Moby-dick; Hay, Con Cá Voi

Lượt đọc: 250 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17
Lễ Ramadan.

❊ ❊ ❊

Vì kỳ lễ Ramadan, tức Tháng Chay tịnh và Tự hạ của Queequeg, kéo dài suốt cả ngày, nên tôi không muốn làm phiền anh ta cho đến tận khi trời tối hẳn. Bởi tôi vẫn dành sự tôn trọng lớn lao cho các nghĩa vụ tôn giáo của bất kỳ ai, dẫu chúng có kỳ quặc đến đâu chăng nữa, và chẳng thể nào nỡ coi thường dẫu chỉ là một bầy kiến đang sùng bái một cái nấm độc; hay những kẻ ở đâu đó trên trái đất này, với một vẻ khom lưng uốn lợn chưa từng thấy ở bất kỳ hành tinh nào khác, lại đi cúi rạp trước pho tượng bán thân của một vị địa chủ đã khuất chỉ vì những gia tài kếch xù vẫn đứng tên và sinh lợi bằng tên của ông ta.

Ý tôi là, những tín đồ Trưởng lão tốt lành chúng ta nên rộng lượng trong những chuyện này, chớ nên tự cho mình là cao ngạo hơn hẳn những người phàm trần khác, dù là ngoại đạo hay bất cứ ai, chỉ vì những quan niệm dở hơi của họ về các vấn đề ấy. Lại nói về Queequeg, rõ ràng anh ta đang ôm giữ những ý nghĩ vô lý nhất về Yojo và lễ Ramadan của mình;—nhưng thì sao chứ? Tôi cho rằng Queequeg nghĩ mình biết rõ bản thân đang làm gì; anh ta có vẻ mãn nguyện; và cứ để anh ta yên như thế. Mọi lời tranh cãi của chúng ta với anh ta cũng chẳng ích gì; cứ để anh ta yên, tôi bảo vậy: và xin Trời xót thương cho tất cả chúng ta—cả tín đồ Trưởng lão lẫn người ngoại đạo—bởi vì ai trong chúng ta ít nhiều cũng đều có chút hâm hấp trong đầu, và rất cần được chữa trị.

Đến chập tối, khi tôi chắc mẩm rằng mọi nghi thức và hành động của anh ta đã kết thúc, tôi liền bước lên lầu và gõ cửa phòng; nhưng không có tiếng trả lời. Tôi thử đẩy cửa, nhưng nó đã bị chốt bên trong. “Queequeg,” tôi dịu dàng gọi qua lỗ khóa:—mọi thứ vẫn chìm trong tĩnh lặng. “Này Queequeg! Sao anh không lên tiếng? Tôi đây—Ishmael.” Nhưng mọi vật vẫn lặng ngắt như trước. Tôi bắt đầu thấy lo lắng. Tôi đã để cho anh ta thừa thãi thời gian như vậy; tôi nghĩ nhỡ đâu anh ta bị đột quỵ thì sao. Tôi nhìn qua lỗ khóa; nhưng vì cánh cửa mở vào một góc khuất của căn phòng, nên tầm nhìn qua lỗ khóa vừa ngoằn ngoèo lại vừa hiểm hóc. Tôi chỉ nhìn thấy một phần của tấm ván chân giường và một đường nét của bức tường, chứ chẳng thấy gì hơn. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy tựa vào tường là khúc gỗ làm cán cây lao của Queequeg, thứ mà bà chủ nhà tối hôm trước đã lấy đi của chúng tôi trước khi lên lầu nhận phòng. Thật kỳ lạ, tôi thầm nghĩ; nhưng dẫu sao, vì cây lao đang đứng ở đằng kia, và anh ta hiếm khi hoặc chẳng bao giờ ra ngoài mà lại thiếu nó, thế nên chắc chắn anh ta phải ở trong này, không thể nhầm lẫn đi đâu được.

