Bên Dòng Floss

Lượt đọc: 31 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Một Tiếng Nói Từ Quá Khứ

❊ ❊ ❊

Một buổi chiều nọ, khi những tán hạt dẻ bắt đầu trổ hoa, Maggie đem chiếc ghế ra đặt trước cửa chính và ngồi đó với một cuốn sách trên đùi. Đôi mắt sẫm màu của cô rời khỏi trang sách, nhưng dường như chẳng màng thưởng ngoạn ánh nắng đang xuyên qua lớp màn hoa nhài ở mái hiên nhô ra bên phải, hắt những cái bóng rợp lá lên gò má gầy và tròn trịa của cô; chúng có vẻ đang kiếm tìm một điều gì đó mà ánh nắng kia không thể soi tỏ. Đó lại là một ngày bi thảm hơn mọi ngày; cha cô, sau chuyến viếng thăm của Wakem, đã lên một cơn thịnh nộ cuồng nộ, trong đó chỉ vì một lỗi lầm vặt vãnh mà ông đã đánh đập cậu bé phụ việc ở xối. Trước đó, kể từ khi lâm bệnh, ông đã từng có một cơn thịnh nộ tương tự khi đánh chính con ngựa của mình, và cảnh tượng ấy đã để lại một nỗi kinh hoàng dai dẳng trong tâm trí Maggie. Ý nghĩ ấy cứ chực trào rằng có lúc nào đó ông có thể đánh cả người mẹ khốn khổ nếu bà vô tình cất lời yếu ớt sai thời điểm. Nỗi sợ hãi tột cùng của cô là cha mình sẽ chồng chất thêm vào tai họa hiện tại nỗi khốn cùng vì làm một điều nhục nhã không thể nào gột rửa. Cuốn sách giáo khoa rách rưới của Tom mà cô đang ôm trong lòng chẳng thể mang lại cho cô chút nghị lực nào trước sức nặng của nỗi sợ đó; và hết lần này đến lần khác, đôi mắt cô ngấn lệ khi thẫn thờ nhìn đi chỗ khác, chẳng thấy những tán cây hạt dẻ hay chân trời xa xăm, mà chỉ thấy những cảnh tượng buồn đau của gia đình trong tương lai.

Bỗng cô giật mình bởi tiếng cổng mở và những bước chân trên sỏi. Không phải Tom bước vào, mà là một người đàn ông đội mũ da hải cẩu, mặc áo lê-gờ nhung xanh, vác trên lưng một bọc đồ và theo sát phía sau là một con chó sục bò có bộ lông vằn vện cùng vẻ mặt thách thức.

“Ồ, Bob, là anh đấy à!” Maggie thốt lên, đứng phắt dậy với nụ cười nhận ra đầy vui sướng, bởi những nghĩa cử ân cần chẳng có bao nhiêu để phai mờ ký ức về sự hào phóng của Bob; “Em mừng quá khi gặp lại anh.”

“Xin chào cô,” Bob nói, nhấc chiếc mũ lộ gương mặt rạng rỡ niềm vui, nhưng ngay lập tức giũ bỏ chút bối rối bằng cách nhìn xuống con chó của mình và cất giọng ghê tởm: “Biến đi, đồ đần thối tha!”

“Anh tôi chưa về đâu, Bob,” Maggie nói; “ban ngày anh ấy luôn ở St Ogg’s.”

“Vâng, thưa cô,” Bob đáp, “tôi cũng rất muốn gặp cậu Tom, nhưng không phải vì việc đó mà tôi đến đây—cô nhìn xem này!”

Bob đang đặt gói đồ xuống bậc cửa, kèm theo một loạt cuốn sách nhỏ được buộc lại với nhau bằng dây.

Tuy nhiên, hình như chúng không phải là thứ anh muốn thu hút sự chú ý của Maggie, mà là một vật khác anh kẹp dưới nách, được gói trong một chiếc khăn tay màu đỏ.

“Xem này!” anh lại nói, đặt gói đồ đỏ lên những cuốn kia và mở ra; “mong cô đừng nghĩ tôi quá tự tiện, nhưng tôi tình cờ vớ được mấy cuốn sách này, và nghĩ rằng chúng có thể phần nào bù đắp cho cô những gì đã mất; vì tôi nghe cô nhắc đến tranh ảnh,—còn về tranh ảnh thì hãy nhìn đây!”

Việc mở chiếc khăn tay màu đỏ đã hé lộ một cuốn “Keepsake” cũ kỹ và sáu, bảy số báo “Portrait Gallery” khổ lớn hoàng gia; và lời đề nghị khẩn thiết hãy nhìn nhắm hướng tới bức chân dung George IV với tất cả sự uy nghi của chiếc đầu bẹt cùng chiếc khăn quấn cổ cồng kềnh.

“Có đủ các loại quý ông ở đây,” Bob nói tiếp, lật giở từng trang với vẻ hào hứng đôi chút, “đủ mọi loại mũi,—có người hói, có người đội tóc giả,—chắc là mấy ông nghị sĩ. Và đây,” anh vừa nói vừa mở cuốn “Keepsake”,—“đây là các quý bà dành cho cô, người tóc xoăn, người tóc thẳng, người mỉm cười nghiêng đầu, người trông như sắp khóc,—nhìn kìa,—ngồi bệt trên mặt đất ngoài trời, ăn vận y như những quý bà tôi từng thấy bước ra từ xe ngựa trong các buổi vũ hội tại Old Hall đằng kia. Chà chà! Không biết mấy gã đi tán tỉnh họ ăn mặc thế nào nhỉ! Tôi đã thức đến tận mười hai giờ đêm qua để ngắm họ đấy,—ngắm đến nỗi họ nhìn chừng tôi từ trong tranh như thể họ biết khi tôi cất lời với họ vậy. Nhưng chà! Tôi có biết nói gì với họ đâu. Chắc họ sẽ là bạn đồng hành hợp với cô hơn; và gã bán sách bảo rằng chúng là vô địch về khoản tranh ảnh; hắn bảo đó là hàng thượng thặng.”

“Và anh đã mua chúng cho em sao, Bob?” Maggie nói, vô cùng xúc động trước lòng tốt mộc mạc ấy. “Anh thật tốt, thật quá đỗi tốt bụng! Nhưng em sợ anh đã tốn rất nhiều tiền cho chúng.”

