Khoảng từ bốn đến năm giờ chiều ngày thứ năm tính từ hôm Stephen và Maggie rời St Ogg’s, Tom Tulliver đang đứng trên lối đi rải sỏi ngoài ngôi nhà cổ ở Dorlcote Mill. Giờ đây, anh đã là chủ nhân nơi này; anh đã hoàn thành được một nửa tâm nguyện trước lúc lâm của cha, và qua bao năm tự rèn giũa kiên định cùng lao động miệt mài, anh đã gần đạt được, thậm chí vượt mức, sự kính trọng vốn từng là di sản kiêu hãnh của dòng họ Dodson và Tulliver.
Nhưng nét mặt của Tom, khi đứng dưới ánh nắng mùa hạ oi ả và tĩnh lặng của buổi chiều hôm ấy, lại chẳng hề có lấy một chút vui mừng hay đắc thắng. Miệng anh mím lại với vẻ cay đắng nhất, vầng trán nghiêm nghị hằn lên những nếp nhăn sâu và cứng nhắc nhất, khi anh kéo sụp vành mũ che khuất đôi mắt để tránh nắng, rồi đút sâu hai tay vào túi quần, bắt đầu đi qua đi lại trên lối sỏi. Không một tin tức nào về em gái anh lọt tai kể từ lúc Bob Jakin trở về bằng tàu thủy từ Mudport, dập tắt mọi phỏng đoán vô lý về một tai nạn trên sông bằng lời khẳng định rằng anh đã thấy cô bước lên từ một chiếc thuyền cùng ông Stephen Guest. Liệu tin tức tiếp theo sẽ là cô đã kết hôn, hay chuyện gì khác? Có lẽ là cô chưa kết hôn; tâm trí Tom đã chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống tồi tệ nhất có thể xảy ra — không phải cái chết, mà là sự nhục nhã.
Trong lúc anh đang đi với tấm lưng hướng về phía cổng chính và gương mặt quay về phía dòng nước xiết của cối xay, một bóng người cao gót, với đôi mắt đen láy mà chúng ta thừa rõ, tiến đến cổng và khựng lại nhìn anh với trái tim đập loạn nhịp. Người anh trai chính là con người mà từ thuở nhỏ cô đã kính sợ nhất; nỗi sợ hãi phát sinh trong lòng chúng ta khi yêu một kẻ bất dung, cương quyết, không thể lay chuyển hay uốn nắn, với một tâm trí mà ta chẳng bao giờ có thể noi theo, thế nhưng ta lại không thể chịu đựng nổi việc khiến họ trở nên xa cách.
Nỗi sợ hãi bám rễ sâu ấy giờ đây đang làm Maggie run rẩy; nhưng tâm trí cô đã kiên quyết hướng về việc trở lại với anh trai mình, như một chốn dung thân tự nhiên đã được ban tặng cho cô. Trong nỗi nhục nhã tột cùng khi nhìn lại sự yếu mềm của chính mình — trong nỗi đau đớn vì vết thương mà cô đã gây ra — cô gần như khao khát phải chịu đựng sự nghiêm khắc từ những lời quở trách của Tom, được nhẫn nại cúi đầu im lặng trước phán quyết khắc nghiệt, đầy chê trách mà cô từng bao lần chống lại; giờ đây, điều đó đối với cô dường như chẳng có gì là bất công — nào có ai yếu đuối hơn cô lúc này chứ? Cô khao khát thứ hỗ trợ tinh thần bên ngoài cho mục đích hướng thiện của mình, thứ sẽ đến từ sự thú tội hoàn toàn, phục tùng; từ việc đứng trước những con người mà ánh mắt và lời nói sẽ phản chiếu chính lương tâm cô.