“Queequeg!—Queequeg!”—tất cả vẫn im lìm. Chắc chắn có chuyện gì đã xảy ra rồi. Bệnh đột quỵ chăng! Tôi cố sức phá tung cánh cửa; nhưng nó chống cự một cách ngoan cố. Chạy ào xuống nhà, tôi nhanh chóng bày tỏ sự nghi ngờ của mình với người đầu tiên tôi gặp—cô hầu phòng. “Ôi chao! Ôi chao!” cô ta kêu lên, “Tôi cứ nghĩ phải có chuyện gì rồi ấy chứ. Lúc đi dọn giường sau bữa sáng, tôi thấy cửa khóa trái; mà chẳng nghe thấy tiếng con chuột nào; và từ đó đến nay cứ yên ắng mãi thế đấy. Nhưng tôi cứ tưởng, biết đâu hai anh đã đi ra ngoài và khóa kỹ hành lý bên trong cho an toàn. Ôi chao! Ôi chao, thưa cô!—Bà chủ ơi! Giết người rồi! Chị Hussey ơi! Đột quỵ rồi!”—và với những tiếng kêu hoảng hốt ấy, cô ta cắm cổ chạy về phía nhà bếp, tôi lẽo đẽo chạy theo sau.

Bà Hussey nhanh chóng xuất hiện, một tay cầm lọ mù tạt, tay kia cầm bình giấm, vừa vứt dở công việc dọn dẹp mấy lọ gia vị trên bàn ăn và tiện thể mắng mỏ cậu bé da đen của mình.

“Phòng gỗ!” tôi kêu lên, “đường nào lên đó? Làm ơn chạy đi, kiếm cái gì đó để nạy cửa ra—cái rìu!—cái rìu mau! Anh ấy bị tai biến rồi; chắc chắn là thế!”—và nói xong, tay không trắng trợn, tôi lại hấp tấp lao ngược lên lầu, thì bị bà Hussey chặn lại bằng lọ mù tạt, bình giấm cùng toàn bộ thái độ hầm hầm trên nét mặt.

“Cậu bị cái quái gì thế hả, cậu thanh niên?”

“Lấy cái rìu mau! Vì Chúa, ai đó hãy chạy đi gọi bác sĩ đi, trong lúc tôi nạy cửa ra!”

“Này nhé,” bà chủ nhà vừa nói, vừa vội vàng đặt bình giấm xuống để rảnh tay; “này nhé; cậu đang định nói đến chuyện nạy phá cửa nẻo nhà tôi đấy phỏng?”—và đoạn, bà ta chộp lấy cánh tay tôi. “Cậu bị làm sao thế? Cậu bị cái gì thế, bạn già?”

Với một thái độ bình tĩnh nhưng nhanh chóng nhất có thể, tôi kể lại toàn bộ sự tình cho bà ta rõ. Vô thức đưa bình giấm áp vào một bên mũi, bà ta trầm ngâm suy nghĩ trong chốc lát; rồi thốt lên—“Không! Ta không thấy nó kể từ lúc ta để nó ở đây.” Chạy vụt đến cái tủ nhỏ nằm dưới chân cầu thang, bà ta liếc mắt nhìn vào trong, rồi quay lại bảo tôi rằng cây lao của Queequeg đã biến mất. “Anh ta tự sát rồi,” bà ta kêu lên. “Lại thêm một vụ xui xẻo y như lão Stiggs dạo nọ—lại hỏng thêm một cái khăn trải giường nữa—Chúa xót thương cho người mẹ tội nghiệp của anh ta!—việc này sẽ làm sạt nghiệp cái nhà trọ của tôi mất. Cậu thanh niên tội nghiệp ấy có chị em gái nào không? Con nhỏ đó đâu rồi?—Này, Betty, ra bảo thợ sơn Snarles vẽ cho ta một cái biển, đề chữ—‘không cho phép tự sát tại đây, và cấm hút thuốc trong phòng khách;’—tiện thể nhắm hai đích đên một công đôi việc luôn. Tự sát ư? Xin Chúa hãy rủ lòng thương xót lấy linh hồn hắn! Tiếng động gì đằng kia thế? Này cậu thanh niên, dừng tay lại ngay!”

Và vừa chạy đuổi theo tôi, bà ta vừa tóm lấy tôi khi tôi đang cố dùng sức để phá cửa thêm lần nữa.

“Tôi không cho phép đâu; tôi không đời nào để nhà cửa của tôi bị tàn phá thế này. Đi gọi thợ khóa mau, có một hãng thợ khóa cách đây khoảng một dặm. Nhưng khoan đã!” vừa thọc tay vào túi áo khoác, bà ta vừa nói, “hình như tôi có mang theo một chiếc chìa khóa vừa vặn đấy; để xem nào.” Và rồi, bà ta vặn nó vào ổ khóa; nhưng hỡi ôi! Chiếc chốt phụ của Queequeg vẫn nằm im lìm chưa được rút ra ở phía bên trong.