“Đâu có!” Bob đáp. “Tôi sẵn sàng bỏ ra gấp ba số tiền đó nếu chúng có thể bù đắp phần nào cho cô vì những cuốn sách đã bị đem bán, thưa cô. Vì tôi chưa bao giờ quên nét mặt của cô khi cô buồn bã vì mất sách; hình ảnh đó cứ bám lấy tôi như thể một bức tranh treo trước mặt vậy. Và khi tôi thấy cuốn sách mở ra trên quầy hàng, với hình ảnh người phụ nữ nhìn ra bằng đôi mắt hơi giống mắt cô lúc cô đang buồn rầu,—cô tha lỗi cho sự mạn phép của tôi nhé,—tôi nghĩ mình cứ cả gan mua nó cho cô, rồi tôi mua thêm những cuốn sách đầy các quý ông cho đủ bộ; và rồi”—đến đây Bob cầm gói sách nhỏ buộc dây lên—“tôi nghĩ chắc cô cũng thích đọc thêm chút chữ nghĩa bên cạnh tranh ảnh, nên tôi mua đống này với giá hời,—chúng đặc kín chữ, và tôi nghĩ chúng sẽ chẳng hại gì khi đi kèm với những cuốn sách thượng hạng này. Và tôi mong cô đừng từ chối tôi, đừng bảo rằng cô không nhận chúng, giống như cách cậu Tom đã làm với những đồng tiền vàng.”

“Không đâu, thực sự không đâu, Bob,” Maggie nói, “em vô cùng biết ơn anh vì đã nghĩ đến em và đối xử tốt với em cùng Tom. Em nghĩ chưa từng có ai làm một việc tử tế đến thế cho em trước đây. Em chẳng có mấy người bạn quan tâm đến mình.”

“Nuôi một con chó đi, cô!—chúng còn làm bạn tốt hơn bất kỳ ai theo đạo Thiên chúa,” Bob nói, lại đặt xuống gói đồ mà anh vừa nhướng lên với ý định chuồn đi cho nhanh; bởi anh cảm thấy vô cùng ngượng ngùng khi trò chuyện với một thiếu nữ như Maggie, dẫu cho như anh thường tự nhận, “cái lưỡi cứ chạy trước cả ý nghĩ” mỗi khi anh bắt đầu cất lời. “Tôi không thể cho cô Mumps được, vì nó sẽ đau lòng lắm nếu phải rời xa tôi—này Mumps, mày nói sao hả, đồ vô lại?” (Mumps từ chối diễn tả dài dòng hơn ngoài một cái ngoắc đuôi duy nhất mang ý khẳng định.) “Nhưng tôi sẽ kiếm cho cô một con cún, cứ tự nhiên đi cô.”

“Không, cảm ơn anh, Bob. Nhà chúng ta có chó canh cửa rồi, và em không được phép nuôi chó riêng.”

“Chà, tiếc thật; nếu không thì có một con cún,—nếu cô không bận tâm chuyện nó không phải chó thuần chủng; mẹ nó chuyên diễn kịch rối Punch—một con chó cái cực kỳ khôn ngoan; tiếng sủa của nó còn chứa đựng nhiều ý nghĩa hơn mớ lời nói của một nửa đám đàn ông từ sáng đến tối mịt. Có một gã làm nghề khuân vác chậu—một nghề thấp kém nhất trên đường thiên lý—hắn bảo rằng, ‘Con Toby chẳng qua chỉ là loài lai tạp; có gì đẹp đẽ ở nó đâu.’ Nhưng tôi bảo hắn thế này, ‘Này, mày thì khác gì loài lai tạp? Cha mẹ mày cũng chẳng có gì xuất sắc khi nhìn vào cái mặt mày đâu.’ Không phải là tôi không thích chó thuần chủng, nhưng tôi không tài nào chịu nổi cảnh con chó ghẻ này nhe nanh nhạo báng con chó ghẻ khác. Chúc cô một buổi tối tốt lành,” Bob nói, đột ngột xách lại gói đồ với ý thức rằng cái lưỡi của mình đang hành xử không đúng phép.

“Thi thoảng anh có ghé qua vào buổi tối để thăm anh tôi không, Bob?” Maggie nói.

“Vâng, thưa cô, cảm ơn cô—để dịp khác nhé. Nhờ cô chuyển lời hỏi thăm của tôi đến cậu ấy. Chà, cậu Tom lớn bổng thành một chàng trai rồi đấy; cậu ấy cao giò lên, còn tôi thì không.”

Gói đồ lại hạ xuống, vì cái móc gậy chẳng hiểu sao lại bị vướng.

“Chắc anh không gọi Mumps là chó ghẻ đâu nhỉ?” Maggie nói, đoán trước rằng bất kỳ sự quan tâm nào cô dành cho Mumps cũng sẽ khiến chủ nhân của nó vui lòng.

“Không, thưa cô, còn lâu mới thế,” Bob nói với nụ cười đầy thương cảm; “Mumps là một con chó lai tuyệt hảo nhất mà cô có thể tìm thấy dọc bờ sông Floss này, và tôi đã theo sà lan ngược xuôi trên đó đủ số lần rồi. Lũ quý tộc còn phải dừng lại để ngắm nó cơ mà; nhưng đừng hiòng bắt Mumps ngắm lại bọn họ nhiều,—nó lo chuyện của nó thôi.”

Biểu cảm trên mặt Mumps—dường như đang bao dung cho sự tồn tại thừa thãi của vạn vật nói chung—đã minh chứng hùng hồn cho lời ca ngợi cao ngất này.

“Trông nó dữ tợn quá,” Maggie nói. “Nó có cho em vuốt ve không?”

“Ái chà, có chứ, và nó sẽ cảm ơn cô nữa. Mumps biết rõ ai là bạn mình. Nó không phải loại chó bị lừa phỉnh bởi bánh gừng đâu; nó ngửi thấy mùi kẻ trộm còn thính hơn ngửi mùi bánh gừng ấy chứ. Chúa ơi, tôi trò chuyện với nó hàng giờ liền khi đi qua những chốn heo hút, và nếu lỡ gây ra chuyện gì nghịch ngợm, tôi luôn thú nhận với nó. Tôi chẳng có bí mật nào mà Mumps không biết. Nó biết cả chuyện cái ngón cái to tướng của tôi nữa đấy.”