Maggie đã phải nằm liệt giường ở York suốt một ngày với cơn đau đầu kiệt quệ vốn dễ xảy ra sau sức ép khủng khiếp của ngày và đêm hôm trước. Vẻ đau đớn thể xác vẫn vương vấn quanh vầng trán và đôi mắt cô, còn diện mạo cô, với bộ trang phục từ lâu không thay đổi, trông thật hốc hác và tiều tụy. Cô nhấc then cửa cổng và chậm rãi bước vào. Tom không nghe thấy tiếng cổng; lúc bấy giờ anh đang ở sát cái đập nước đang gầm rú; nhưng rồi anh quay lại, nâng mắt lên, và nhìn thấy bóng dáng với vẻ mặt tiều tụy, cô độc mà anh cho là sự xác nhận cho những phỏng đoán tồi tệ nhất của mình. Anh sững lại, run rẩy, mặt tái mét vì chán ghét và phẫn nộ.
Maggie cũng khựng lại, cách anh chừng ba thước. Cô cảm nhận được sự căm ghét hằn trên khuôn mặt anh, cảm nhận nó đang xộc qua từng thớ thịt; nhưng cô buộc phải lên tiếng.
“Tom,” cô cất lời yếu ớt, “em đã quay lại với anh... em đã quay về nhà — để tìm chốn nương thân — để kể cho anh nghe mọi chuyện.”
“Cô sẽ chẳng tìm được mái nhà nào ở đây đâu,” anh đáp, cơn giận run rẩy. “Cô đã làm nhục tất cả chúng ta. Cô đã làm nhục tên tuổi của cha. Cô đã trở thành lời nguyền cho những ân nhân tốt nhất của mình. Cô thật đê tiện, giả dối; chẳng có động cơ nào đủ sức kìm hãm được cô. Tôi từ cô vĩnh viễn. Cô không thuộc về tôi nữa.”
Mẹ của họ lúc này đã ra tới cửa. Bà đứng chết lặng trước cú sốc kép: nhìn thấy Maggie và nghe những lời của Tom.
“Tom,” Maggie nói với vẻ can đảm hơn, “có lẽ em không tội lỗi như anh đang nghĩ. Em chưa bao giờ có ý định buông xuôi cảm xúc của mình. Em đã chống cự lại chúng. Em đã bị cuốn đi quá xa trên thuyền để mà có thể quay lại vào ngày thứ Ba. Em đã trở về ngay khi có thể.”
“Tôi không thể tin cô được nữa,” Tom nói, dần chuyển từ sự kích động run rẩy lúc ban đầu sang vẻ lạnh lùng, cứng nhắc. “Cô đã duy trì một mối quan hệ lén lút với Stephen Guest — y như cô từng làm với kẻ khác trước đây. Y đã đến thăm cô ở nhà gì Moss của tôi; cô đã đi dạo một mình với y trên những con đường nhỏ; cô hẳn đã cư xử không giống một cô gái đoan trang nào nên làm với người yêu của họ hàng mình, nếu không thì chuyện đó đã chẳng bao giờ xảy ra. Người dân ở Luckreth đã thấy cô đi qua; cô đã đi qua tất cả những nơi khác; cô thừa biết mình đang làm gì. Cô đã lợi dụng Philip Wakem như một tấm bình phong để đánh lừa Lucy — người bạn tốt nhất mà cô từng có. Hãy đi mà nhìn lại cái ơn nghĩa mà cô đã trả cho con bé đi. Nó đang bệnh; không nói nên lời. Mẹ tôi còn chẳng dám đến gần nó, sợ rằng bà sẽ khiến nó nhớ lại cô.”
Maggie như chết trân một nửa — bị đè nặng bởi nỗi thống khổ đến mức chẳng thể nhận thức nổi sự khác biệt giữa tội lỗi thực sự của mình và những lời buộc tội của anh trai, lại càng không thể tự minh oan.
“Tom,” cô nói, hai tay siết chặt lấy nhau dưới lớp áo choàng, cố gắng cất lời lần nữa, “dù em đã làm gì đi nữa, em vô cùng hối hận. Em muốn bù đắp. Em sẽ chịu đựng bất cứ điều gì. Em muốn được ngăn không cho mình làm điều sai trái nữa.”
