Hai vạn dặm dưới đáy biển

Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 22
Những lời cuối cùng của thuyền trưởng Nemo

❊ ❊ ❊

Các tấm chắn đã khép lại trước cảnh tượng hãi hùng ấy, nhưng ánh sáng vẫn chưa quay trở lại căn phòng khách: bên trong con tàu Nautilus trùm một màu tối đen và tĩnh mịch. Với tốc độ tuyệt đỉnh, lướt đi ở độ sâu một trăm mét dưới mặt nước, con tàu đang rời khỏi chốn hoang tàn này. Nó đang đi đâu? Về phương bắc hay phương nam? Con người ấy đang trốn chạy đi đâu sau một màn trả thù khủng khiếp nhường này? Tôi đã trở về phòng mình, nơi Ned và Conseil vẫn giữ dáng vẻ hoàn toàn lặng thim. Tôi cảm thấy một sự kinh hoàng khôn tả đối với thuyền trưởng Nemo. Dù những con người kia đã gây ra cho ông những nỗi đau gì chăng nữa, ông cũng không có quyền trừng phạt họ như vậy. Ông đã biến tôi thành, nếu không đồng lõa, thì ít ra cũng là một nhân chứng cho hành động báo thù của mình. Lúc mười một giờ, ánh sáng điện lại bừng lên. Tôi bước sang phòng khách. Nơi ấy trống hoác. Tôi xem lại các dụng cụ đo đạc. Tàu Nautilus đang lao về phương bắc với tốc độ hai mươi lăm dặm một giờ, lúc thì nổi trên mặt nước, lúc lại lặn xuống sâu ba mươi thước dưới sóng xanh. Khi định vị trên hải đồ, tôi nhận ra chúng tôi đang lướt qua cửa biển Manche, và hành trình của tàu đang cuốn chúng tôi về các vùng biển phương bắc với một tốc độ kinh hoàng.

Đêm đó, chúng tôi đã vượt qua hai trăm hải lý Đại Tây Dương. Bóng tối buông xuống, và mặt biển chìm trong màn đêm cho đến khi trăng mọc. Tôi trở về phòng nhưng không tài nào chợp mắt. Ác mộng hãi hùng cứ đeo bám lấy tôi. Cảnh tượng hủy diệt rợn ngợp ấy cứ hiện hoài trước mắt. Từ ngày hôm đó, ai có thể đoán trước tàu Nautilus sẽ đưa chúng tôi vào tận xó xỉnh nào của vùng biển Bắc Đại Tây Dương? Con tàu vẫn lao đi với tốc độ khó tin. Vẫn giữa muôn vàn lớp sương mù phương bắc. Liệu nó có ghé qua Spitzbergen, hay cập bến bờ Nova Zembla? Phải chăng chúng ta sắp khám phá những vùng biển chưa ai biết tới ấy – biển Bạch Hải, biển Kara, vịnh Obi, quần đảo Liarrov, và bờ biển chưa từng được định danh của châu Á? Tôi không thể trả lời. Tôi cũng chẳng thể áng chừng thời gian trôi qua nữa. Những chiếc đồng hồ trên tàu đã ngừng chạy. Có cảm giác như ở các vùng cực, ngày và đêm không còn tuân theo quy luật thường lệ của chúng.

Tôi cảm thấy mình như đang bị kéo vào vùng đất kỳ lạ nơi trí tưởng tượng lầm lạc của Edgar Poe thỏa sức tung hoành. Giống như nhân vật huyền thoại Gordon Pym, bất cứ khoảnh khắc nào tôi cũng chờ đợi được nhìn thấy “hình bóng con người phủ khăn voan ấy, to lớn hơn bất kỳ cư dân nào trên mặt đất, hiện ra vắt ngang qua ngọn thác che chắn lối vào vùng cực.” Tôi ước lượng (dù có lẽ tôi đã nhầm) – tôi ước lượng hành trình đầy phiêu lưu này của tàu Nautilus đã kéo dài mười lăm hoặc hai mươi ngày. Và tôi chẳng biết nó còn có thể kéo dài bao lâu nữa, nếu không vì thảm kịch đã đặt dấu chấm hết cho chuyến hải trình này. Về phần thuyền trưởng Nemo, tôi hoàn toàn không thấy bóng dáng ông đâu nữa, kể cả người phụ tá của ông. Không một thủy thủ nào xuất hiện dù chỉ một thoáng. Tàu Nautilus hầu như lặn ngầm liên tục dưới nước. Mỗi khi ngoi lên mặt nước để thay không khí, các tấm chắn lại tự động đóng mở. Trên bản đồ cầu, chẳng còn dấu vết nào được đánh dấu nữa. Tôi hoàn toàn mù tịt về vị trí hiện tại của chúng tôi. Và cả người thợ săn người Canada, khi sức lực và sự kiên nhẫn đã cạn kiệt, cũng không thèm xuất hiện nữa. Conseil không tài nào moi nổi một lời từ anh ta; và vì sợ rằng trong cơn cuồng nộ tột cùng, anh ta có thể tự vẫn, Conseil đã luôn túc trực theo dõi anh với sự tận tụy không phút lơi lỏng.

