phụ nữ ấy cất giọng với một sự mỉa mai đầy cay đắng. – Ông thật có nhã hứng khi đem tiền của tôi ra để rộng tay bố thí cho thiên hạ nhỉ, trong khi cứ lớn tiếng ra vẻ như thể số tiền ấy hoàn toàn thuộc quyền định đoạt của một mình tôi. Hơn thế nữa, đó lại là số tiền do chính thân phụ tôi để lại làm của hồi môn chứ có phải của ông đâu, hỡi ông Glegg; và tôi đã phải chắt chiu, tự tay vun vén thêm vào, năm nào cũng tìm cách đầu tư sinh lời để rồi giờ đây nó lại bị ném vào để vớt vát mấy món đồ đạc của nhà người ta, tiếp tay cho họ chìm đắm trong sự xa hoa trụy lạc mà chẳng có lấy một cắc xu dắt túi để gánh vác; thế rồi tôi lại phải sửa đổi di chúc hay lập thêm phụ lục, để rồi khi nhắm mắt xuôi tay số tiền để lại cho hậu thế sẽ vơi đi vài trăm bảng – tôi, một người luôn sống đúng đắn, cẩn trọng và là người chị cả trong gia đình; thế mà tiền của tôi lại bị đem ra ném qua cửa sổ cho những kẻ có xuất phát điểm chẳng khác gì tôi, chỉ có điều họ là lũ người hư hỏng và hoang phí. Này chị Pullet, chị muốn làm gì thì tùy chị, và chị có để cho chồng mình tước đoạt lại số tiền mà ông ta từng ban phát cho chị thì cứ việc, nhưng tính tôi thì dứt khoát không bao giờ có chuyện đó đâu.

– Trời ơi Jane, sao chị lại nóng nảy đến thế hả! – bà Pullet thốt lên. – Kiểu gì chị cũng bị xung huyết não và phải cắt máu cho mà xem. Tôi rất lấy làm thương cảm cho Bessy cùng lũ trẻ – thực lòng đêm nào tôi cũng nghĩ về chúng đến đứt từng khúc ruột, vì dạo này tôi mất ngủ trầm trọng nhờ thứ thuốc mới này – nhưng có ích gì đâu khi tôi muốn ra tay giúp đỡ mà chị lại chẳng chịu chớp lấy cơ hội để gặp nhau ở điểm giữa chứ.

– À, chúng ta còn phải cân nhắc đến vấn đề này nữa chứ, – ông Glegg chen vào. – Việc trả hết khoản nợ này để giữ lại đồ đạc chẳng mang lại ích lợi gì sất, khi mà đằng sau đó vẫn còn một tá các khoản nợ pháp lý sẵn sàng ngốn sạch từng xu cắc ké, thậm chí còn vượt xa giá trị có thể thu về từ đất đai và gia súc, vì tôi đã tường tận mọi chuyện từ luật sư Gore rồi. Tốt hơn hết là chúng ta nên giữ lại tiền nong để lo cơm áo gạo tiền cho người đàn ông tội nghiệp ấy, thay vì ném tiền qua cửa sổ để chuộc lại mấy món đồ đạc mà ông ta chẳng thể ăn hay uống được. Sao lúc nào tính tình chị cũng hấp tấp thế hả Jane, cứ làm như tôi chẳng biết thế nào là phải trái hợp lý vậy.

– Vậy thì hãy mở miệng nói năng cho ra điều phải trái đi, ông Glegg! – người vợ dõng dạc nhấn mạnh từng tiếng một cách chậm rãi, vừa cúi đầu nhìn ông đầy ẩn ý.

Sắc mặt Tom bỗng chùng xuống trong suốt cuộc tranh luận này, và bờ môi cậu khẽ mím lại vì run rẩy; nhưng cậu đã tự nhủ phải kiên định đến cùng. Cậu phải cư xử như một người đàn ông thực thụ. Trái ngược lại với Tom, Maggie sau niềm vui sướng thoáng qua trước lời tuyên bố của anh trai, nay lại chìm đắm trở lại trong trạng thái căm phẫn đến run rẩy. Người mẹ nãy giờ vẫn đứng kè kè bên cạnh Tom, bấu chặt lấy cánh tay cậu kể từ lần cuối cậu cất tiếng; bỗng nhiên Maggie vùng đứng dậy và hiên ngang chắn trước mặt họ, đôi mắt lóe lên những tia sáng tựa như ánh mắt của một con sư tử cái tơ.