“Cái gì sẽ ngăn được cô?” Tom nói với vẻ cay đắng tàn nhẫn. “Không phải tôn giáo; không phải tình cảm tự nhiên về lòng biết ơn và danh dự. Và y — y đáng bị bắn chết, nếu không vì —— Nhưng cô còn tệ gấp mười lần y. Tôi căm ghét nhân cách và hành vi của cô. Cô nói rằng cô đã đấu tranh với cảm xúc của mình ư? Phải! Tôi cũng từng phải đấu tranh với cảm xúc chứ; nhưng tôi đã chinh phục được chúng. Cuộc đời tôi còn gian khó hơn cuộc đời cô; nhưng tôi tìm thấy sự an ủi trong việc làm tròn bổn phận của mình. Song tôi sẽ không bao giờ dung túng cho một kẻ có nhân cách như cô; thiên hạ phải biết rằng tôi phân biệt rõ ràng giữa đúng và sai. Nếu cô túng quẫn, tôi sẽ chu cấp cho cô; cứ cho mẹ biết điều đó. Nhưng cô đừng hòng bước chân vào mái nhà này. Tôi phải gánh chịu ý nghĩ về sự ô nhục của cô là đủ lắm rồi; nhìn thấy cô là tôi thấy ghê tởm.”
Maggie chậm rãi quay đi với cõi lòng tuyệt vọng. Nhưng tình mẫu tử của người mẹ tội nghiệp, đầy sợ hãi giờ đây bỗng trỗi dậy, mạnh mẽ hơn mọi nỗi khiếp hãi.
“Con tôi! Mẹ sẽ đi cùng con. Con vẫn còn có mẹ cơ mà.”
Ôi, sự bình yên ngọt ngào biết bao của cái ôm ấy dành cho Maggie đang tan nát cõi lòng! Hữu ích hơn mọi thứ lý trí chính là một ngụm lòng trắc ẩn dung dị của con người — thứ sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta.
Tom quay người bước vào nhà.
“Vào trong đi con,” bà Tulliver thì thầm. “Nó sẽ cho con ở lại ngủ trên giường của mẹ. Nó sẽ không từ chối nếu mẹ nài xin đâu.”
“Không, thưa mẹ,” Maggie nói với giọng thấp trầm, tựa tiếng rên rỉ. “Con sẽ không bao giờ bước vào trong đó.”
“Vậy thì đợi mẹ ở ngoài này nhé. Mẹ đi soạn đồ rồi đi cùng con.”
Khi người mẹ xuất hiện với chiếc mũ trùm đầu trên tay, Tom bước ra hiên nhà gặp bà và nhét tiền vào tay bà.
“Nhà của con cũng là nhà của mẹ, mãi mãi là vậy,” anh nói. “Mẹ sẽ đến và cho con biết mọi thứ mẹ cần; mẹ sẽ lại về với con mà.”
Bà Tulliver tội nghiệp cầm lấy số tiền, quá sợ hãi nên chẳng thể thốt nên lời. Điều duy nhất rõ ràng trong đầu bà lúc này chính là bản năng của người mẹ: bà phải đi cùng đứa con bất hạnh của mình.
Maggie đang đợi bên ngoài cổng; cô nắm lấy tay mẹ và hai người lặng lẽ đi một đoạn đường.
“Mẹ ơi,” cuối cùng Maggie cất lời, “chúng ta hãy đến căn nhà tranh của Luke đi. Luke sẽ rủ lòng dung chứa con. Ông ấy từng rất tốt với con hồi con còn là một cô bé.”
“Nó làm gì còn chỗ cho mẹ con mình nữa hả con, vợ nó sinh đẻ đông con lắm. Mẹ chẳng biết phải đi đâu, nếu không đến nhà mấy người dì của con; mà mẹ thì chẳng dám,” bà Tulliver tội nghiệp nói, hoàn toàn kiệt quệ về mặt phương kế trong hoàn cảnh ngặt nghèo này.
Maggie im lặng một lúc, rồi nói,—
“Mình đến nhà Bob Jakin đi mẹ; vợ anh ấy sẽ có chỗ cho chúng ta, nếu họ không cho người khác thuê trọ.”