Một buổi sáng nọ (tôi chẳng thể nhớ rõ ngày nào) tôi đã chìm vào một giấc ngủ mê mệt vào lúc gần sáng, một giấc ngủ vừa đau đớn vừa uể oải, thì bỗng nhiên choàng tỉnh. Ned Land đang cúi người bên tôi, thì thầm: “Chúng ta sắp trốn chạy.” Tôi ngồi bật dậy.

“Khi nào chúng ta đi?” tôi hỏi.

“Đêm nay. Mọi sự kiểm soát trên tàu Nautilus dường như đã chấm dứt. Tất cả mọi người đều có vẻ tê liệt. Ông đã sẵn sàng chưa, thưa giáo sư?”

“Rồi; chúng ta đang ở đâu vậy?”

“Đang ở sát đất liền. Tôi đã tính tọa độ sáng nay trong làn sương mù—cách bờ khoảng hai mươi dặm về phía đông.”

“Đó là xứ nào vậy?”

“Tôi không biết; nhưng dù là xứ nào đi nữa, chúng ta cũng sẽ tìm cách dung thân ở đó.”

“Vâng, Ned, vâng. Chúng ta sẽ trốn vào đêm nay, dẫu cho biển cả có nuốt chửng chúng ta đi nữa.”

“Biển động mạnh, gió thổi dữ dội, nhưng vượt qua hai mươi dặm trên chiếc xuồng nhỏ bé ấy của tàu Nautilus chẳng làm tôi sợ hãi đâu. Lợi dụng lúc thủy thủ đoàn không hay biết, tôi đã lén chuẩn bị được ít lương thực và vài chai nước ngọt.”

“Tôi sẽ đi theo anh.”

“Nhưng,” người Canada nói tiếp, “nếu bị phát hiện, tôi sẽ chống trả đến cùng; tôi sẽ buộc chúng phải giết tôi.”

“Chúng ta sẽ cùng chết, bạn Ned ạ.”

Tôi đã hạ quyết tâm cho mọi tình huống. Người Canada rời khỏi phòng. Tôi leo lên sàn boong, nơi tôi phải chật vật lắm mới đứng vững nổi trước những cú chấn động của sóng biển. Bầu trời đầy vẻ đe dọa; nhưng vì đất liền đang ẩn hiện đâu đó trong lớp bóng tối sẫm dày đặc ấy, chúng tôi buộc phải trốn chạy. Tôi quay lại phòng khách, vừa nơm nớp sợ hãi vừa nhen nhóm hy vọng được gặp thuyền trưởng Nemo, vừa mong mỏi lại vừa trốn tránh việc chạm mặt ông. Tôi có thể nói gì với ông đây? Liệu tôi có che giấu nổi sự kinh hoàng bản năng mà ông đã gieo rắc vào lòng tôi không? Không. Tốt hơn là tôi không nên đối mặt với ông; tốt hơn là nên quên đi con người ấy. Thế nhưng—— Khoảng thời gian ấy mới dài dằng dặc làm sao, ngày cuối cùng mà tôi sẽ trải qua trên tàu Nautilus. Tôi thui thủi một mình. Ned Land và Conseil tránh không dám nói chuyện với nhau vì sợ bị lộ tẩy. Đến sáu giờ, tôi ăn tối, dù chẳng thấy chút ngon miệng nào; tôi phải cố nhét thức ăn vào bụng dẫu lòng dạ ghê sợ, cốt để bản thân không bị kiệt sức.

Đến sáu giờ rưỡi, Ned Land bước vào phòng tôi và nói: “Chúng ta sẽ không gặp lại nhau trước lúc khởi hành đâu. Lúc mười giờ trăng vẫn chưa mọc. Chúng ta sẽ tận dụng bóng tối để hành động. Hãy ra chỗ chiếc xuồng; Conseil và tôi sẽ đợi ông ở đó.”

