Tỉnh Ai Cập trực thuộc sự quản lý của Nha môn Sự vụ Hồng Hải thuộc Đại Đường Đế quốc. Diện tích của tỉnh Ai Cập rất lớn, không chỉ giới hạn trong vùng bình nguyên hạ lưu sông Nile, mà đại thể bao gồm cả vùng Ai Cập thời kỳ dưới quyền cai trị của Đế quốc Ottoman.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khu vực kênh đào Suez không nằm trong phạm vi tỉnh Ai Cập.
Để phục vụ việc đào kênh và quản lý, bảo trì kênh đào về sau, Đại Đường Đế quốc đã tách toàn bộ kênh đào cùng khu vực rộng hàng chục cây số hai bên bờ ra, thành lập Khu quân quản kênh đào Suez. Loại khu quân quản hải ngoại này xưa nay đều thuộc quyền quản lý trực tiếp của Đế quốc.
Tính chất của nó khá tương đồng với Khu quân quản Ceylon, Khu quân quản kênh đào Panama và Khu quân quản quần đảo Đan Mạch. Mặc dù có di dân sinh sống và làm việc bình thường, nhưng đồng thời nó vẫn là một căn cứ quân sự.
Việc đào kênh đào Suez đã kéo dài được vài năm, có hàng trăm ngàn người đang thi công trên đó. Đại Đường Đế quốc thậm chí còn vận chuyển một lượng lớn máy móc đào đất, vật liệu xây dựng và các loại vật tư khác từ bản địa và các khu vực khác đến. Có thể nói sự đầu tư là vô cùng to lớn.
Với sự đầu tư khổng lồ như vậy, công tác đào kênh đào diễn ra hết sức thuận lợi, dự tính sẽ hoàn thành sớm hơn hai năm so với thời gian dự kiến ban đầu.
Theo phương án xây dựng ban đầu, toàn bộ công trình vốn nên kéo dài khoảng mười năm.
Nhưng trước đây khi ước tính thời gian thi công, là dựa trên trình độ kỹ thuật lúc bấy giờ và số lượng nhân công khoảng mười vạn người.
Tuy nhiên thực tế, khoa học kỹ thuật Đại Đường những năm gần đây phát triển nhanh chóng, đặc biệt là sự ra đời của động cơ xăng, khiến cho máy xúc chạy xăng, máy ủi chạy xăng, xe tải chở hàng chạy xăng cùng hàng loạt các loại máy móc công trình hạng nặng khác được ra đời. Các loại máy móc công trình hạng nặng của Công ty Máy móc hạng nặng Tùng Giang đã lần lượt xuất hiện tại nhiều siêu công trình trong và ngoài nước.
Cho dù là kênh đào Panama, kênh đào Suez, hay các siêu công trình trong nước như dự án nắn dòng sông Hoàng Hà, dự án trị thủy sông Trường Giang, tất cả đều đã bắt đầu sử dụng những loại máy móc hạng nặng tiên tiến này.
Việc ứng dụng những máy móc hạng nặng này đã khiến tiến độ thi công trở nên nhanh chóng hơn nhiều.
Ứng dụng thiết bị máy móc chỉ là một khía cạnh, ngoài ra còn một điểm rất mấu chốt, đó là phía đầu tư xây dựng và vận hành kênh đào Suez sau này - Công ty Kênh đào Suez thuộc sở hữu toàn phần của Bộ Doanh nghiệp Nhà nước Đại Đường - vì muốn nhanh chóng thông hành để sớm thu phí, cũng như để giảm thiểu chi phí tối đa, đã áp dụng chế độ thầu phụ.
Công ty Kênh đào Suez tự chịu trách nhiệm một phần công trình, đoạn này là mời các công ty xây dựng bản địa Đại Đường hợp tác, huy động thiết bị máy móc và nhân viên kỹ thuật Đại Đường, chủ yếu đảm nhận những công trình có hàm lượng kỹ thuật cao.
Ngoài ra, một số công trình có hàm lượng kỹ thuật thấp thì được phân thầu cho nhiều công ty lao động, không chỉ có công ty lao động châu Phi và công ty lao động Ấn Độ.
Mà còn hợp tác với các công ty lao động của các quốc gia bản địa như Vương quốc Ottoman, Vương quốc Tây Ban Nha.
Sau khi những công ty lao động đó nhận thầu công trình, để kịp tiến độ và cũng để tiết kiệm chi phí, họ sẽ chẳng thuê công nhân một cách đàng hoàng đâu, mà thường áp dụng chế độ cưỡng bức lao động miễn phí.
Ài, cái đó, nếu họ không áp dụng chế độ cưỡng bức lao động miễn phí thì với số tiền ít ỏi mà Công ty Kênh đào Suez chi trả, họ lỗ chết mất...
Số nhân sự thi công trên toàn bộ kênh đào, có lúc cao điểm lên tới hơn ba mươi vạn người, bình thường cơ bản duy trì ở mức khoảng hai mươi vạn người. Hầu hết nhân sự thi công đều là người của các công ty lao động, còn người Đại Đường thực tế không nhiều, đều là nhân viên vận hành bảo trì máy móc và các loại nhân viên kỹ thuật, quản lý khác, nhiều nhất cũng chỉ vài nghìn người.