Thế là họ tiếp tục lên đường đến St Ogg’s, hướng về ngôi nhà cổ ven sông.
Bản thân Bob đang ở nhà, với nỗi nặng trĩu trong lòng — thứ tâm trạng chống lại cả niềm vui lẫn niềm tự hào mới mẻ khi sở hữu một đứa con mới tròn hai tháng tuổi, đứa trẻ lanh lợi nhất ở độ tuổi ấy từng sinh ra trong nhà của bất kỳ vị vương tôn hay kẻ buôn gán nào. Có lẽ anh đã không thể thấu hiểu trọn vẹn sự mập mờ trong sự xuất hiện của Maggie cùng ông Stephen Guest trên bến cảng Mudport nếu anh không tận mắt chứng kiến cái tác động mà nó gây ra cho Tom khi anh đến báo tin; và kể từ dạo ấy, những tình tiết vốn dĩ đã mang sắc thái thảm họa cho cuộc trốn chạy của cô nay đã lan ra ngoài giới thượng lưu lịch thiệp của St Ogg’s, trở thành câu chuyện bàn tán xôn xao quen thuộc của đám nài ngựa và mấy chú bé chạy vặt. Thế nên khi mở cửa ra và thấy Maggie đang đứng trước mặt trong vẻ tang tóc và tiều tụy, anh chẳng có câu hỏi nào để thốt lên ngoại trừ một điều mà anh chỉ dám tự hỏi trong lòng — ông Stephen Guest đang ở đâu? Về phần mình, Bob mong rằng y đang ở căn phòng ấm áp nhất của một chốn vãng lai nào đó — nơi được cho là tồn tại ở thế giới bên kia dành cho những quý ông có nguy cơ sa cơ lỡ vận ở đó.
Căn phòng trọ vẫn còn trống, và cả bà Jakin lớn lẫn bà Jakin nhỏ đều được lệnh chuẩn bị mọi thứ thật chu đáo cho “Bà Cả và cô Tiểu thư”; khổ nỗi là cô ấy vẫn mãi là “Cô”!
Chàng Bob tháo vát cảm thấy vô cùng bối rối không hiểu kết cục này từ đâu mà ra; làm sao ông Stephen Guest có thể rời bỏ cô, hay lại để cô rời xa mình, khi mà y hoàn toàn có cơ hội giữ cô lại bên cạnh. Nhưng anh giữ im lặng, không cho phép vợ mình gặng hỏi lấy một lời; cũng chẳng thèm bước vào phòng, sợ rằng sẽ giống như hành vi xía vào chuyện người khác và có ý tò mò soi mói; anh vẫn dành cho Maggie đôi mắt đen sự thượng võ y như những ngày nào anh từng mua tặng cô món quà kỷ niệm là những cuốn sách.
Nhưng chỉ sau một hoặc hai ngày, bà Tulliver lại quay về Cối xay trong vài giờ để lo bề gia thất cho Tom. Maggie đã mong muốn điều này; sau cơn bùng nổ cảm xúc dữ dội ập đến ngay khi cô không còn mục tiêu hành động nào phải hoàn thành nữa, cô vơi bớt sự phụ thuộc vào sự hiện diện của mẹ; cô thậm chí còn khao khát được ở một mình với nỗi đau đớn của bản thân. Nhưng cô vừa đơn độc trong phòng khách cũ nhìn ra dòng sông chưa lâu thì có tiếng gõ cửa, và khi cô quay gương mặt đượm buồn lại và cất lời “Xin mời vào”, cô liền thấy Bob bước vào, bồng đứa bé trên tay và con chó Mumps theo sát gót chân.
“Chúng em sẽ quay ra, nếu việc đó làm phiền đến cô,” Bob nói.
“Không đâu,” Maggie đáp bằng giọng khẽ khàng, ước gì mình có thể mỉm cười.
Bob đóng cửa lại phía sau, tiến đến đứng trước mặt cô.