“Chắc phải phá tung nó ra thôi,” tôi nói, rồi lùi lại một đoạn ở hành lang để lấy đà cho tốt, thì bà chủ nhà lại chộp lấy tôi, tiếp tục thề thốt rằng tôi không được phép phá hỏng nhà cửa của bà ta; nhưng tôi vùng ra khỏi tay bà, và với một cú lao người thình lình, tôi đâm thẳng toàn thân vào cánh cửa.

Cùng một tiếng động đinh tai nhức óc, cánh cửa bật mở tung, núm vách đập mạnh vào tường làm rớt cả vôi vữa lên tận trần nhà; và ở đó, lạy Chúa tôi! Ở đó Queequeg đang ngồi, hoàn toàn bình thản và điềm tĩnh; ngay chính giữa căn phòng; ngồi xổm trên gót chân, và hai tay nâng chiếc Yojo trên đỉnh đầu. Anh ta không nhìn ngó sang bên trái cũng chẳng nhìn sang bên phải, cứ ngồi trân trân như một bức tượng tạc với hầu như chẳng có chút dấu hiệu nào của sự sống đang hoạt động.

“Queequeg,” tôi bước đến gần anh, “Queequeg, anh bị làm sao thế?”

“Từ sáng tới giờ hắn cứ ngồi như thế này mãi à?” bà chủ nhà lên tiếng.

Nhưng mặc cho chúng tôi nói gì đi nữa, chẳng thể moi ra nổi từ miệng anh ta nửa lời; tôi suýt nữa thì muốn đẩy ngã anh ta ra cho đổi tư thế, bởi vì trông nó thật sự khó chịu khôn tả, có vẻ vô cùng đau đớn và gượng gạo một cách phi tự nhiên; nhất là khi, theo mọi xác suất, anh ta đã ngồi như thế suốt hơn tám hay mười tiếng đồng hồ, lại còn nhịn cả bữa ăn chính thường ngày nữa chứ.

“Bà Hussey,” tôi nói, “dù sao thì anh ấy vẫn còn sống; vậy xin bà vui lòng lui ra đi, tôi sẽ tự mình lo liệu chuyện kỳ lạ này.”

Khép cửa lại không cho bà chủ nhà nhìn vào nữa, tôi tìm cách thuyết phục Queequeg ngồi lên ghế; nhưng vô ích. Anh ta cứ ngồi nguyên ở đó; và mặc cho tôi dùng đủ mọi cách lịch sự lẫn ngọt ngào nài nỉ—anh ta nhất quyết không nhúc nhích dù chỉ nửa bước, không thốt lấy một lời, thậm chí chẳng thèm nhìn lấy tôi một cái, hay đếm xỉa gì đến sự hiện diện của tôi dù chỉ là một chút ít.

Tôi tự hỏi, không biết đây có phải là một phần trong lễ Ramadan của anh ta hay không; liệu người ta ở hòn đảo quê hương anh ta có bắt buộc phải nhịn ăn trong tư thế ngồi xổm kiểu ấy không nhỉ. Chắc là thế rồi; vâng, tôi đoán đó là một phần trong tín ngưỡng của anh ta; vậy thì, cứ để mặc anh ta đấy; sớm muộn gì thì anh ta cũng sẽ đứng dậy thôi, chắc chắn là thế. Nó không thể kéo dài mãi được, ơn Chúa, và lễ Ramadan của anh ta thì chỉ diễn ra mỗi năm một lần; hơn nữa tôi cũng chẳng tin là đến lúc đó nó lại đúng giờ cho lắm.

Tôi đi xuống ăn tối. Sau khi ngồi một lúc lâu lắng nghe những câu chuyện dài dòng của dăm ba thủy thủ vừa trở về từ một chuyến hải trình bánh pudding mận, theo cách họ gọi (nghĩa là một chuyến săn cá voi ngắn ngày trên một con tàu hai cột hoặc tàu brích, chỉ quẩn quanh ở vùng biển phía bắc đường xích đạo, độc nhất trên Đại Tây Dương); sau khi lắng nghe những con người chuyên đi chuyến bánh pudding mận ấy cho đến tận gần mười một giờ đêm, tôi đi lên lầu để đi ngủ, thầm đinh ninh rằng lúc này chắc chắn Queequeg đã chấm dứt cái lễ Ramadan của mình rồi. Nhưng không; anh ta vẫn ngồi lỳ ở đúng chỗ mà tôi đã để anh ta lại; không nhích đi được lấy một inch. Tôi bắt đầu cảm thấy bực mình với anh ta; thật là ngớ ngẩn và điên rồ hết chỗ nói khi cứ ngồi lì ở đó suốt cả ngày lẫn nửa đêm trên đôi gót chân trong một căn phòng lạnh ngắt, tay thì cầm một mẩu gỗ trên đầu.