“Cái ngón cái to tướng của anh—là sao hả, Bob?” Maggie hỏi.

“Thì nó là thế đấy, cô,” Bob nhanh nhảu đáp, đưa ra một ví dụ vô cùng to bản về sự khác biệt giữa loài người và loài khỉ. “Nó có tác dụng khi đo vải flannelette đấy cô ạ. Tôi chuyên mang vải flannelette, vì nó nhẹ để vác trên lưng, mà lại là loại vải đắt tiền, nên ngón cái to có lợi lắm. Tôi đặt ngón tay cái vào cuối thước vải và cắt ở phía bên này, mấy bà già đâu có tinh mắt mà nhận ra.”

“Nhưng Bob,” Maggie nói với vẻ mặt nghiêm nghị, “đó là gian lận; em không thích nghe anh nói thế chút nào.”

“Không thích sao, cô?” Bob đáp với giọng tiếc nuối. “Vậy thì tôi xin lỗi vì đã nói ra. Nhưng tôi quen nói chuyện với Mumps mất rồi, mà nó thì chẳng bận tâm đến chút gian lận nhỏ nhặt khi đối tượng là mấy mụ keo kiệt cứ kì kèo mặc cả mãi, muốn mua vải rẻ như cho mà chẳng thèm tự hỏi làm sao tôi kiếm được bữa ăn từ đó. Tôi chưa bao giờ lừa gạt ai không có ý định lừa gạt tôi cả, cô ơi—chúa ơi, tôi là một chàng trai lương thiện mà; chỉ là tôi phải tìm chút trò tiêu khiển, và giờ đây không còn đi săn bằng chồn sương nữa, tôi chẳng còn ai để lừa phỉnh ngoài mấy mụ hay mặc cả ấy. Chúc cô một buổi tối tốt lành.”

“Tạm biệt Bob. Cảm ơn anh rất nhiều vì đã mang sách đến cho em. Và nhớ ghé thăm Tom nhé.”

“Vâng, thưa cô,” Bob bước đi vài bước rồi quay nửa người lại nói: “Tôi sẽ bỏ cái trò dùng ngón cái to tướng ấy đi, nếu cô nghĩ không tốt về tôi; nhưng tiếc thật đấy cô nhỉ. Tôi chẳng tìm được ngón tay nào khác hay ho bằng,—mà có ngón tay cái to thì để làm gì cơ chứ? Thà nó cứ nhỏ thon đi còn hơn.”

Maggie, bỗng chốc được tôn lên hàng Đức Mẹ trong tâm tưởng của Bob, bật cười bất giác; trước bầu không khí thuận lợi đó, đôi mắt xanh của kẻ sùng bái cũng lấp lánh chớp chớp, rồi anh chạm tay lên mũ và rảo bước rời đi.

Thời đại hiệp sĩ vẫn chưa tàn lụi, bất chấp điếu văn bi tráng của Burke dành cho họ; chúng vẫn sống trong lòng sự sùng bái xa vời mà biết bao chàng trai và người đàn ông dành cho người phụ nữ mà anh ta chưa từng mơ tới việc chạm dù chỉ vào ngón út hay vạt áo của nàng. Bob với chiếc gói trên lưng dành sự tôn sùng đầy kính cẩn cho thiếu nữ mắt sẫm màu này chẳng khác nào một hiệp sĩ mặc giáp cất cao tên nàng khi phi ngựa vào trận chiến.

Tia vui vẻ ấy nhanh chóng vụt tắt trên khuôn mặt Maggie, và có lẽ nó chỉ càng làm cho nỗi u buồn quay trở lại thêm sâu sắc bởi sự đối lập. Cô quá nản lòng để có thể thích thú trả lời những câu hỏi về món quà sách của Bob, và cô mang chúng lên phòng ngủ, đặt xuống đó rồi ngồi ngắm chiếc ghế đẩu duy nhất của mình, chẳng buồn lật xem ngay lúc này. Cô tựa má vào khung cửa sổ và thảnh thốt nghĩ rằng chàng Bob vô tư lự có một số phận hạnh phúc hơn cô rất nhiều.

Cảm giác cô độc và thiếu thốn niềm vui tột cùng của Maggie càng trở nên sâu sắc hơn cùng với ánh sáng rực rỡ của mùa xuân đang đến gần. Tất cả những góc nhỏ yêu thích ngoài trời quanh nhà, những nơi tưởng chừng đã cùng cha mẹ cô nuôi dưỡng và nâng niu cô, giờ đây đều hoà lẫn với nỗi buồn gia đình và chẳng vớt vát được nụ cười nào từ ánh nắng. Mọi sự âu yếm, mọi niềm vui mà đứa trẻ tội nghiệp từng có giờ đây tựa như một chiếc dây thần kinh đau nhức đối với cô. Chẳng còn âm nhạc nào dành cho cô nữa—không đàn piano, không những giọng hát hòa quyện, không có những nhạc cụ dây tuyệt diệu với tiếng khóc thổn thức của những linh hồn bị giam cầm gửi gắm một rung động kỳ lạ qua khung người cô. Và trong suốt quãng đời đi học, chẳng còn lại gì cho cô ngoài bộ sưu tập sách giáo khoa nhỏ bé, thứ mà cô lật giở với cảm giác nhàm chán đến phát ói khi biết rằng cô đã thuộc làu tất cả, và chúng hoàn toàn khô khan chẳng đem lại chút an ủi nào. Ngay cả khi ở trường, cô vẫn thường ao ước những cuốn sách có nhiều nội dung hơn; mọi thứ cô học được ở đó đều giống như những đầu sợi chỉ đứt lìa ngay lập tức. Và giờ đây—thiếu đi sức hút gián tiếp từ sự ganh đua ở trường—Télémaque chẳng khác nào cám lợn; những câu hỏi khô khan, cứng nhắc về Giáo lý Thiên Chúa cũng vậy; chúng chẳng có chút hương vị hay sức mạnh nào. Có những lúc Maggie nghĩ rằng mình có thể thỏa mãn với việc đắm chìm trong những hoang tưởng; nếu cô có thể sở hữu toàn bộ tiểu thuyết của Scott và toàn bộ thơ của Byron!—thì có lẽ, cô đã tìm đủ hạnh phúc để làm cùn mòn sự nhạy cảm của bản thân trước đời sống thường nhật thực tế. Thế nhưng chúng lại không hẳn là thứ cô thực sự muốn. Cô có thể tạo ra những thế giới mộng tưởng của riêng mình, nhưng giờ đây không thế giới mộng tưởng nào có thể làm cô thỏa mãn. Cô khao khát một lời giải thích cho cuộc đời thực tế, khắc nghiệt này—người cha có vẻ ngoài bất hạnh ngồi bên bàn ăn sáng tẻ nhạt; người mẹ ngây thơ, ngơ ngác; những công việc tầm thường nhỏ nhặt lấp đầy thời gian, hay sự trống rỗng đầy áp lực của những khoảng thời gian rảnh rỗi mệt mỏi, không niềm vui; nhu cầu về một tình yêu dịu dàng, biểu lộ rõ ràng; cảm giác phũ phàng rằng Tom chẳng màng đến suy nghĩ hay cảm xúc của cô, và rằng họ không còn là bạn chơi đùa cùng nhau nữa; sự thiếu thốn mọi điều tốt đẹp từng đến với cô nhiều hơn những người khác—cô cần một chiếc chìa khóa giúp cô thấu hiểu, và qua sự thấu hiểu ấy, có thể kiên cường chịu đựng gánh nặng đã giáng xuống trái tim non trẻ của mình. Nếu cô được dạy “kiến thức và sự khôn ngoan thực sự, thứ mà những bậc vĩ nhân từng biết,” cô nghĩ mình đã nắm giữ được những bí mật của cuộc đời; giá mà cô có sách, để tự mình học hỏi những điều người thông thái biết! Các vị thánh và tu sĩ tử đạo chưa từng làm Maggie hứng thú bằng các nhà hiền triết và thi sĩ. Cô biết rất ít về các vị thánh và tử đạo, và rút ra kết luận chung từ việc học của mình rằng họ chỉ là một biện pháp tạm thời nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Công giáo, và đều đã tử đạo tại Smithfield.