“Cô thấy đấy, chúng em có một đứa nhỏ, thưa cô, và em muốn cô nhìn ngắm nó một chút, rồi ẵm nó vào lòng, nếu cô vui lòng. Bọn em cả gan đặt tên nó theo tên cô, và nếu cô để ý tới nó một chút thì thật là vinh hạnh cho nó biết bao.”
Maggie không nói nên lời, nhưng cô chìa tay đón lấy đứa bé đỏ hỏn, trong khi Mumps hếch mũi ngửi ngửi vẻ lo lắng để xác nhận rằng sự chuyển giao này hoàn toàn ổn thỏa. Trái tim Maggie dâng trào cảm xúc trước hành động và lời nói ấy của Bob; cô thừa hiểu đó là cách anh chọn để bày tỏ sự cảm thông và lòng kính trọng của mình.
“Ngồi xuống đi, Bob,” lát sau cô cất lời, và anh lặng lẽ ngồi xuống, thấy cái lưỡi của mình bỗng dưng cứng đờ theo một cách hoàn toàn mới mẻ, từ chối thốt lên những gì anh muốn nó nói.
“Bob,” cô cất lời sau vài khoảnh khắc, cúi nhìn đứa bé và ôm nó thật cẩn thận, cứ như sợ rằng nó có thể tuột khỏi tâm trí và những ngón tay mình, “tôi có một việc muốn nhờ anh.”
“Cô đừng nói thế, thưa cô,” Bob vừa nói vừa túm lấy lớp da cổ con Mumps; “nếu có bất cứ việc gì em làm được cho cô, em xin coi đó như tiền công của cả ngày làm việc ấy.”
“Tôi muốn anh đến gặp Tiến sĩ Kenn, xin phép được nói chuyện với ông ấy, và thưa rằng tôi đang ở đây, tôi sẽ rất biết ơn nếu ông ấy có thể ghé thăm tôi trong lúc mẹ tôi vắng nhà. Bà sẽ không về cho đến tận tối muộn.”
“Ồ, thưa cô, em sẵn sàng đi ngay tức khắc thôi — chỉ cách có một bước chân — nhưng vợ Tiến sĩ Kenn vừa mới qua đời; bà ấy sẽ được an táng vào ngày mai; mất đúng vào ngày em từ Mudport về. Tiếc thật đấy, sao bà ấy lại qua đời đúng vào lúc này, khi cô đang cần ông ấy cơ chứ. Em e là mình chưa dám bén mảng đến gần ông ấy lúc này đâu.”
“Ôi không, Bob,” Maggie nói, “chúng ta hãy gác lại chuyện đó đã... có lẽ đợi đến vài ngày nữa, khi nào anh nghe tin ông ấy đã đi lại bình thường. Nhưng biết đâu ông ấy lại đi khỏi thị trấn — đi đến một nơi nào đó xa xôi,” cô nói thêm, với một nỗi tuyệt vọng mới mẻ xuất hiện từ ý nghĩ ấy.
“Không đâu cô,” Bob nói. “Ông ấy sẽ chẳng đi đâu hết. Ông ấy không phải là loại quý tộc chuyên đi đến mấy khu nghỉ dưỡng để khóc lóc khi vợ chết; ông ấy còn khối việc khác phải làm. Ông ấy quản lý giáo xứ sắc bén lắm chứ lị. Chính ông ấy là người làm lễ rửa tội cho đứa nhỏ nhà em đấy; và ông ấy còn truy vấn xem em làm gì vào ngày Chủ nhật mà không đến nhà thờ. Nhưng em bảo với ông ấy là em bận đi buôn chuyến ba phần tư thời gian trong các ngày Chủ nhật — rồi lại quen việc đi bộ suốt, em chẳng thể ngồi lì lâu đến thế được — ‘mà lạy Chúa, thưa ngài,’ em thưa thế, ‘một kẻ bán hàng rong thì chỉ cần một chút xíu lễ nghĩa nhà thờ là đủ; nó đậm đà rồi,’ em bảo thế, ‘cần gì phải bôi trát cho dày làm chi.’ Chà, thưa cô, đứa nhỏ ngoan ngoãn biết bao khi ở bên cô! Trông cứ như thể nó nhận ra cô vậy; chắc chắn là nó hơi nhận ra rồi đấy — giống như loài chim biết phân biệt buổi sáng vậy thôi.”