Người Canada bước ra ngoài mà không đợi tôi kịp trả lời. Muốn kiểm chứng lại hải trình của tàu Nautilus, tôi tiến về phía phòng khách. Con tàu đang lao đi theo hướng Bắc-Đông-Bắc với tốc độ kinh hoàng, ở độ sâu hơn năm mươi mét. Tôi liếc nhìn lần cuối những kỳ quan của tự nhiên, những kho tàng nghệ thuật chất đầy trong bảo tàng này, cùng bộ sưu tập vô song sắp sửa chôn vùi dưới đáy đại dương cùng với kẻ đã tạo dựng nên nó. Tôi muốn khắc ghi thật sâu ấn tượng ấy vào tâm trí mình. Cứ thế, tôi đứng lặng suốt một tiếng đồng hồ, đắm chìm trong thứ ánh sáng phát ra từ chiếc trần nhà rực rỡ, đưa mắt điểm lại những báu vật đang lấp lánh sau những lớp kính. Rồi tôi trở về phòng.

Tôi mặc bộ trang phục đi biển thật dày dặn. Tôi thu gom các ghi chép của mình, cẩn thận nhét chúng vào người. Trái tim tôi đập thình thịch. Tôi không tài nào kìm nén nổi những nhịp đập ấy. Chắc chắn sự bồn chồn và xao động của tôi sẽ tố cáo tôi trước mắt thuyền trưởng Nemo. Lúc này ông đang làm gì nhỉ? Tôi ghé tai lắng nghe bên cửa phòng ông. Tôi nghe thấy tiếng bước chân. Thuyền trưởng Nemo đang ở đó. Ông vẫn chưa đi nghỉ. Chốc chốc tôi lại thót tim tưởng như ông sắp xuất hiện và gặng hỏi tại sao tôi lại muốn trốn chạy. Tôi luôn trong trạng thái cảnh giác cao độ. Trí tưởng tượng phóng đại mọi thứ lên gấp bội. Cảm giác ấy cuối cùng trở nên nhức nhối đến mức tôi tự hỏi liệu có tốt hơn không nếu cứ bước thẳng vào phòng Tháp Trưởng, đối mặt với ông, và thách thức ông bằng ánh mắt lẫn cử chỉ.

Đó là ý nghĩ điên rồ của một kẻ mất trí; may thay tôi đã kìm nén được mong muốn ấy và ngả mình lên giường để trấn tĩnh lại cơ thể đang bứt rứt. Thần kinh tôi có phần dịu lại, nhưng trong bộ óc đang cuồng nỗ của mình, tôi lại nhìn thấy toàn bộ quãng đời mình trên tàu Nautilus; từng biến cố, dù vui hay buồn, kể từ khi tôi mất tích trên chiếc Abraham Lincoln—cuộc săn lùng dưới lòng biển, eo biển Torres, những thổ dân Papua, vụ mắc cạn, nghĩa địa san hô, chuyến hải trình qua kênh Suez, đảo Santorin, người thợ lặn xứ Crete, vịnh Vigo, lục địa Atlantis, tảng băng trôi, Nam Cực, cảnh bị giam cầm giữa khối băng, trận chiến với bầy bạch tuộc, cơn bão ở dòng hải lưu Gulf Stream, con tàu Avenger, và cảnh tượng hãi hùng khi chiếc chiến thuyền chìm nghỉm cùng toàn bộ thủy thủ đoàn. Tất cả những sự kiện ấy lướt qua trước mắt tôi như những phân cảnh trong một vở kịch. Khi ấy, hình bóng thuyền trưởng Nemo dường như phình to ra vô hạn, những đường nét trên khuôn mặt ông mang vóc dáng siêu phàm. Ông không còn là một con người bình thường như tôi nữa, mà là một sinh linh của thủy giới, là vị thần của biển cả.

Lúc đó là chín giờ rưỡi. Tôi lấy hai tay ôm lấy đầu để ngăn nó không nổ tung ra. Tôi nhắm nghiền mắt lại; tôi không muốn suy nghĩ thêm điều gì nữa. Vẫn còn nửa tiếng đồng hồ nữa phải chờ đợi, nửa tiếng của một cơn ác mộng có thể đẩy tôi đến bờ vực điên dại.

