Hai vạn dặm dưới đáy biển

Lượt đọc: 113 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19
Eo biển Torres

❊ ❊ ❊

Đêm ngày 27 hoặc 28 tháng Mười Hai, chiếc Nautilus rời khỏi bờ biển Vanikoro với tốc độ cực nhanh. Tàu rẽ hướng Tây Nam, và chỉ trong ba ngày đã vượt qua khoảng bảy trăm rưỡi hải lý ngăn cách quần đảo của La Pérouse với mũi Đông Nam đảo Papua.

Sáng sớm ngày mùng 1 tháng Giêng năm 1863, Conseil đến khoang quan sát tìm tôi.

“Thưa giáo sư, ngài có cho phép tôi chúc mừng năm mới ngài không?”

“Ô kìa, Conseil; cứ như thể ta đang ở Paris, ngồi trong phòng nghiên cứu tại Vườn thực vật ấy nhỉ? Chà, ta nhận những lời chúc tốt đẹp của em và cảm ơn em. Chỉ có điều, ta muốn hỏi em hiểu thế nào là một ‘Năm Mới hạnh phúc’ trong hoàn cảnh của chúng ta hiện nay? Ý em là năm sẽ đưa chúng ta đến hồi kết của cảnh ngục tù, hay năm chứng kiến chúng ta tiếp tục cuộc hành trình kỳ lạ này?”

“Thật tình, tôi không biết phải trả lời thế nào, thưa giáo sư. Chúng ta chắc chắn sẽ còn được chứng kiến những điều kỳ thú, và suốt hai tháng qua chúng ta chẳng có chút thời gian nào để mà buồn chán. Kỳ quan sau luôn làm người ta kinh ngạc hơn kỳ quan trước; và nếu cứ đà này tiếp diễn, tôi không dám chắc mọi chuyện rồi sẽ đi đến đâu nữa. Theo ý kiến tôi, chắc chẳng bao giờ chúng ta còn được thấy lại những thứ tương tự thế này. Vậy nên, xin mạn phép giáo sư cho tôi nghĩ rằng một năm hạnh phúc sẽ là năm mà chúng ta được ngắm nhìn tất cả mọi thứ.”

Ngày mùng 2 tháng Giêng, chúng tôi đã đi được 11.340 dặm, tức 5.250 hải lý Pháp, tính từ điểm xuất phát ở vùng biển Nhật Bản. Trước mũi tàu trải dài những bờ biển hiểm trở của vùng biển san hô, nằm bên bờ biển Đông Bắc nước Australia. Con tàu dừng lại cách vài dặm tính từ dải đá ngầm tai tiếng nơi con tàu của thuyền trưởng Cook từng gặp nạn vào ngày 10 tháng Sáu năm 1770. Chiếc tàu của Cook khi ấy đã đâm phải một mỏ đá ngầm, và sở dĩ nó không bị chìm là nhờ một khúc san hô đã gãy văng ra vì lực va đập, rồi kẹt chặt vào phần sống tàu bị vỡ.

Tôi từng ao ước được ghé thăm rạn san hô dài tới 360 hải lý ấy, nơi những con sóng dữ dội lúc nào cũng gầm thét vỗ vào với một thứ âm thanh tựa tiếng sấm. Nhưng ngặt nỗi lúc đó các mặt phẳng nghiêng đã kéo chiếc Nautilus lặn xuống độ sâu lớn, khiến tôi chẳng thể thấy gì ngoài những bức tường san hô sừng sững. Tôi đành phải tự khuây khỏa bằng các mẫu vật cá khác nhau do lưới vớt lên. Trong số đó, tôi chú ý đến vài con cá ngừ vây xanh, một loài cá thu to bằng cá ngừ đại dương, có thân ánh xanh và những sọc ngang biến mất ngay khi con vật chết đi.

Những con cá này bơi theo chúng tôi thành từng đàn, cung cấp cho chúng tôi nguồn thực phẩm vô cùng thơm ngon. Chúng tôi cũng bắt được rất nhiều cá tráp, dài chừng một inch rưỡi, có hương vị giống như cá bơn; cùng loài nhạn biển bay lượn như những con én dưới lòng đại dương, thứ mà trong những đêm tối trời lại thay phiên nhau thắp sáng bầu không khí và làn nước bằng thứ ánh sáng lân tinh của chúng. Giữa đám thân mềm và động vật ruột khoang, tôi tìm thấy trong những mắt lưới vài loài san hô mềm, nhím biển, vỏ ốc hình búa, hình cựa, hình đồng hồ mặt trời, ốc sừng và ốc hyallea. Hệ thực vật được đại diện bởi những đám rong biển trôi nổi tuyệt đẹp, tảo bẹ và macrocystes, thấm đẫm chất nhầy rỉ ra qua các lỗ nhỏ của chúng; và trong số đó tôi đã thu lượm được một loài Nemastoma Geliniarois tuyệt mỹ, được xếp vào hàng kỳ quan tự nhiên của viện bảo tàng.