Lúc này chiếc lưỡi của Bob rõ ràng đã được tháo bỏ khỏi sự ràng buộc bất thường và thậm chí có nguy cơ làm việc nhiều hơn mức cần thiết. Nhưng những đề tài mà anh khao khát được tỏ tường lại quá ư khó khăn và trắc trở để có thể tiếp cận, khiến chiếc lưỡi của anh có vẻ muốn chạy dài trên con đường bằng phẳng hơn là dấn thân vào lối đi chưa từng có dấu chân người ấy. Anh nhận thức được điều đó và lại im lặng một lát, suy ngẫm thật lâu về những hình thức câu hỏi khả dĩ mà anh có thể đặt ra. Cuối cùng, anh cất giọng rụt rè hơn thường lệ,—
“Cô có cho phép em hỏi cô một điều duy nhất này thôi không, thưa cô?”
Maggie có phần giật mình, nhưng cô đáp: “Được chứ, Bob, nếu đó là chuyện về bản thân tôi — chứ không phải về bất kỳ ai khác.”
“Vâng, thưa cô, chuyện thế này ạ. Cô có đang ôm hận ai không?”
“Không, chẳng giận hận ai cả,” Maggie ngước lên nhìn anh dò hỏi. “Tại sao thế?”
“Ôi, lạy Chúa, thưa cô,” Bob vừa nói vừa bấm mạnh vào cổ con Mumps hơn bao giờ hết. “Em ước gì cô có, và hãy nói cho em biết; em sẽ nện cho kẻ đó một trận tơi bời hoa lá — thật đấy — và Quan tòa muốn làm gì em sau đó thì tùy.”
“Ôi, Bob,” Maggie mỉm cười nhạt, “anh quả là một người bạn rất tốt của tôi. Nhưng tôi chẳng muốn trừng phạt bất cứ ai, dù cho họ có đối xử tệ với tôi đi nữa; chính tôi cũng đã phạm lỗi quá nhiều lần rồi.”
Quan điểm này khiến Bob cảm thấy khó hiểu, và nó càng phủ lên bức tranh về những gì thực sự đã xảy ra giữa Stephen và Maggie một lớp sương mù dày đặc hơn bao giờ hết. Nhưng nếu gặng hỏi thêm thì sẽ trở thành hành vi quá đà xâm phạm đời tư, ngay cả khi anh có thể diễn đạt chúng một cách thích hợp, thế nên anh đành phải ẵm đứa bé trở lại với người mẹ đang ngóng trông.
“Biết đâu cô lại muốn có con Mumps bầu bạn đấy, thưa cô,” anh nói sau khi đã bế lại đứa bé. “Nó là tay bầu bạn cừ khôi lắm đấy, con Mumps ấy; nó biết tuốt mọi chuyện mà chẳng lầm bầm phàn nàn gì hết. Nếu em bảo nó, nó sẽ nằm lì trước mặt cô và canh gác cho cô, im lặng tuyệt đối — y như cách nó canh gác bọc hàng của em vậy. Cô cứ để nó lại đây một chốc nhé; nó sẽ quý cô ngay thôi. Ôi chao, có một con vật vô tri quý mến mình thật là tuyệt; nó sẽ bám lấy cô và chẳng bao giờ lém lỉnh cãi chày cãi cối.”
“Ừ, xin hãy để nó lại đây,” Maggie nói. “Tôi nghĩ mình rất muốn có Mumps làm bạn đấy.”
“Mumps, nằm xuống đấy,” Bob nói, chỉ tay xuống một vị trí trước mặt Maggie, “và tuyệt đối không được nhúc nhích cho đến khi có người gọi.”
Mumps liền nằm rạp xuống ngay lập tức, và chẳng hề có một biểu hiện bứt rứt nào khi chủ nhân rời khỏi phòng.