Mùa xuân năm Tuyên Bình thứ 43, tại Mã Lục Giáp trên bán đảo Nam Dương, bên trong một tòa nhà bê tông đồ sộ thuộc thành Mã Lục Giáp, một nhóm quan viên, sĩ phu và cả các tướng lĩnh quân đội đều đang hội tụ tại đó.
Phía trước họ là một tuyến đường sắt, một đầu tàu khoác dải lụa đỏ đang chậm rãi tiến vào sân ga, khi đoàn tàu dừng hẳn, tất cả mọi người đồng loạt vỗ tay.
Đây là lễ thông xe lần đầu của đoạn đường sắt Nam Dương tại Mã Lục Giáp. Kể từ nhiều năm trước, khi Đế quốc Đại Đường bắt đầu triển khai kế hoạch xây dựng đường sắt Nam Dương, thì suốt những năm qua công trình vẫn luôn được thi công.
Hơn nữa, để đẩy nhanh tiến độ, triều đình đã áp dụng phương thức thi công nhiều đoạn đường sắt cùng một lúc từ nhiều hướng khác nhau.
Ban đầu là khởi công từ huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Đông lân cận, đường sắt kéo dài về phía nam, xuyên qua Giao Châu, Quảng Tây rồi tiến vào tỉnh An Nam; đồng thời, các công trình tại tỉnh Xiêm La, Mã Lục Giáp và tỉnh Miến Điện cũng được khởi công cùng lúc.
Trong đó, tuyến đường sắt từ Quảng Ninh đến Giao Châu được hoàn thành sớm nhất, tiếp theo là tuyến đường sắt Côn Tống chạy từ Giao Châu về phía tây, tới Côn Minh, Vân Nam.
Tiến độ xây dựng tuyến đường sắt nối Côn Minh với Miến Điện vốn không quá nhanh, nhưng tuyến đường sắt Côn Ngưỡng này lại thuộc loại đường sắt chiến bị tiêu chuẩn. Nó được thiết kế là đường sắt đơn tuyến thông thường, tốc độ thiết kế cũng không cao, nhưng do Lục quân đã huy động một lượng lớn công binh hỗ trợ thi công, nên tiến độ xây dựng tuyến Côn Ngưỡng này vẫn khá nhanh chóng.
Ngược lại, tuyến đường sắt ven biển nối từ tỉnh An Nam qua Xiêm La rồi đến Mã Lục Giáp thì tiến độ lại chậm hơn đôi chút.
Điều này không phải do đường sắt ở khu vực này khó xây dựng hơn, thực tế xét về độ khó thi công, tuyến đường ven biển này còn dễ dàng hơn, ít nhất là dễ hơn tuyến Côn Ngưỡng rất nhiều.
Tuyến đường sắt từ Xiêm La đến Miến Điện còn khó xây dựng hơn nhiều!
Mấu chốt nằm ở chỗ, tuyến đường sắt từ An Nam đến Mã Lục Giáp là tuyến đường ven biển, mà hải vận của Đại Đường lại rất phát triển, nên trong thời gian ngắn, nhu cầu về đường sắt tại các khu vực ven biển nói trên thực ra không quá cấp bách, vì vậy công trình cứ túc tắc xây dựng.
Dẫu vậy, đến nay nó cũng đã được hoàn thành.
Tuyến đường sắt này được hoàn thành và đưa vào sử dụng, đồng nghĩa với việc Đế quốc Đại Đường đã kết nối được các tỉnh, bang ở Nam Dương với các tỉnh, đạo tại bản thổ thông qua hệ thống đường sắt.
Người dân có thể xuất phát từ thành Kim Lăng, ngồi tàu hỏa xuôi về phía nam để đến cảng Mã Lục Giáp.
Đồng thời, họ cũng có thể đi tàu hỏa qua tuyến đường sắt Tây Nam để tới Côn Minh, sau đó tiếp tục bắt tàu hỏa để đi đến Ngưỡng Quang.
Chỉ cần chờ thêm một năm nữa, tuyến đường sắt từ Xiêm La đến Miến Điện cũng sẽ được thông tuyến, khi đó mạng lưới đường sắt trên bán đảo Nam Dương sẽ hoàn thiện hoàn toàn.
Điều này sẽ tạo đà phát triển cực lớn cho Đại Đường trong việc khai phá khu vực Nam Dương, biến Nam Dương thành vựa lương thực cũng như nơi cung ứng tài nguyên quan trọng của Đế quốc, đồng thời còn có thể an trí một lượng lớn người nhập cư.