– Thế các người lặn lội tới đây để làm gì chứ, – con bé bất chợt bùng nổ, – cứ đến đây rồi buông lời xỉa xói, can thiệp vào chuyện nhà chúng tôi, mắng nhiếc chúng tôi, nếu các người chẳng hề có ý định vươn tay cứu giúp người mẹ tội nghiệp của tôi – chính là ruột thịt của các người – nếu các người chẳng có lấy một giọt tình thương dành cho bà lúc ngặt nghèo, và keo kiệt đến mức chẳng chịu buông bỏ bất cứ thứ gì, dẫu cho các người chẳng hề thiếu thốn thứ đó, để cứu lấy bà ấy khỏi nỗi đau đớn này? Vậy thì cút hết đi, đừng có bén mảng đến đây để rồi xới tung lỗi lầm của cha tôi lên nữa – ông ấy tốt đẹp gấp vạn lần tất cả các người; ông ấy rất đỗi nhân hậu – ông ấy sẵn sàng chìa tay giúp đỡ nếu các người sa cơ lỡ vận. Cả cháu và Tom đều không thèm đụng đến một xu dính túi nào của các người hết, nếu các người đã không chịu mở lòng cứu giúp mẹ cháu. Cháu thà không nhận còn hơn! Chúng cháu tự lo được, chẳng cần đến các người đâu.

Maggie sau khi trút toàn bộ sự thách thức lên đầu các dì các cậu theo cách đó liền đứng sững lại, đôi mắt đen láy mở to trừng trừng nhìn họ hệt như sẵn sàng nghênh đón mọi hậu quả giáng xuống.

Bà Tulliver hoảng sợ tột độ; có điều gì đó thật điên rồ và mang điềm gở trong màn bùng nổ cuồng loạn này; bà chẳng thể mường tượng nổi cuộc đời này sẽ tiếp diễn ra sao sau khoảnh khắc đó nữa. Tom cảm thấy vô cùng phiền muộn; cãi cọ kiểu này chẳng đi đến đâu cả. Các dì ngẩn người vì kinh ngạc đến mức im lặng mất một lúc lâu. Cuối cùng, trước một trường hợp tâm thần bất ổn như thế này, việc đưa ra những lời bình phẩm xem chừng vẫn khôn ngoan hơn là đáp trả.

– Cô chưa thấy hết nỗi khổ nhục mà con bé đó mang lại cho cô đâu Bessy ạ, – bà Pullet cất lời; – tính tình nó ngày càng hỗn xược và vô ơn đến mức vượt quá sức tưởng tượng rồi. Thật là kinh hoàng. Đáng lẽ ra tôi không nên phí tiền đóng học phí cho nó làm gì, bởi vì nó càng lớn càng trở nên tồi tệ hơn xưa.

– Chẳng có gì lạ lẫm so với những gì tôi từng tiên tri từ trước cả, – bà Glegg tiếp lời. – Người khác có thể ngạc nhiên chứ riêng tôi thì không bao giờ. Từ nhiều năm về trước, tôi đã không ngớt cảnh báo rằng: ‘Hãy nhớ lấy lời tôi nói đây; con bé đó tuyệt đối chẳng thể làm nên trò trống gì đâu; trong người nó chẳng có lấy một giọt máu mủ nào của dòng họ chúng ta cả.’ Còn về việc đầu tư cho nó ăn học chữ nghĩa ê chề kia chứ, từ đầu tôi đã chẳng bao giờ nhìn nhận tích cực về điều đó. Tôi thừa lý do chính đáng khi quyết định không bỏ ra một xu dắt túi nào cho nó mà lị.

– Thôi nào, thôi nào, – ông Glegg can thiệp, – đừng lãng phí thời gian vào những lời lẽ vô bổ nữa – chúng ta quay lại công việc chính đi nào. Tom này, mau lấy nghiên mực ra đây——

Trong lúc ông Glegg đang cất lời, một bóng đen cao gầy bỗng lướt qua khung cửa sổ với vẻ vội vã.