Đúng lúc ấy, tôi nghe văng vẳng tiếng đàn organ từ đâu vọng lại, một giai điệu buồn bã hòa vào khúc ngâm không tên, tiếng than khóc của một tâm hồn khao khát phá vỡ những xiềng xích trần gian này. Tôi lắng nghe bằng mọi giác quan, nín thở; đắm chìm, hệt như thuyền trưởng Nemo, vào cơn ngất ngây âm nhạc đang lôi cuốn tâm hồn ông đến tận cùng của cuộc đời.

Rồi một ý nghĩ bất chợt dội lên làm tôi hoảng sợ. Thuyền trưởng Nemo đã rời khỏi phòng ông. Ông đang ở trong phòng khách, nơi tôi buộc phải băng qua để trốn chạy. Ở đó, tôi sẽ gặp lại ông lần cuối. Ông sẽ nhìn thấy tôi, và có lẽ sẽ nói chuyện với tôi. Chỉ một cử chỉ của ông cũng đủ hủy hoại tôi, chỉ một lời nói cũng đủ xích tôi chết dí trên con tàu này.

Nhưng tiếng chuông điểm mười giờ sắp vang lên. Khoảnh khắc tôi phải rời khỏi phòng và hội tụ cùng các bạn mình đã đến.

Tôi không được phép do dự, dẫu cho chính thuyền trưởng Nemo có hiện ra trước mặt tôi đi nữa. Tôi cẩn trọng hé mở cánh cửa; thế mà ngay cả khi nó xoay trên bản lề, tôi vẫn có cảm giác nó tạo ra một tiếng động thật ghê rợn. Có lẽ âm thanh ấy chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của riêng tôi mà thôi.

Tôi rón rén bước đi dọc theo cầu thang tối mò của tàu Nautilus, dừng lại ở từng bậc để kìm giữ nhịp đập của lồng ngực. Tôi đã đến được cửa phòng khách và nhẹ nhàng đẩy nó ra. Căn phòng chìm đắm trong bóng tối mịt mùng. Tiếng đàn organ vang lên yếu ớt. Thuyền trưởng Nemo ở đó. Ông không nhìn thấy tôi. Dù trong ánh sáng rực rỡ, tôi nghĩ ông cũng chẳng chú ý đến tôi, bởi ông đang hoàn toàn chìm đắp trong cơn ngây ngất tột cùng.

Tôi rón rén bò dọc theo tấm thảm, tránh gây ra dù chỉ một tiếng động nhỏ nhất có thể làm lộ tung tích. Tôi mất ít nhất năm phút mới tới được cánh cửa ở phía bên kia, lối dẫn vào thư viện.

Tôi vừa định mở cửa thì một tiếng thở dài của thuyền trưởng Nemo đã níu chân tôi chết sững tại chỗ. Tôi biết ông đang đứng dậy. Thậm chí tôi còn nhìn thấy ông, bởi ánh sáng từ phòng thư viện hắt xuyên qua phòng khách. Ông lặng lẽ tiến về phía tôi, hai tay khoác chéo ngực, lướt đi như một bóng ma hơn là bước đi. Lồng ngực ông phập phồng những tiếng nấc nghẹn ngào; và tôi nghe thấy ông thì thầm những lời này (những lời cuối cùng vĩnh viễn lọt vào tai tôi):

“Lạy Chúa quyền năng! Đủ rồi! Đủ lắm rồi!”

Phải chăng đó là lời thú tội của sự ân hận đã thốt lên từ chính lương tâm con người ấy?

Trong cơn tuyệt vọng, tôi lao vụt qua thư viện, bước lên chiếc cầu thang ở trung tâm, và theo nhịp cầu thang dẫn lên tầng trên, tôi đã đến được chỗ chiếc xuồng. Tôi luồn người qua cái lỗ thông mà hai người bạn tôi đã chui vào từ trước.

“Đi thôi! Đi mau lên!” tôi kêu lên.

“Lập tức đây!” người Canada đáp.

Lỗ hổng trên lớp vỏ giáp của tàu Nautilus trước tiên được khép lại, rồi siết chặt bằng một chiếc chìa khóa vạn năng mà Ned Land đã chuẩn bị sẵn; lối ra trên xuồng cũng được đóng kín. Người Canada bắt đầu tháo những con ốc vít vẫn đang gắn kết chúng tôi với chiếc tàu ngầm.