Công cuộc khai phá Nam Dương là việc được Đế quốc Đại Đường chú trọng nhất trong những năm gần đây, quan trọng hơn nhiều so với việc khai phá các lãnh thổ hải ngoại khác.
Điều này không phải vì Nam Dương có điều kiện tốt, thực tế môi trường ở khu vực Nam Dương không mấy lý tưởng; tuy nhìn thì mưa nhiều, nhưng lũ lụt rất nghiêm trọng, nếu không xây dựng hệ thống thủy lợi quy mô lớn thì thực rất khó để phát triển nông nghiệp trên diện rộng.
Việc khu vực Nam Dương ở hậu thế trở thành vùng xuất khẩu lương thực chính là nhờ khoa học kỹ thuật đã phát triển, hệ thống thủy lợi cũng được nâng cấp.
Nhưng trong thời kỳ đầu của Đại Đường, khi khoa học kỹ thuật chưa đủ phát triển, việc đưa lượng lớn người nhập cư đến vùng đất khó khăn này sẽ dẫn đến tỷ lệ tử vong rất cao.
Phải đến những năm gần đây, khi trình độ y tế của Đại Đường được nâng cao đáng kể, đặc biệt là sau khi có nhận thức sâu sắc hơn về vi khuẩn học, đồng thời liên tiếp nghiên cứu, phát triển được nhiều loại thuốc giúp kiểm soát bước đầu các căn bệnh nhiệt đới, thì Đại Đường mới có thể thực hiện di dân quy mô lớn đến khu vực Nam Dương.
Việc đầu tiên Đại Đường thực hiện trong công cuộc di dân tới Nam Dương chính là xây dựng đường sắt, xây đập và kênh mương, đồng thời nâng cao điều kiện y tế; chỉ có như vậy mới có thể đưa một lượng lớn người nhập cư vào khu vực này.
Trải qua nhiều năm nỗ lực không ngừng, nay công cuộc khai phá khu vực Nam Dương đã hình thành một quy mô nhất định. Chỉ cần tiếp tục thực hiện theo kế hoạch, việc khai phá thành công vùng Nam Dương chỉ là vấn đề thời gian.
So với khu vực Nam Dương mà Đế quốc Đại Đường dù dốc sức hỗ trợ nhưng vẫn phát triển khá chậm, thì tại những nơi có điều kiện tốt hơn như các lãnh thổ hải ngoại ở châu Mỹ, việc khai phá căn bản không cần triều đình phải bận tâm. Chỉ cần nới lỏng chính sách một chút, bản thân những vùng đó đã có thể tự phát triển rất tốt.
Việc xây dựng đường sắt ở Bắc Mỹ cũng vậy. Khi Tổng công ty Đường sắt Đại Đường vừa mới tuyên bố sẽ đầu tư xây dựng tuyến đường này và phát hành trái phiếu để huy động vốn, thì chẳng bao lâu sau đã gom đủ, thậm chí còn dư thừa nguồn vốn.
Thế là ngoài tuyến đường sắt huyết mạch xuyên lục địa châu Mỹ, họ lại liên tiếp tuyên bố đầu tư xây dựng thêm nhiều tuyến đường sắt khác.
Hơn nữa, vì địa hình nhiều nơi bằng phẳng nên việc xây dựng đường sắt cũng khá dễ dàng. Chẳng bao lâu sau, tuyến đường sắt huyết mạch đầu tiên ở châu Mỹ đã được xây dựng hoàn tất và thông xe.
Đây là tuyến đường sắt đơn tuyến nối Tân Nam Cảng với Ngũ Hồ Thành; từ khi khởi công đến khi hoàn thành chỉ tốn hơn một năm.
Tuyến đường đơn vừa thông xe, họ đã chuẩn bị thi công tiếp để mở rộng thành tuyến đường đôi.
Còn những tuyến đường sắt nhánh ngắn hơn thì lại càng nhiều.
Hiện nay, khu vực Bắc Mỹ đã trở thành nơi có hệ thống đường sắt phát triển nhất của Đế quốc Đại Đường, chỉ sau bản thổ.
Việc xây dựng tại các lãnh thổ hải ngoại khác cũng không hề kém cạnh. Ở phía nam, bên cạnh tuyến đường sắt khu mỏ vàng, họ đang xây dựng thêm một tuyến đường sắt nối khu mỏ vàng với cảng Nam Phi, thông qua đường sắt để vận chuyển hàng hóa, thúc đẩy phát triển nội địa, đồng thời cũng là để hỗ trợ Lục quân thiết lập phòng tuyến phía bắc.