– Ơ kìa, bà Moss kìa, – bà Tulliver thốt lên. – Chắc là tin dữ đã bay đến tai cô ấy rồi đây; – và bà vội vã bước ra mở cửa, Maggie số sắng theo sát gót chân mẹ.

– Thật là may mắn quá, – bà Glegg nhận xét. – Cô ta có thể đặt bút ký vào danh sách những món đồ cần mua lại. Đứng trên cương vị là chị em ruột thịt, việc cô ta phải gánh vác phần trách nhiệm của mình là điều hiển nhiên.

Bà Moss đang chìm trong tâm trạng bấn loạn đến mức chẳng thể kháng cự lại cử chỉ của bà Tulliver khi bị kéo xềnh xệch vào phòng khách một cách vô thức, mà quên béng mất rằng việc lôi một người vào giữa đám đông nhốn nháo vào ngay khoảnh khắc đau thương vừa đặt chân tới là một điều chẳng mấy tế nhị chút nào. Người phụ nữ cao gầy, tiều tụy với mái tóc đen nhánh tạo nên một sự tương phản rõ rệt khi bước vào trong bộ trang phục lôi thôi lếch thếch, chiếc khăn choàng và chiếc mũ trông cứ như vừa được vội vã quàng lên người một cách cẩu thả, cùng một vẻ vô tâm hoàn toàn thuộc về những kẻ đang bị hoạn nạn vò xé tâm can. Maggie đang bám chặt lấy cánh tay cô; và bà Moss dường như chẳng mảy may chú ý đến bất kỳ ai ngoài Tom, cô rảo bước thẳng về phía cậu và nắm chặt lấy bàn tay thiếu niên.

– Ôi, những đứa con thân yêu của tôi ơi, – cô nghẹn ngào buột miệng, – các cháu chẳng có lý do gì để mà nghĩ tốt về ta cả; ta là một người dì tồi tệ đối với các cháu, bởi ta chỉ là kẻ chuyên đi vơ vét mọi thứ mà chẳng hề biết đền đáp lại bất cứ điều gì. Người anh tội nghiệp của ta dạo này thế nào rồi hả cháu?

– Bác sĩ Turnbull bảo bố cháu sẽ sớm bình phục thôi ạ, – Maggie đáp. – Dì Gritty ngồi xuống đây đi ạ. Xin đừng đau buồn nữa.

– Ôi đứa trẻ ngọt ngào của tôi ơi, lòng ta đang đau như cắt làm đôi đây này, – bà Moss vừa nói vừa để cho Maggie dìu ngồi xuống ghế sofa, nhưng ánh mắt vẫn lơ đễnh chẳng mảy may đếm xỉa gì đến sự hiện diện của những người xung quanh. – Nhà ta đang cầm cố ba trăm bảng tiền vốn của anh trai ta, và giờ đây anh ấy đang cần đến nó, và tất cả các cháu cũng đang túng quẫn cần đến nó, hỡi những đứa trẻ tội nghiệp! – thế nhưng chúng ta lại sắp bị tịch biên tài sản để trả nợ, trong khi lũ trẻ nhà ta thì nhe nhóc tới tám đứa – đứa út thì đến nói năng còn chưa sõi. Ta cứ có cảm giác mình chẳng khác nào một kẻ trộm cắp. Nhưng ta xin thề là từ trước tới nay chưa bao giờ ta có một mảy may suy nghĩ rằng anh mình——

Người phụ nữ tội nghiệp bị cắt ngang bởi một tiếng nấc nghẹn ngào dâng lên tận cổ.

– Ba trăm bảng cơ á! ôi trời đất ơi, – bà Tulliver thốt lên; trước đó khi thốt ra câu nói rằng chồng mình từng làm những chuyện “không ai thấu” cho em gái, trong đầu bà hoàn toàn chẳng có con số cụ thể nào, và giờ đây niềm bực dọc của người vợ bị tẻ nhạt, giấu giếm bỗng trỗi dậy mạnh mẽ.