Đáng chú ý là, hầu như năm nào các công ty lao động lớn cũng cần phải bổ sung rất nhiều lao động miễn phí cho công trình kênh đào, nếu không thì kênh đào này đào mãi rồi cũng chẳng còn ai đào nữa...
Nhân sự thi công kênh đào đến từ khắp nơi trên thế giới, có thổ dân bản địa châu Phi, thổ dân vùng Tây Á, thổ dân châu Âu, thổ dân Ấn Độ.
Tuy nhiên phía công ty kênh đào không quan tâm các công ty lao động này sử dụng thổ dân ở đâu để thi công, dù sao thì công trình đã phân thầu ra ngoài rồi, các công ty lao động này hoàn thành bằng cách nào là việc của họ.
Công việc của những công ty lao động này vô cùng hiệu quả, trong mấy năm qua thường xuyên hoàn thành công trình sớm hơn dự định, khiến thời gian thi công kênh đào Suez rút ngắn đi rất nhiều.
Kênh đào chính thức khởi công vào năm Tuyên Bình thứ ba mươi chín, trước đây ước tính phải đến năm Tuyên Bình thứ bốn mươi chín mới có thể hoàn thành, nhưng hiện tại Công ty Kênh đào Suez rất lạc quan công bố, dự kiến khoảng năm Tuyên Bình thứ bốn mươi sáu, kênh đào đã có thể thông hành bước đầu.
Hiện tại đã là năm Tuyên Bình thứ bốn mươi ba rồi, tức là còn ba năm nữa kênh đào sẽ thông hành.
Một khi kênh đào thông hành, tầm ảnh hưởng đối với khu vực Ai Cập và thậm chí toàn bộ khu vực châu Âu sẽ rất to lớn. Chiến hạm hoặc tàu dân sự của Đế quốc không cần phải vòng qua Mũi Hảo Vọng châu Phi để đến châu Âu nữa, mà có thể trực tiếp thông qua Hồng Hải - kênh đào Suez - Địa Trung Hải để tiến vào châu Âu.
Dựa trên điểm này, Hải quân Đại Đường đã dự định xây dựng một căn cứ quân sự mới tại cảng Alexandria của tỉnh Ai Cập. Căn cứ chính cho lực lượng quân sự của Đại Đường Đế quốc tại Địa Trung Hải trong tương lai sẽ không còn là Ceuta, mà chính là cảng Alexandria.
Quân đội dự tính như vậy cũng là có lý do.
Mặc dù Ceuta có vị trí trọng yếu, nhưng nơi đó quả thực hơi cằn cỗi. Dùng làm một căn cứ quân sự thuần túy thì không tệ, nhưng tiềm năng quá nhỏ, di dân không nhiều, thậm chí cái nơi khỉ ho cò gáy này còn chẳng thể tự cung tự cấp lương thực...
Nhưng cảng Alexandria thì khác, dựa lưng vào bình nguyên hạ lưu sông Nile - một kho lương thực lớn, Đại Đường Đế quốc dự kiến sẽ di dân ít nhất hàng trăm ngàn người tới đây, số lượng người Đại Đường sinh sống tại đây sau này sợ rằng có thể lên tới hơn một triệu người.
Có hàng triệu người này làm chỗ dựa, cảng Alexandria nếu làm một căn cứ quân sự thì sẽ có đủ sự hỗ trợ.
Quân đội dự định chuyển trung tâm chiến lược quân sự của Đế quốc tại châu Âu từ Ceuta sang cảng Alexandria, qua đó cũng có thể thấy được tiềm năng của khu vực Ai Cập.
Những người khác tự nhiên cũng có thể nhìn ra, mặc dù hiện tại số người Đại Đường ở tỉnh Ai Cập và khu vực kênh đào chỉ khoảng hơn mười vạn người, nhưng tiềm năng phát triển trong tương lai là cực kỳ lớn, ít nhất là mạnh hơn nhiều so với cái gọi là Châu Ceuta.
Ban quản lý của Khách sạn Châu Âu cũng nhìn thấy điểm này, cho nên mới dự định đầu tư xây dựng một khách sạn mới tại tỉnh lỵ của tỉnh Ai Cập là cảng Alexandria.
Phân bố dân cư chủ yếu của Đại Đường Đế quốc tại tỉnh Ai Cập hiện nay chính là xoay quanh khu vực xung quanh cảng Alexandria.
George dẫn theo vợ mới cưới Lý Lâm Na cùng hơn mười đồng nghiệp và gia quyến của họ, ngồi tàu khách hơi nước vượt Địa Trung Hải cập bến cảng Alexandria. Khi George vẫn còn ở trên cảng, anh đã nhìn thấy một tòa nhà cao tầng đã thi công xong xuôi ngay bên cạnh cảng.
Đó chính là chi nhánh Ai Cập của Khách sạn Châu Âu, nơi anh sẽ làm việc sau này.
Sau khi lên bờ, George phát hiện cảng Alexandria này mặc dù thời gian phát triển mới chỉ vài năm, ít hơn nhiều so với thời gian phát triển của Ceuta, nhưng diện tích nội thành lại đã lớn hơn bên Ceuta rồi, chỉ là dân số trong nội thành còn khá ít.