Trong một lần trầm ngâm như thế, cô chợt nhớ ra mình đã quên những cuốn sách giáo khoa của Tom được gửi về nhà trong chiếc rương của cậu. Nhưng cô thấy kho sách đã thu gọn lại một cách khó hiểu chỉ còn vài cuốn cũ mèm bị lật quăn mép—Từ điển và Ngữ pháp tiếng Latinh, cuốn Delectus, một cuốn Eutropius rách rưới, cuốn Virgil sờn gáy, Logic học của Aldrich, và cuốn Euclid gây ức chế khôn cùng. Dù sao đi nữa, tiếng Latinh, Euclid và Logic chắc chắn sẽ là một bước tiến đáng kể trong trí tuệ nam tính—trong thứ kiến thức khiến đàn ông cảm thấy mãn nguyện, thậm chí vui sướng khi được sống. Không phải là khát khao vươn tới sự khôn ngoan đích thực ấy hoàn toàn đơn thuần; đôi khi một thứ ảo ảnh lại dâng lên trên sa mạc tương lai, nơi cô dường như thấy mình được tôn vinh vì những thành tựu đáng kinh ngạc. Và thế là đứa trẻ tội nghiệp, với cơn đói khát tâm hồn và những ảo tưởng tự phụ của bản thân, bắt đầu gặm nhấm thứ quả có vỏ dày của cây tri thức, lấp đầy những khoảng thời gian trống trải bằng tiếng Latinh, hình học và các quy tắc tam đoạn luận, đồng thời cảm thấy một tia chiến thắng le lói chốc lát rằng sự hiểu biết của cô hoàn toàn sánh ngang với những môn học đặc trưng nam tính ấy. Suốt một hoặc hai tuần, cô tiếp tục một cách quả quyết dẫu cho lòng thỉnh thoảng chùng xuống, như thể cô đơn độc bước về Đất Hứa để rồi nhận ra đó là một cuộc hành trình khô cằn, không lối đi và đầy bất định. Trong sự khắt khe của quyết tâm ban đầu, cô mang cuốn Aldrich ra đồng, rồi rời mắt khỏi trang sách nhìn lên bầu trời nơi có chim sơn ca đang lượn lờ chớp chớp, hay nhìn về phía sậy và bụi rậm bên sông nơi loài thủy cầm lao vụt ra trong chuyến bay lo lắng, vụng về—với cảm giác giật mình rằng mối liên hệ giữa cuốn Aldrich và thế giới sống động này đối với cô thật quá đỗi xa vời. Sự nản lòng càng sâu sắc hơn khi những ngày trôi qua, và trái tim khao khát ngày càng lấn lướt tâm trí kiên nhẫn. Chẳng hiểu sao, khi ngồi bên cửa sổ với cuốn sách trên tay, đôi mắt cô lại dán chặt một cách vô hồn vào ánh nắng ngoài trời; rồi chúng ngấn lệ, và đôi khi, nếu mẹ không có trong phòng, mọi việc học hành đều kết thúc bằng tiếng nức nở. Cô chống lại số phận của mình, cô gục ngã trước sự cô độc của nó, và những cơn giận dữ cùng sự căm ghét đối với cha mẹ—những người khác xa với hình mẫu cô mong muốn; đối với Tom—kém cõi, luôn kìm hãm cô và đối đáp lại suy nghĩ hay cảm xúc của cô bằng sự bất đồng cản trở—cứ tuôn trào qua tình cảm và lương tâm cô như dòng dung nham, làm cô hoảng sợ trước cảm giác rằng việc trở thành một ác quỷ đối với cô chẳng hề khó khăn. Khi ấy trí óc cô lại bận rộn với những tiểu thuyết hoang đường về một cuộc trốn chạy khỏi nhà để tìm kiếm điều gì đó ít tầm thường và tẻ nhạt hơn; cô sẽ tìm đến một vĩ nhân nào đó—có lẽ là Walter Scott—và kể cho ông nghe cô khốn khổ và thông minh nhường nào, chắc chắn ông sẽ làm điều gì đó cho cô. Nhưng giữa lúc mộng tưởng, cha cô có thể bước vào phòng vào buổi tối, và ngạc nhiên vì cô vẫn ngồi im không để ý đến mình, ông sẽ phàn nàn nói: “Nào, tao phải tự đi lấy dép của mình à?” Tiếng nói xuyên qua Maggie tựa nhát kiếm; còn một nỗi buồn khác ngoài nỗi buồn của chính cô, vậy mà cô lại đang tính chuyện quay lưng bỏ mặc nó.