Phòng tuyến phía bắc của khu vực Nam Phi chính là một đường biên giới vạch ra từ Ấn Độ Dương đến Đại Tây Dương; sau đó họ cho xây dựng những bức tường đơn giản cùng các dải cách ly để ngăn chặn thổ dân ở khu vực phía bắc tràn vào, nhằm bảo đảm an ninh chiến lược cho vùng Nam Phi.
Người Đại Đường rất thích thiết lập các loại tường đơn giản và dải cách ly tại các lãnh thổ hải ngoại, hoặc ở những vùng giáp ranh giữa bản thổ với khu vực do thổ dân kiểm soát.
Tuyến phòng thủ ở Nam Phi vẫn chỉ là chuyện nhỏ, khu vực phía tây tỉnh Miến Điện mới thực sự là dải cách ly, ở giữa có hẳn một vùng đất không người rộng hàng trăm cây số.
Buồn cười hơn là, phía tây tỉnh Miến Điện thực ra vẫn chưa phải là khu vực do thổ dân kiểm soát, mà là bang Mạnh Gia Lạp - một bang hải ngoại của Đại Đường. Bang Mạnh Gia Lạp này cũng thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp bản thổ hóa; ngoài một số ít cư dân tạm trú thì toàn bộ là người Đại Đường, không hề có thổ dân. Thổ dân thực sự đều đang ở khu vực Ấn Độ nằm về phía tây của bang Mạnh Gia Lạp.
Tương tự như vậy ở khu vực Trung Á, dọc theo đường biên giới giáp ranh giữa bản thổ Đại Đường với vương triều Tát Phỉ và vương triều Mạc Ngọa Nhi, họ đã dựng lên một bức tường thành đơn giản, bố trí quân đội tuần tra, trong khi ở phía sau biên giới vẫn còn một vùng đất không người rộng tới hàng trăm cây số.
Tại vùng ven biển Tây Hải, công tác tuần tra cũng được thực hiện nghiêm ngặt và toàn diện. Cuộc tuần tra này thậm chí không diễn ra ở khu vực ven biển của Đại Đường, mà trực tiếp áp sát vào vùng ven biển do vương triều Tát Phỉ và Đế quốc Áo Tư Mạn kiểm soát.
Chuyện là, Hạm đội Tây Hải của Hải quân Đại Đường thực hiện tuần tra dày đặc tại vùng biển này; ngoại trừ tàu thuyền của người Đại Đường, bất kỳ chiếc tàu nào khác xuất hiện đều bị chặn lại. Dù sao thì họ cũng không cho phép bất kỳ chiếc thuyền nhỏ nào bén mảng tới gần vùng biển nội địa của Đại Đường.
Tuy nhiên, tại khu vực Đông Âu thì lại không có những dải cách ly này, vì chính người Đạt Đát đã tự mình xây dựng dải cách ly từ trước để ngăn cấm dân chúng của họ chạy trốn sang Đế quốc Đại Đường.
Ngày nay, mỗi một người dân dưới quyền Đạt Đát Kim quốc đều là nguồn tài nguyên chiến lược quý giá; Đạt Đát Kim quốc chắc chắn sẽ không cho phép dân chúng chạy nạn sang Đại Đường.
Nhắc mới nhớ, lực lượng Lục quân Đại Đường ở tiền tuyến thấy quân Đạt Đát gặp khó khăn trong việc phong tỏa biên giới, thậm chí còn thường xuyên cung cấp miễn phí một số vật tư cho quân đội Đạt Đát nữa cơ.
Trong việc đối phó với hiện tượng vượt biên trái phép, chẳng ngờ Đạt Đát Kim quốc và Đế quốc Đại Đường lại đạt được sự thống nhất, thậm chí còn triển khai cả hợp tác chiến lược!
Đối với điều này, giới cấp cao của Đế quốc Đại Đường cảm thấy rất hài lòng. Họ cho rằng những thổ dân Đạt Đát Kim quốc này tuy vẫn còn rất ngu muội, nhưng dẫu sao cũng không gây thêm phiền toái cho Đại Đường.
Chẳng giống như vương triều Tát Phỉ, vương triều Mạc Ngọa Nhi hay vương triều Áo Tư Mạn, việc phong tỏa biên giới của họ chẳng có chút hiệu quả nào, ngày nào cũng phải để Đế quốc Đại Đường phải dọn dẹp hậu quả giúp họ.
Đến mức giới lãnh đạo Lục quân còn nảy ra ý kiến, chi bằng cứ giúp họ huấn luyện một đội tuần tra biên giới cho rồi!