“Vì Chúa, Queequeg, đứng dậy và vận động gân cốt đi chứ; dậy ăn chút bữa tối đi nào. Anh sẽ chết đói mất; anh sẽ tự sát mất thôi, Queequeg ạ.” Nhưng anh ta chẳng thèm đáp lại dù chỉ một lời.

Do đó, đành tuyệt vọng về anh, tôi quyết định đi lên giường ngủ quách cho rồi; và chắc chắn là chẳng lâu nữa đâu, anh ta cũng sẽ theo tôi lên thôi. Nhưng trước khi trèo lên giường, tôi cầm lấy chiếc áo khoác da gấu dày của mình, trùm lên người anh, bởi vì trời có vẻ sẽ rất lạnh; trong khi anh ta chẳng mặc gì ngoài chiếc áo khoác ngắn thường ngày. Một lúc lâu sau, mặc cho tôi có cố gắng thế nào đi nữa, tôi vẫn chẳng tài nào chợp mắt được dù chỉ một chút. Tôi đã thổi tắt nến; và chỉ nghĩ đến việc Queequeg—chưa cách xa tôi bốn thước—đang ngồi đó trong cái tư thế khó chịu ấy, trơ trọi một mình trong giá lạnh và bóng tối; điều đó làm tôi thực sự khốn khổ. Thử nghĩ mà xem; ngủ suốt cả đêm trong cùng một phòng với một tên ngoại đạo đang tỉnh như sáo, ngồi xổm trong cái lễ Ramadan ảm đạm và khó hiểu này!

Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng thiếp đi lúc nào không hay, và chẳng còn biết gì nữa cho đến tận rạng đông; lúc bấy giờ, khi tôi ghé mắt nhìn qua thành giường, Queequeg vẫn ngồi xổm ở đó, y như thể anh ta đã bị vặn đinh ốc cố định xuống sàn nhà vậy. Nhưng ngay khi tia nắng đầu tiên lọt qua ô cửa sổ, anh ta liền đứng phắt dậy, với các khớp xương cứng đờ kêu lục cục nhưng với một vẻ mặt đầy tươi vui; lê bước về phía chiếc giường nơi tôi đang nằm; áp trán mình vào trán tôi một lần nữa; và tuyên bố lễ Ramadan của mình đã kết thúc.

Giờ thì, như tôi đã hé lộ từ trước, tôi chẳng hề có thành kiến gì với tôn giáo của bất kỳ ai, dù nó có là gì đi chăng nữa, miễn là người đó không giết hại hay lăng mạ bất kỳ ai khác chỉ vì người kia không cùng đức tin với họ. Nhưng khi tôn giáo của một người trở nên thực sự cuồng tín; khi nó là một sự cực hình đích thực đối với bản thân họ; và suy cho cùng, biến trái đất của chúng ta thành một quán trọ bất tiện để nghỉ chân; thì tôi nghĩ đã đến lúc cần phải kéo riêng cá nhân đó ra để tranh luận rõ phải quấy với anh ta.