– Thật là một sự điên rồ không thể tưởng tượng nổi! – bà Glegg buông lời châm chọc. – Một người đàn ông đã có vợ con đùm huề! Ông ta hoàn toàn không có quyền vung tay cho vay mượn tiền bạc theo kiểu đó; và tôi dám cá là chẳng có lấy một mảnh giấy bảo đảm nào đâu, nếu sự thật được phơi bày.

Âm lượng của bà Glegg đã thu hút sự chú ý của bà Moss, cô ngẩng đầu lên và cất lời:

– Vâng, hoàn toàn có giấy tờ bảo đảm đàng hoàng chứ ạ; chồng tôi đã viết một giấy nhận nợ cho anh ấy. Cả hai vợ chồng tôi không phải là hạng người đó, không đời nào chúng tôi lại đi nhẫn tâm cướp đoạt mồ hôi nước mắt của con cái anh trai mình; và chúng tôi vẫn luôn trông ngóng từng ngày kinh tế khá giả lên một chút để trả lại số tiền ấy.

– Ồ, nhưng mà này, – ông Glegg ôn tồn lên tiếng, – chẳng lẽ chồng cô không có cách nào để xoay xở khoản tiền này hay sao? Bởi vì nếu chúng ta có thể tránh được việc buộc ông Tulliver phải tuyên bố phá sản, thì số tiền ấy sẽ tựa như một cơ ngơi nhỏ bé cho những con người khốn khổ này. Chồng cô có gia súc trong trang trại; việc anh ta phải xoay xở để trả khoản tiền đó là điều hiển nhiên, theo như tôi nhận định – không phải là tôi không lấy làm tiếc cho cô đâu nhé, bà Moss ạ.

– Ôi thưa ông, ông nào thấu hiểu được những vận hạn đen đủi mà chồng tôi phải gánh chịu với đàn gia súc đâu cơ chứ. Trang trại đang lụi tàn kiệt quệ chưa từng thấy vì thiếu thốn gia súc; chúng tôi đã bán sạch số lúa mì thu hoạch được, thế mà vẫn còn nợ đầm đìa tiền thuê đất – không phải là chúng tôi không muốn làm điều phải trái, và bản thân tôi sẵn sàng thức trắng đêm khuya để làm lụng nếu điều đó mang lại chút ích lợi nào; ngặt nỗi vướng bận mấy đứa nhỏ dại – tới bốn đứa còn đang bế ngửa thế này đây——

– Xin dì đừng khóc nữa; đừng buồn rầu nữa ạ, – Maggie thì thầm, bàn tay nhỏ bé vẫn nắm chặt lấy tay bà Moss không rời.

– Thế ông Tulliver đưa cho cô mượn một cục ba trăm bảng liền một lúc luôn sao? – bà Tulliver cất tiếng hỏi, vẫn còn đang chìm đắm trong sự ngỡ ngàng trước những chuyện “động trời” diễn ra sau lưng mình mà cô vợ hoàn toàn mù tịt.

– Dạ không; chia làm hai lần ạ, – bà Moss vừa nói vừa đưa tay dụi mắt cố gắng kìm nén dòng nước mắt chực trào. – Lần sau cùng là sau trận bạo bệnh của tôi cách đây bốn năm về trước, khi mọi thứ đồng loạt đổ bể, và một tờ giấy nhận nợ mới đã được lập ra vào thời điểm đó. Cứ hết bệnh tật lại đến vận hạn đeo bám, cả đời tôi chẳng khác nào một gánh nặng vô tích sự cản đường người khác.

– Vâng, thưa bà Moss, – bà Glegg quả quyết chốt hạ, – gia đình cô quả là một dòng họ vô phúc; và điều đó càng đáng tiếc hơn cho người em gái tội nghiệp của tôi.