Bỗng một tiếng động vang lên. Những giọng nói lớn tiếng đang vọng lại hồi âm cho nhau. Chuyện gì thế nhỉ? Phải chăng chúng đã phát hiện ra cuộc trốn chạy của chúng tôi? Tôi cảm thấy Ned Land nhét vội một con dao găm vào tay mình.

“Vâng,” tôi thì thầm, “chúng ta biết cách để chết mà!”

Người Canada đã khựng lại tay nghề. Nhưng chỉ một từ được lặp đi lặp lại nhiều lần, một từ ngữ hãi hùng, đã hé lộ nguyên nhân của sự náo loạn đang lan khắp tàu Nautilus. Không phải chúng tôi là kẻ mà thủy thủ đoàn đang ráo riết tìm kiếm!

“Vực thẳm Maelstrom! Vực thẳm Maelstrom!” Liệu có từ ngữ nào kinh hoàng hơn trong một hoàn cảnh còn kinh hoàng hơn thế có thể lọt vào tai chúng tôi lúc này không? Hóa ra chúng tôi đang ở ngay vùng biển hiểm trở của Na Uy. Phải chăng tàu Nautilus đang bị cuốn vào cái phễu khổng lồ này đúng vào lúc chiếc xuồng của chúng tôi chuẩn bị rời khỏi mạn nó? Ai nấy đều biết rằng khi thủy triều dâng, dòng nước bị dồn nén giữa các đảo Ferroe và Loffoden đổ sầm xuống với sức mạnh không gì cưỡng lại được, tạo nên một cõi xoáy nước mà không một con tàu nào có thể thoát ra. Từ mọi hướng chân trời, những ngọn sóng khổng lồ cuồn cuộn đổ về, tạo thành một vùng vực thẳm xứng đáng mang tên “Rốn Đại Dương,” nơi có lực hút vươn xa tới mười dặm đường. Ở đó, không chỉ tàu thuyền, mà cả cá voi, cùng những chú gấu trắng từ miền bắc lạnh giá cũng bị cuốn phăng làm vật tế thần.

Chính nơi ấy là chốn mà tàu Nautilus, dù tự nguyện hay bất đắc dĩ, đã bị vị Thuyền trưởng lao đầu vào.

Con tàu đang vẽ nên những vòng xoắn ốc, với chu vi cứ thu hẹp dần theo từng nhịp, và chiếc xuồng vẫn còn đang buông móc bên mạn nó cũng bị cuốn theo với tốc độ chóng mặt. Tôi cảm thấy cơn choáng váng buồn nôn phát sinh từ những vòng quay tròn lặp đi lặp lại suốt quãng thời gian dài.

Chúng tôi ngập chìm trong nỗi kinh hoàng. Nỗi sợ hãi đã lên đến đỉnh điểm, mạch máu như ngừng chảy, mọi phản xạ thần kinh tê liệt hoàn toàn, và chúng tôi ướt đẫm mồ hôi lạnh, tựa như thứ mồ hôi của sự hấp hối! Và tiếng ồn dữ dội làm sao quanh chiếc vỏ thuyền mỏng manh của chúng tôi! Những tiếng gầm rú nào cứ lặp đi lặp lại vang vọng qua cả dặm trường! Thật là một thứ âm thanh đinh tai nhức óc của dòng nước đập tan tác vào những mỏm đá sắc nhọn dưới đáy, nơi những vật thể cứng rắn nhất cũng bị nghiền nát, và cây cối bị bào mòn, “đến mức trụi lủi cả vỏ,” theo cách nói của người Na Uy!

Thật là một hoàn cảnh ngặt nghèo làm sao! Chúng tôi tròng trành dữ dội. Tàu Nautilus chống trả lại như một sinh linh sống bằng xương bằng thịt. Những thớ cơ bằng thép của nó kêu răng rắc. Có lúc nó chồm hẳn lên dựng đứng, và chúng tôi cũng chông chênh theo nó!

“Chúng ta phải bám chắc lấy,” Ned nói, “và canh chừng mấy con ốc vít. Chúng ta vẫn có thể sống sót nếu cứ bám chặt vào tàu Nautilus.”

Anh ta vừa dứt lời thì một tiếng va đập chát chúa vang lên, những chiếc ốc vít bung ra, và chiếc xuồng, bị bứt khỏi rãnh gắn, liền bị hất văng đi như hòn đá ném từ chiếc ná thun vào giữa tâm vòng xoáy nước.

Đầu tôi đập sầm vào một thanh sắt, và dưới sức va đập cực mạnh ấy, tôi hoàn toàn bất tỉnh nhân sự.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.