Chiều nay, hình ảnh gương mặt tàn nhang vui vẻ của Bob đã hướng sự bất mãn của cô sang một ngã rẽ mới. Cô nghĩ đó là một phần cay đắng trong cuộc đời mình khi cô phải oằn mình gánh vác những nhu cầu lớn lao hơn những người khác dường như cảm thấy—khi cô phải chịu đựng nỗi khao khát mênh mông, vô vọng ấy đối với thứ gì đó, bất kể nó là gì, vĩ đại nhất và tuyệt vời nhất trên cõi đời này. Cô ước gì mình có thể giống Bob, với sự dốt nát dễ bằng lòng, hoặc giống Tom, người có một mục tiêu để tập trung tâm trí với ý định kiên định và phớt lờ mọi thứ khác. Đứa trẻ tội nghiệp! Khi cô tựa đầu vào khung cửa sổ, hai bàn tay đan chặt vào nhau và bàn chân dậm xuống đất, cô cô đơn trong nỗi khổ đau của mình chẳng khác nào thể cô là thiếu nữ duy nhất trong thế giới văn minh thời bấy giờ bước ra từ ghế nhà trường với một tâm hồn chưa được rèn luyện cho những cuộc đấu tranh tất yếu, không có phần thừa hưởng nào khác trong kho tàng tư tưởng kiếm tìm chật vật mà bao thế hệ lao động gian khổ đã tích lũy cho loài người, ngoài những mảnh vụn và chắp vá của văn chương nghèo nàn cùng lịch sử sai lệch, với vô vàn thông tin vô bổ về các vị vua Saxon và các vị vua đáng ngờ khác, nhưng ngặt nỗi lại hoàn toàn thiếu đi hiểu biết về những quy luật bất di dịch bên trong và bên ngoài con người, thứ mà khi chi phối các thói quen sẽ trở thành đạo đức, và khi phát triển những cảm xúc phục tùng và lệ thuộc sẽ trở thành tôn giáo—cô đơn trong khốn khổ tựa hồ như mọi thiếu nữ khác đều được nâng niu và canh chừng bởi những tâm hồn từng trải, những người không quên thời tuổi trẻ của chính họ, khi nhu cầu bức thiết và xung lực dâng trào.

Cuối cùng, đôi mắt Maggie lướt xuống những chồng sách nằm trên bệ cửa sổ, và cô nửa lơi lỏng cơn mơ màng để lật giở những trang của “Portrait Gallery”, nhưng rồi cô nhanh chóng đẩy nó sang một bên để xem xét xấp sách nhỏ được buộc bằng dây. “Beauties of the Spectator”, “Rasselas”, “Economy of Human Life”, “Gregory’s Letters”—cô thừa biết loại nội dung bên trong tất cả những cuốn này; cuốn “Christian Year”—trông giống như một tập thơ thánh ca, và cô đặt nó xuống; còn Thomas à Kempis?—cái tên này từng lướt qua trong lúc đọc sách, và cô cảm thấy sự thỏa mãn mà bất cứ ai cũng biết khi tìm được vài ý niệm để gắn kết với một cái tên cứ vẩn vơ đơn độc trong ký ức. Cô nhặt cuốn sách nhỏ, cũ kỹ và nặng nề lên với chút tò mò; các góc sách bị quăn ở nhiều chỗ, và một bàn tay nào đó nay đã vĩnh viễn yên nghỉ từng gạch chân đậm bằng mực ở một số đoạn, từ lâu đã ngả màu nâu theo thời gian. Maggie lướt qua từng trang và đọc chỗ bàn tay thầm lặng ấy chỉ dẫn: “Hãy biết rằng lòng yêu chính mình làm tổn thương ngươi hơn bất cứ thứ gì trên đời.... Nếu ngươi tìm kiếm điều này hay điều nọ, và muốn ở đây hay ở đó để tận hưởng ý muốn và lạc thú của riêng mình, ngươi sẽ chẳng bao giờ được yên tĩnh hay thoát khỏi muộn phiền; bởi trong mọi thứ thế nào cũng thiếu sót vài phần, và ở bất cứ đâu cũng sẽ có kẻ làm ngươi chướng ý.... Cả trên cao lẫn dưới thấp, dù quay cuồng hướng nào đi nữa, khắp nơi ngươi đều sẽ gặp Thánh Giá; và khắp nơi ngươi buộc phải có sự kiên nhẫn, nếu ngươi muốn có được sự bình an nội tâm và hưởng vương miện trường sinh.... Nếu ngươi khao khát vươn lên tầm cao này, ngươi phải dũng cảm lên đường, đặt rìu vào tận gốc rễ, để có thể nhổ bật và tiêu hủy khuynh hướng sai quấy tiềm ẩn hướng về bản thân, và hướng về mọi lợi ích riêng tư, trần thế. Gần như mọi thứ cần phải triệt tiêu tận gốc đều phụ thuộc vào tội lỗi này, đó là việc con người yêu thương bản thân một cách thái quá; điều ác ấy một khi đã bị khắc phục và khuất phục, ngay lập tức sẽ mang lại sự bình an và tĩnh lặng lớn lao.... Những gì ngươi chịu đựng thật nhỏ bé so với những ai từng chịu đựng quá nhiều, từng bị cám dỗ dữ dội, bị hành hạ đớn đau, bị thử thách và tôi luyện qua trăm ngàn ngả. Do đó, ngươi phải nhắc nhở bản thân về những đau khổ nặng nề hơn của người khác, để có thể dễ dàng chịu đựng những nghịch cảnh nhỏ bé của mình. Và nếu chúng có vẻ không nhỏ bé đối với ngươi, hãy cẩn thận kẻo sự thiếu kiên nhẫn của ngươi chính là nguyên nhân gây ra điều đó.... Phúc thay những đôi tai đón nhận lời thì thầm của giọng nói thiêng liêng, và không lắng nghe những lời xì xào của trần gian. Phúc thay những đôi tai không chú ý đến âm thanh vang vọng bên ngoài, mà lắng nghe Chân lý đang dạy bảo từ sâu thẳm bên trong.”