– Ngay khi nghe tin dữ ập đến, tôi liền lật đật leo lên chiếc xe cút kít phóng tới đây ngay lập tức, – bà Moss vừa nói vừa hướng ánh mắt về phía bà Tulliver. – Lẽ ra tôi đã chẳng đời nào ở lỳ một chỗ suốt khoảng thời gian qua nếu cô biết đường nhắn tin báo cho tôi hay. Mà nào phải tôi chỉ mải chăm bẵm lo nghĩ cho bản thân mình mà phớt lờ người anh trai đâu cơ chứ, chỉ vì số tiền nợ cứ cánh cánh trong lòng khiến tôi không tài nào kìm chế được việc phải thốt lên. Cả hai vợ chồng tôi đều khao khát được làm những điều đúng đắn, thưa ông, – cô vừa nói vừa nhìn sang ông Glegg, – và chúng tôi sẽ dốc sức xoay xở để trả cho bằng hết số tiền ấy, dù chuyện gì có xảy ra đi chăng nữa, nếu đó là tất cả những gì người anh trai tôi có thể bấu víu vào lúc này. Cuộc đời chúng tôi vốn gắn liền với bất hạnh gian truân, nên chẳng mong chờ gì hơn thế nữa. Chỉ có nỗi dằn vặt về những đứa con thơ dại mới khiến tâm can tôi xé rách làm đôi.

– Này bà Moss, chúng ta còn phải tính đến khía cạnh này nữa chứ, – ông Glegg cất lời, – và tôi thấy có trách nhiệm phải cảnh báo trước cho cô hay – nếu ông Tulliver bị tuyên bố phá sản, trong tay ông ấy lại đang cầm giấy nhận nợ ba trăm bảng do chính tay chồng cô ký kết, thì cô buộc lòng phải trả khoản tiền đó cho bằng sạch; vì tòa án phá sản sẽ truy thu nó từ phía cô đấy.

– Ôi trời ơi là trời! – bà Tulliver thốt lên, tâm trí chỉ mải nghĩ đến sự kiện phá sản chứ nào có màng tới rắc rối mà bà Moss đang vướng phải. Bản thân bà Moss tội nghiệp ngồi lắng nghe trong sự phục tùng run rẩy, trong khi Maggie với đôi mắt ngập tràn nỗi hoang mang lo lắng đảo sang nhìn Tom để dò xét xem anh trai có thấu hiểu được rắc rối này hay không, và có mảy may quan tâm đến người dì tội nghiệp Moss hay không. Tom chỉ đăm đăm ra chiều suy tư sâu sắc, ánh mắt dán chặt lên tấm khăn trải bàn.

– Và nếu ông ấy không bị tuyên bố phá sản, – ông Glegg tiếp lời, – như tôi đã đề cập từ trước, ba trăm bảng sẽ là một gia tài nhỏ bé đối với một người đàn ông khốn khổ ấy. Chúng ta chẳng thể lường trước được liệu ông ấy có còn giữ được sự minh mẫn hay liệt lào gì không, nếu ông ấy may mắn gượng dậy được. Tôi rất lấy làm tiếc nếu hoàn cảnh này đẩy cô vào bước đường cùng, thưa bà Moss, nhưng theo quan điểm của tôi, xét theo một khía cạnh thì cô buộc phải trả lại số tiền ấy; còn xét theo khía cạnh ngược lại thì pháp luật cũng bắt cô phải nôn ra mà thôi. Mong cô đừng vì thế mà mang lòng oán hận tôi khi phải nói lên sự thật phũ phàng này.

– Thưa cậu, – Tom bất ngờ ngẩng phắt đầu lên khỏi chiếc khăn trải bàn đang chìm trong trầm mặc, – cháu nghĩ việc dì Moss phải trả lại số tiền đó là điều không đúng đắn, nếu như nó trái ngược với di nguyện của cha cháu; có phải vậy không ạ?

Ông Glegg ngẩn người mất một thoáng ngỡ ngàng trước khi cất lời: – À, ừ thì, có lẽ là không đâu Tom ạ; nhưng ngặt nỗi khi ấy ông ấy sẽ phải hủy tờ giấy nhận nợ đi chứ. Chúng ta phải đi tìm cho ra tờ giấy nhận nợ đó đã. Mà cái gì khiến cháu nghĩ rằng điều đó lại trái với di nguyện của cha cháu cơ chứ?