Và tôi đã làm đúng như thế với Queequeg lúc này. “Queequeg,” tôi nói, “bây giờ hãy lên giường nằm xuống đây và lắng nghe tôi nói.” Tôi liền bắt đầu, khởi nguồn từ sự hình thành và tiến hóa của các tôn giáo nguyên thủy, rồi tiến dần đến các tôn giáo khác nhau ở thời hiện đại, trong suốt khoảng thời gian đó tôi đã cố gắng chứng minh cho Queequeg thấy rằng tất cả những mùa Chay, lễ Ramadan, và những buổi ngồi xổm kéo dài trên gót chân trong những căn phòng lạnh lẽo, ảm đạm ấy đều là những thứ vô nghĩa lý tột cùng; có hại cho sức khỏe; vô tích sự cho tâm hồn; tóm lại là trái ngược với những quy luật hiển nhiên của Vệ sinh học và lẽ thường tình. Tôi cũng bảo với anh ta rằng, một kẻ hoang dã cực kỳ khôn ngoan và sắc sảo trong các mặt khác như anh ta, lại tỏ ra ngu ngốc một cách đáng thương hại đến thế về cái lễ Ramadan nực cười này, điều đó khiến tôi vô cùng đau lòng, thực sự đau lòng sâu sắc. Thêm vào đó, tôi lập luận rằng, việc nhịn ăn sẽ làm cơ thể teo tóp lại; từ đó tinh thần cũng sẽ teo tóp theo; và mọi suy nghĩ sinh ra từ sự nhịn ăn ắt hẳn phải là những ý nghĩ èo uột, thiếu thốn. Đó là lý do tại sao hầu hết những tín đồ mắc bệnh khó tiêu lại ôm ấp những quan niệm u sầu đến thế về thế giới bên kia của họ. Nói một cách ngắn gọn, Queequeg ạ, tôi nói có phần lan man hơi xa đề; hỏa ngục vốn dĩ là một ý niệm được sinh ra lần đầu từ một cái bánh bao táo chưa kịp tiêu hóa; và kể từ đó được lưu truyền mãi qua những chứng khó tiêu di truyền được nuôi dưỡng bởi các mùa lễ Ramadan.

Tôi liền hỏi Queequeg rằng bản thân anh ta đã từng bao giờ bị phiền toái bởi chứng khó tiêu chưa; diễn đạt ý này một cách thật rõ ràng để anh ta có thể hiểu được. Anh ta bảo là chưa; chỉ có đúng một lần đáng nhớ nhất mà thôi. Đó là sau một bữa tiệc lớn do vua cha của anh ta thết đãi nhân dịp giành được một chiến thắng vang dội, nơi mà năm mươi kẻ thù đã bị giết vào khoảng hai giờ chiều, và tất cả đã được nấu chín rồi ăn sạch ngay trong chính buổi tối hôm đó.

“Thôi đủ rồi, Queequeg,” tôi vừa nói vừa rùng mình; “thế là đủ rồi;” bởi vì tôi thừa hiểu những ẩn ý đằng sau mà chẳng cần anh ta phải nói thêm. Tôi từng gặp một thủy thủ đã từng đến chính hòn đảo đó, và anh ta kể rằng có một phong tục ở đấy, là khi giành được một chiến thắng lớn, người ta sẽ đem nướng mọi kẻ địch bị giết ngay trong sân hoặc khu vườn của kẻ chiến thắng; rồi từng người một, chúng được đặt lên những chiếc mâm gỗ lớn, được trang trí xung quanh giống như món cơm pilau cùng với sa-kê và dừa; và với một nhánh rau mùi ngậm trong miệng, chúng sẽ được mang đi biếu khắp lượt như một lời chúc mừng của kẻ chiến thắng gửi đến tất cả bạn bè của mình, hệt như thể những món quà biếu đó chỉ là mấy con gà tây trong dịp lễ Giáng sinh vậy.

Suy cho cùng, tôi không nghĩ rằng những lời nhận xét của mình về tôn giáo lại tạo được mấy ấn tượng sâu sắc đối với Queequeg. Bởi vì, thứ nhất, hình như anh ta tỏ ra hơi lãng tai trước cái chủ đề quan trọng ấy, trừ phi nó được nhìn nhận từ góc độ riêng của chính anh ta; và thứ hai, anh ta hiểu tôi chưa được nổi một phần ba, dù tôi có diễn đạt ý tưởng của mình đơn giản đến mức nào đi chăng nữa; và cuối cùng, chắc chắn là anh ta nghĩ bản thân mình còn rành mạch hơn tôi rất nhiều về tôn giáo chân chính. Anh ta nhìn tôi bằng một vẻ đầy quan tâm và thương hại trịch thượng, tựa như thể anh ta đang nghĩ thật là quá tiếc cho một chàng trai trẻ khôn ngoan nhường ấy lại bị lầm đường lạc lối một cách vô vọng khỏi sự sùng đạo ngoại giáo phúc âm.

Cuối cùng chúng tôi cũng đứng dậy thay quần áo; và Queequeg, ăn một bữa sáng thịnh soạn đến kinh ngạc gồm đủ loại súp chowder để bà chủ nhà không kiếm chác được là bao từ khoản nhịn ăn của anh ta, hai chúng tôi bước ra ngoài để lên tàu Pequod, vừa thong thả dạo bước vừa dùng xương cá bơn để xỉa răng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.