Một luồng rùng mình kỳ lạ xuyên qua Maggie khi cô đọc, tựa như thể cô bị đánh thức giữa đêm bởi một khúc nhạc trang nghiêm, kể về những linh hồn từng thổn thức trong khi tâm hồn cô đang mê muội. Cô đọc tiếp từ dấu vết màu nâu này sang dấu vết màu nâu khác mà bàn tay thầm lặng dường như đang chỉ dẫn, hầu như không ý thức được rằng mình đang đọc, mà có cảm giác như đang lắng nghe một giọng nói trầm thấp cất lên:

“Cớ sao ngươi lại ngó ngàng khắp chốn này, khi đây không phải chốn nghỉ ngơi của ngươi? Thiên đàng mới là nơi ngươi phải trú ngụ, và mọi sự trần thế phải được nhìn nhận như những thứ thúc đẩy hành trình của ngươi hướng về đó. Mọi thứ đều qua đi, và ngươi cũng vậy. Hãy cẩn thận chớ bám víu vào chúng, kẻo ngươi bị vướng bận và diệt vong.... Nếu một người dâng hiến toàn bộ tài sản, thì nó cũng chẳng là gì. Và nếu anh ta chịu đựng những sự khổ hạnh lớn lao, thì chúng cũng chỉ nhỏ nhoi. Và nếu anh ta đạt được mọi trí thức, anh ta vẫn còn rất xa đích. Và nếu anh ta có đức hạnh cao dày cùng lòng sùng kính tha thiết, vẫn còn thiếu sót rất nhiều điều; ấy là một điều vô cùng cần thiết. Điều đó là gì? Là sau khi từ bỏ tất cả, anh ta phải từ bỏ chính mình, hoàn toàn bước ra khỏi bản thân, và không giữ lại chút lòng yêu bản thân nào.... Ta đã nhiều lần nói với ngươi, và nay lại nhắc lại điều đó, Hãy từ bỏ chính mình, hãy phó thác chính mình, và ngươi sẽ hưởng được vô vàn sự bình an nội tâm.... Khi ấy mọi tưởng tượng hão huyền, mọi xáo trộn xấu xa và những bận tâm thừa thãi sẽ bay biến đi; khi ấy nỗi sợ hãi bất hợp lý sẽ rời bỏ ngươi, và tình yêu sai quấy sẽ lụi tàn.”

Maggie thở dài một hơi thật dài và vén mái tóc nặng nề ra sau, như thể để nhìn rõ hơn một thị kiến bất chợt hiện ra. Hóa ra đây chính là bí mật của cuộc đời cho phép cô từ bỏ mọi bí mật khác; đây là một tầm cao siêu việt có thể đạt tới mà không cần sự trợ giúp của những thứ bên ngoài; đây là sự thấu suốt, sức mạnh và chiến thắng có thể giành được bằng những phương tiện hoàn toàn nằm trong linh hồn cô, nơi một Bậc Thầy tối cao đang chờ đợi được lắng nghe. Nó lóe lên trong cô tựa như lời giải đáp cho một bài toán bỗng nhiên được thấu hiểu, rằng mọi đau khổ trong tuổi trẻ của cô đều xuất phát từ việc đặt trái tim vào niềm vui của riêng mình, như thể đó là nhu cầu trung tâm của vũ trụ; và lần đầu tiên cô nhìn thấy khả năng thay đổi điểm nhìn đối với việc thỏa mãn những khao khát của bản thân—đứng ra ngoài chính mình, và nhìn nhận cuộc đời mình như một phần không đáng kể của một tổng thể được dẫn dắt bởi thần linh. Cô cứ đọc mãi, đọc mãi cuốn sách cổ, ngấu nghiến những cuộc đối thoại với Bậc Thầy vô hình, hình mẫu của nỗi đau, nguồn cội của mọi sức mạnh; quay lại với nó sau khi bị gọi đi làm việc khác và đọc cho đến khi mặt trời lặn khuất sau hàng liễu. Với tất cả sự hối hả của một trí tưởng tượng chưa từng chịu yên nghỉ ở hiện tại, cô ngồi trong bóng chiều chạng vạng đang buông xuống, lập ra những kế hoạch tự hạ mình và tận tụy trọn vẹn; và trong sự nồng nhiệt của phát hiện đầu tiên, sự từ bỏ dường như chính là cánh cổng bước vào sự thỏa mãn mà cô đã khao khát vô vọng bấy lâu nay. Cô vẫn chưa nhận ra—làm sao cô có thể nhận ra khi chưa từng trải đời hơn?—chân lý sâu kín nhất từ những lời bộc bạch của vị tu sĩ già, rằng sự từ bỏ vẫn là nỗi đau, dẫu đó là nỗi đau được gánh chịu bằng sự tự nguyện. Maggie vẫn đang khao khát hạnh phúc, và ngây ngất vì cô đã tìm thấy chiếc chìa khóa dẫn đến nó. Cô chẳng biết gì về giáo lý và hệ thống, về chủ nghĩa huyền bí hay chủ nghĩa tịch mịch; nhưng tiếng nói cất lên từ thời trung cổ xa xôi ấy chính là sự truyền đạt trực tiếp niềm tin và trải nghiệm của một linh hồn con người, và đến với Maggie như một thông điệp không thể hoài nghi.

Tôi đoán đó là lý do tại sao cuốn sách nhỏ cổ kính, thứ mà bạn chỉ cần trả sáu xu ở một quầy sách cũ, lại tạo ra những phép màu cho đến tận ngày nay, biến dòng nước đắng thành ngọt ngào; trong khi những bài giảng và chuyên luận đắt đỏ mới xuất bản lại để mọi thứ y nguyên như trước. Nó được viết ra bởi một bàn tay chờ đợi sự thôi thúc của trái tim; nó là biên niên sử về một nỗi thống khổ cô đơn, thầm kín, về cuộc đấu tranh, niềm tin và chiến thắng, không được viết trên những chiếc gối nhung để dạy sự kiên nhẫn cho những ai đang bước đi với đôi bàn chân rớm máu trên những hòn đá sỏi. Và vì thế, nó vẫn mãi là chứng nhân trường tồn qua mọi thời đại về những nhu cầu và sự an ủi của con người; tiếng nói của một người anh em từng cảm nhận, chịu đựng và từ bỏ từ bao thế kỷ trước—có lẽ trong tu viện với chiếc áo choàng thô và cái đầu cạo trọc, với những bài kinh tụng vang dội, những lần nhịn ăn dài ngày và với lối diễn đạt khác chúng ta—nhưng dưới cùng một bầu trời thầm lặng, xa xôi, với cùng những khát khao mãnh liệt, những nỗ lực, những thất bại và sự mệt mỏi giống hệt.