– Dạ, – Tom vừa nói vừa đỏ bừng mặt, nhưng cố gắng cất giọng thật cương quyết bất chấp cơn run rẩy của một thiếu niên, – cháu nhớ rất rõ, hồi trước lúc được gửi đến trường thầy Stelling, có một buổi tối khi hai cha con đang ngồi sưởi ấm bên lò sưởi mà trong phòng chẳng có ai khác ngoài hai người——

Tom ngập ngừng giây lát rồi tiếp lời:

– Cha cháu có nói với cháu đôi điều về con bé Maggie, rồi ngài bảo rằng: ‘Ta luôn đối xử tử tế với em gái mình, dẫu cho nó đã kết hôn trái với ý nguyện của ta, và ta từng cho Moss vay tiền; nhưng chưa bao giờ ta có ý định dồn ép hay đòi nợ hắn ta cả; ta thà chịu mất số tiền ấy còn hơn. Các con ta không được phép phàn nàn hay oán trách vì bị nghèo đi vì điều đó.’ Và giờ đây khi cha cháu đang lâm bệnh nặng, chẳng thể tự mình thốt lên lời nào nữa, cháu không muốn bất kỳ điều gì diễn ra lại đi ngược lại với những gì ngài từng căn dặn cháu cả.

– Ừ thì, nhưng mà này cháu trai của ta ơi, – ông Glegg – người vốn sở hữu tấm lòng nhân hậu nên rất thấu cảm với mong muốn của Tom, nhưng lại không thể lập tức rũ bỏ được bản tính ghét cay ghét đắng sự liều lĩnh theo kiểu hủy hoại giấy tờ bảo đảm, hay tẩu tán bất cứ thứ gì đủ sức tạo ra sự chênh lệch đáng kể trong khối tài sản của một người đàn ông – cất lời, – chúng ta sẽ phải tìm cách thủ tiêu tờ giấy nhận nợ đó đi, cháu hiểu chứ, nếu muốn đề phòng những bất trắc có thể xảy ra trong trường hợp cha cháu bị tuyên bố phá sản——

– Này ông Glegg, – vợ ông nghiêm khắc ngắt lời, – hãy uốn lưỡi trước khi nói đi ông. Ông đang tự tiện xía vào chuyện của người khác quá đà rồi đấy. Nếu ông dám buông lời xằng bậy, đừng có mà hòngổmổ đổ thừa là do tôi xúi giục đấy nhé.

– Đây đúng là chuyện xưa nay hiếm thấy trên đời, – cậu Pullet lên tiếng, nãy giờ phải tranh thủ ngậm viên ngậm ho để có thể cất lời bày tỏ sự kinh ngạc tột độ của mình, – lại đi thủ tiêu cả một tờ giấy nhận nợ! Tôi dám cá là bất cứ ai cũng có thể lôi cổ cảnh sát đến bắt giam ông vì tội danh đó cho mà xem.

– Nhưng mà này, – bà Tulliver chen vào, – nếu tờ giấy nhận nợ ấy có giá trị lớn đến thế, tại sao chúng ta không dùng nó để cất vó trả nợ, qua đó cứu lấy những món đồ đạc của tôi khỏi cảnh bị đem đi bán sạch nhỉ? Tom này, chúng ta chẳng việc gì phải nhúng tay vào chuyện của vợ chồng chú thím Moss nếu con nghĩ rằng bố con sẽ nổi giận khi ông ấy bình phục trở lại.

Bà Tulliver chưa từng qua lớp nghiên cứu nào về kinh tế học trao đổi, nên đang phải vắt óc suy nghĩ để nặn ra những ý tưởng mang tính nguyên bản về chủ đề này.

– Thôi đi, thôi đi, thôi đi! Mấy bà các cô thì biết cái quái gì về những chuyện này chứ, – ông Glegg phẩy tay. – Chẳng có cách nào đảm bảo an toàn cho vợ chồng nhà Moss ngoài việc hủy diệt tờ giấy nhận nợ đó đi cả.

– Vậy thì cháu mong cậu sẽ giúp cháu làm điều đó, thưa cậu, – Tom khẩn khoản nài nỉ. – Nếu bố cháu không qua khỏi, cháu sẽ vô cùng dằn vặt và đau khổ khi nghĩ rằng đã có điều gì đó đi ngược lại với mong muốn của ngài mà lẽ ra cháu có thể ngăn chặn được. Và cháu đinh ninh rằng ngài muốn cháu phải khắc ghi những gì ngài đã dặn dò vào buổi tối hôm đó. Cháu phải có nghĩa vụ tuân thủ di nguyện của cha về khối tài sản của ngài.