Khi viết về lịch sử của những gia đình không theo mốt thời thượng, người ta rất dễ rơi vào một giọng điệu nhấn mạnh khác xa với giọng điệu của giới thượng lưu, nơi các nguyên tắc và niềm tin không chỉ ở mức độ cực kỳ ôn hòa mà luôn được mặc định sẵn, không có chủ đề nào được chấp nhận trừ những chủ đề có thể được chạm đến bằng một nét mỉm cười nhẹ nhàng và duyên dáng. Nhưng ngặt một nỗi, giới thượng lưu lại có rượu claret và thảm nhung, những buổi tiệc tối được lên lịch trước sáu tuần, có nhà hát opera và những phòng khiêu vũ thần tiên; giải tỏa nỗi chán chường trên những con ngựa thuần chủng; la cà ở câu lạc bộ; phải tránh xa những chiếc vòng tùng phồng rườm rà; nhờ Faraday lo chuyện khoa học và nhờ các vị giáo sĩ cao cấp có thể gặp trong những dinh thự bề thế lo chuyện tôn giáo—làm sao họ có thời gian hay nhu cầu cho niềm tin và sự nhấn mạnh cơ chứ? Nhưng giới thượng lưu, lướt đi trên đôi cánh mỏng manh của sự mỉm cười nhẹ nhàng ấy, lại là một sản phẩm tốn kém vô cùng; đòi hỏi không gì khác ngoài một đời sống quốc gia rộng lớn và gian khổ được cô đọng lại trong những nhà máy điếc tai, nồng nặc mùi hôi, tự oằn mình trong các hầm mỏ, đổ mồ hôi bên những lò luyện, nghiền ngẫm, búa nện, dệt may dưới áp lực ít nhiều của khí carbon dioxide, hoặc không thì rải rác trên những đồng cỏ nuôi cừu và những ngôi nhà cô độc, túp lều trên vùng đất trồng ngũ cốc pha sét hoặc phấn, nơi những ngày mưa trông thật ảm đạm. Đời sống quốc gia rộng lớn này được xây dựng hoàn toàn dựa trên sự nhấn mạnh—sự nhấn mạnh của nhu cầu, thứ thúc đẩy nó lao vào mọi hoạt động cần thiết để duy trì lối sống thượng lưu và sự châm biếm nhẹ nhàng; nó thường trải qua những năm tháng nặng nề trong cảnh lạnh lẽo, không thảm trải, giữa những bất hòa gia đình không được làm dịu bởi những hành lang dài. Trong hoàn cảnh như thế, có rất nhiều người trong số hà sa số những linh hồn ấy thực sự cần đến một niềm tin mạnh mẽ, khi cuộc sống mang hình thấu không mấy dễ chịu này đòi hỏi một lời giải đáp ngay cả với những tâm trí không quen suy ngẫm—giống như việc bạn đi tìm hiểu phần ruột đệm chiếc ghế sofa của mình khi có gì đó cọ xát làm bạn đau, trong khi đệm lông vũ và lò xo lò xo kiểu Pháp hoàn hảo chẳng gợi lên thắc mắc nào. Vài người đặt niềm tin mạnh mẽ vào rượu mạnh, và tìm kiếm sự xuất thần hay chỗ đứng bên ngoài của họ trong rượu gin; nhưng những người khác lại đòi hỏi thứ mà giới thượng lưu gọi là “sự nhiệt thành”, thứ sẽ đưa ra động lực khi hoàn toàn thiếu vắng những phần thưởng lớn lao; thứ sẽ mang lại sự kiên nhẫn và nuôi dưỡng tình yêu thương con người khi chân tay mỏi nhừ vì mệt mỏi, và ánh mắt người đời lạnh lùng đối xử với chúng ta; rõ ràng là thứ nằm ngoài những ham muốn cá nhân, bao gồm cả sự nhẫn nhục cho bản thân và tình yêu hoạt động đối với những gì không phải là mình. Thỉnh thoảng, thứ nhiệt thành ấy tìm thấy một tiếng nói vang vọng từ xa xôi bắt nguồn từ một trải nghiệm sinh ra từ nhu cầu sâu sắc nhất; và chính nhờ được đưa vào tầm ảnh hưởng của những rung động kéo dài từ một tiếng nói như thế mà Maggie, với gương mặt thiếu nữ và những nỗi buồn không ai hay biết, đã tìm thấy nỗ lực và niềm tin giúp cô vượt qua những năm tháng cô đơn, tự tạo ra cho mình một đức tin mà không cần sự trợ giúp của các nhà cầm quyền được thiết lập hay những người hướng dẫn chỉ định; bởi họ chẳng ở bên khi cô đang cần kép bách. Từ những gì bạn biết về cô ấy, bạn sẽ không ngạc nhiên khi thấy cô ấy đem cả sự phóng đại và bướng bỉnh, chút kiêu ngạo và bốc đồng vào ngay cả trong việc tự từ bỏ bản thân; cuộc đời cô vẫn là một vở kịch đối với cô, nơi cô đòi hỏi bản thân phải diễn trọn vai diễn với cường độ mãnh liệt. Và thế là cô thường đánh mất tinh thần khiêm nhường vì quá mức trong hành động bề ngoài; cô thường vươn tới một tầm cao quá sức để rồi ngã xuống với đôi cánh non nớt tội nghiệp vấy bùn. Chẳng hạn, cô không chỉ quyết tâm làm việc may vá thông thường để góp phần vào quỹ trong chiếc hộp thiếc, mà vì sự nhiệt thành tự tra tấn bản thân, cô đã đến thẳng một tiệm vải ở St Ogg’s để xin việc, thay vì tìm kiếm nó theo một cách kín đáo và gián tiếp hơn; và cô chẳng nhìn thấy gì ngoài sự sai trái, tàn nhẫn, thậm chí trù dập trong lời quở trách của Tom đối với việc làm vô ích này của cô. “Anh không thích em gái mình làm những việc như thế,” Tom nói, “anh sẽ lo trả hết nợ mà không cần em phải hạ thấp bản thân như vậy.” Chắc chắn có chút dịu dàng và dũng cảm hòa lẫn trong sự thực dụng và tính tự khẳng định của câu nói ngắn ngủi ấy; nhưng Maggie coi nó như cỏ rác, bỏ qua những hạt vàng và coi lời quở trách của Tom như một trong những thánh giá bên ngoài của mình. Tom đối xử quá khắc nghiệt với cô, cô từng nghĩ thế trong những đêm dài thức trắng—đối với cô, người luôn yêu thương anh hết mực; và rồi cô lại cố gắng bằng lòng với sự khắc nghiệt ấy và không đòi hỏi gì thêm. Đó là con đường mà tất cả chúng ta đều ưa thích khi bắt đầu từ bỏ chủ nghĩa vị kỷ—con đường của sự tử đạo và nhẫn nại, nơi những cành cọ vươn lên, chứ không phải con đường cao tốc dốc đứng của sự khoan dung, sự đánh giá công bằng và việc tự trách mình, nơi chẳng có vinh quang ngợp lá nào để hái và đeo lên. Những cuốn sách cũ, Virgil, Euclid và Aldrich—thứ quả nhăn nheo của cây tri thức—đã được cất đi tất cả; bởi Maggie đã quay lưng lại với tham vọng hão huyền được chia sẻ suy nghĩ của những bậc hiền triết. Trong niềm đam mê thuở đầu, cô vứt bỏ sách vở với một thứ chiến thắng tự đắc rằng cô đã vươn lên vượt qua nhu cầu cần đến chúng; và nếu chúng là của cô, cô đã thiêu rụi chúng, tin rằng bản thân sẽ chẳng bao giờ hối hận. Cô đọc một cách háo hức và liên tục ba cuốn sách của mình, Kinh thánh, cuốn Thomas à Kempis và cuốn “Christian Year” (không còn bị bài bác như một “tập thơ thánh ca” nữa), đến mức chúng làm đầy tâm trí cô bằng một dòng chảy liên tục những ký ức nhịp nhàng; và cô đang say sưa học cách nhìn nhận mọi tự nhiên và cuộc đời dưới ánh sáng của đức tin mới, chẳng cần bất kỳ chất liệu nào khác để tâm trí nhọc công suy xét, khi cô ngồi với cây kim thoăn thoắt, may áo sơ mi và những đường khâu phức tạp khác bị gọi nhầm là “may vá đơn thuần”—hoàn toàn chẳng đơn thuần chút nào đối với Maggie, vì phần cổ tay áo, ống tay và những thứ tương tự có khả năng bị may ngược bề trái trong những khoảnh khắc tâm trí lơ đễnh.