Ngay cả bà Glegg cũng không thể kiềm chế được mà thốt lên lời khen ngợi dành cho Tom; bà cảm nhận được rằng dòng máu của gia đình Dodson đang chảy rần rật trong huyết quản thằng bé, dẫu cho ngày trước nếu cha nó cũng là một người mang dòng máu Dodson thì đã chẳng đời nào xảy ra cái cục diện tẩu tán tiền bạc ngớ ngẩn này. Maggie suýt chút nữa không kìm nổ được cảm xúc mà nhào vào cổ Tom ôm chầm lấy, nếu như không bị bà dì Moss nhanh tay ngăn lại bằng cách tự mình đứng phắt dậy, nắm lấy bàn tay Tom và cất giọng nghẹn ngào:

– Cháu sẽ chẳng bao giờ phải chịu cảnh nghèo hèn vì hành động này đâu, hỡi đứa cháu ngoan của ta, nếu ở trên kia thực sự có thần linh tồn tại; và nếu số tiền ấy thực sự cần kíp cho cha cháu, vợ chồng ta sẽ gom góp trả đủ đầy, hệt như thể đang có trong tay một tờ giấy bảo đảm vững chắc nhất trên đời. Chúng ta sẽ đối xử với người khác hệt như cách mà mình muốn họ đối xử với mình; bởi vì lũ trẻ nhà ta dẫu chẳng có phước phần may mắn nào khác, thì bù lại chúng có một người cha người mẹ vô cùng lương thiện.

– Nào, – ông Glegg cất lời sau một hồi trầm ngâm suy tính trước những lời nói của Tom, – chúng ta sẽ chẳng phạm phải tội lỗi gì với đám chủ nợ cả, giả sử như cha cháu bị tuyên bố phá sản đi chăng nữa. Tôi đã nghiền ngẫm kỹ lưỡng về vấn đề này rồi, bởi vì bản thân tôi từng đóng vai trò chủ nợ và chứng kiến không biết bao nhiêu mánh lới lừa đảo. Nếu ngài ấy thực tâm muốn dâng tặng số tiền đó cho dì của cháu từ trước khi vướng vào vũng lầy kiện tụng này, thì cục diện cũng tương đương với việc chính tay ngài ấy đã hủy diệt tờ giấy nhận nợ rồi; bởi vì ngài ấy đã hạ quyết tâm chấp nhận nghèo đi một khoản tiền tương ứng. Nhưng ngặt nỗi có vô vàn thứ cần phải cân nhắc, hỡi chàng trai trẻ, – ông Glegg vừa nói vừa đưa ánh mắt giáo huấn nhìn Tom, – khi cháu dấn thân vào chốn thương trường tiền nong, và cháu có thể đang vô tình cướp đi đĩa thức ăn của người này để đắp đổi bữa sáng cho kẻ khác đấy. Ta nghi ngờ là cháu chẳng tài nào lĩnh hội nổi điều đó đâu nhỉ?

– Cháu hiểu chứ ạ, – Tom dứt khoát đáp. – Cháu thừa biết rằng nếu mình nợ tiền của một người, ta không có quyền đem nó đi ban phát cho kẻ khác. Nhưng nếu cha cháu đã hạ quyết tâm cho dì cháu số tiền đó từ trước khi ngài lâm vào cảnh nợ nần, thì ngài hoàn toàn có quyền làm điều đó.

– Khá lắm, cậu trai trẻ! Ta thật không ngờ cháu lại sắc sảo và nhạy bén đến thế đấy, – ông Glegg cất lời bằng một vẻ bộc trực hiếm thấy. – Nhưng biết đâu chính tay cha cháu đã tẩu tán tờ giấy nhận nợ đó rồi thì sao. Nào chúng ta hãy cùng nhau đi tìm xem có thấy nó trong chiếc rương đựng tài liệu không nhé.

– Nó đang nằm trong phòng của bố cháu. Dì Gritty ơi, chúng ta cùng đi thôi ạ, – Maggie thì thầm.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của George Eliot

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.