Chăm chú cúi mình bên đống đồ khâu, trông Maggie là một cảnh tượng khiến bất cứ ai cũng phải xiêu lòng. Đời sống nội tâm mới mẻ ấy của cô, dẫu vẫn có những lúc phun trào dung nham của những cảm xúc bị giam cầm, nhưng vẫn chiếu rọi qua gương mặt cô bằng một ánh sáng dịu dàng, hòa quyện như một vẻ đẹp bổ sung vào sắc thái và đường nét đang dần phong phú của tuổi thanh xuân đang nở rộ. Mẹ cô cảm nhận được sự thay đổi ở con gái với một vẻ ngạc nhiên khó hiểu rằng Maggie đang “lớn lên ngoan ngoãn đến thế”; thật kinh ngạc khi đứa trẻ từng “bướng bỉnh” này giờ lại trở nên vâng lời đến vậy, lại ngần ngại thể hiện ý chí riêng của mình đến thế. Maggie thường ngẩng lên từ công việc may vá và bắt gặp đôi mắt mẹ đang dán chặt vào mình; chúng đang dõi theo và chờ đợi cái nhìn tươi trẻ đầy sinh khí, tựa như khung xương già cỗi của người mẹ được sưởi ấm nhờ nguồn năng lượng ấy. Người mẹ bắt đầu quý mến cô con gái cao lớn, ngăm đen của mình—món đồ nội thất duy nhất lúc này để bà gửi gắm nỗi âu lo và niềm tự hào; và Maggie, bất chấp mong muốn khắc khổ không chưng diện cá nhân, vẫn buộc phải nhượng bộ mẹ chuyện tóc tai, và chịu để những lọn tóc đen rậm được tết thành một chiếc vương miện trên đỉnh đầu theo cái mốt đáng thương của những thời kỳ cổ lỗ ấy.

“Hãy để mẹ con có chút niềm vui đó đi con yêu,” bà Tulliver nói; “mẹ từng rầu rũ đủ điều với mái tóc của con rồi đấy.”

Thế là Maggie, sẵn lòng làm bất cứ điều gì để xoa dịu lòng mẹ và làm tươi vui thêm những ngày dài đằng đẵng của hai mẹ con, đã đồng ý với sự trang hoàng hão huyền ấy và ngẩng cao chiếc đầu kiêu sa vượt lên trên những chiếc áo cũ, dẫu vậy cô kiên quyết từ chối không nhìn vào gương. Bà Tulliver thích thu hút sự chú ý của cha cô vào mái tóc và những đức tính bất ngờ khác của Maggie, nhưng ông chỉ đáp lại bằng một giọng cộc lốc.

“Tôi biết thừa nó sẽ ra sao từ trước rồi—chẳng có gì mới mẻ với tôi cả. Nhưng tiếc là nó không được làm từ chất tầm thường hơn; tôi e nó sẽ bị vùi dập thôi—chẳng có ai xứng tầm để cưới nó đâu.”

Và những nét duyên dáng về cả tinh thần lẫn thể xác của Maggie càng nuôi dưỡng thêm sự ủ dột trong ông. Ông ngồi khá kiên nhẫn khi cô đọc cho nghe một chương sách, hoặc rụt rè nói vài điều khi hai cha con ở một mình về việc những nỗi buồn rồi sẽ biến thành hồng phúc. Ông đón nhận tất cả như một phần trong đức tính của con gái, thứ làm cho những bất hạnh của ông càng thêm cay đắng bởi chúng cướp đi cơ hội tốt đẹp trong đời con. Trong một tâm trí ngập tràn mục đích nung nấu và sự thù hằn chưa được thỏa mãn, chẳng còn chỗ cho những cảm xúc mới; ông Tulliver không cần sự an ủi tinh thần—ông muốn rũ bỏ sự nhục nhã vì nợ nần và đòi lại món nợ thù.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của George Eliot

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.