Hai ngày sau khi vượt qua vùng biển san hô, ngày mùng 4 tháng Giêng, chúng tôi trông thấy bờ biển Papua. Nhân dịp này, thuyền trưởng Nemo thông báo với tôi rằng ông dự định tiến vào Ấn Độ Dương qua ngả eo biển Torres. Cuộc trao đổi của ông chỉ dừng lại có thế.

Eo biển Torres rộng gần ba mươi tư hải lý; nhưng lại bị cản trở bởi vô số hòn đảo lớn nhỏ, bãi cạn và đá ngầm, khiến cho việc hàng hải qua đây trở nên gần như bất khả thi; thế nên thuyền trưởng Nemo đã thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa cần thiết để băng qua nó. Chiếc Nautilus, lơ lửng giữa ranh giới của nước và không khí, di chuyển với tốc độ vừa phải. Cánh chân vịt của tàu, tựa như chiếc đuôi cá voi, đập nhè nhẹ vào những con sóng.

Tận dụng cơ hội này, tôi và hai người bạn cùng bước lên boong tàu vắng vẻ. Phía trước chúng tôi là buồng lái, và tôi thầm đoán thuyền trưởng Nemo đang có mặt ở đó để chỉ đạo đường đi cho chiếc Nautilus. Trước mặt tôi là những tấm hải đồ xuất sắc về eo biển Torres, và tôi chăm chú nghiên cứu chúng. Xung quanh chiếc Nautilus, sóng biển cuồn cuộn giận dữ. Dòng chảy của những con sóng, di chuyển từ hướng Đông Nam sang Tây Bắc với tốc độ hai dặm rưỡi, vỡ vụn trên những mỏm san hô thò lên thụt xuống đây đó.

“Đây là một vùng biển tồi tệ!” Ned Land nhận xét.

“Quả thật là đáng ghét, và nó hoàn toàn không phù hợp với một con tàu như chiếc Nautilus.”

“Thuyền trưởng hẳn phải rất chắc chắn về lộ trình của mình, vì tôi thấy ở kia có những khúc san hô đủ sức làm rách toạc sống tàu nếu nó chỉ khẽ chạm phải.”

Quả thực tình hình vô cùng nguy hiểm, nhưng chiếc Nautilus dường như lướt qua những mỏm đá ấy một cách kỳ diệu. Nó không đi hoàn toàn chính xác theo lộ trình của các con tàu Astrolabe và Zelee, bởi vì những tuyến đường đó từng mang lại tai họa cho Dumont d’Urville. Nó tiến nhiều hơn về phía Bắc, lướt dọc theo quần đảo Murray, rồi quay ngược về hướng Tây Nam để hướng về phía lạch Cumberland. Tôi cứ nginh ngím tưởng tàu sẽ đi ngang qua đó, nhưng rồi nó lại quay đầu về hướng Tây Bắc, băng qua một vùng dày đặc những hòn đảo lớn nhỏ ít ai biết tới, hướng về phía vũng biển Island Sound và kênh Mauvais.

Tôi tự hỏi liệu thuyền trưởng Nemo có đang tỏ ra liều lĩnh một cách dại dột khi lái con tàu vào cái khe mà hai chiếc tàu hộ tống của Dumont d’Urville từng mắc cạn hay không; đúng lúc ấy, tàu lại ngoặt một lần nữa, cắt ngang hướng Tây để thẳng tiến về đảo Gilboa.

Khi đó là ba giờ chiều. Thủy triều bắt đầu rút sau khi đã đạt mức triều cường. Chiếc Nautilus tiến sát lại hòn đảo mà tôi vẫn đang nhìn rõ, với vành đai cây dứa dại nổi bật của nó. Tàu dừng lại cách bờ khoảng hai dặm. Bất ngờ, một cú va đập hất nhào tôi ngã nhúi lủi. Chiếc Nautilus vừa khẽ chạm phải một mỏm đá rồi khựng lại bất động, nằm nghiêng nhẹ sang mạn trái.

Khi đứng dậy, tôi nhận ra thuyền trưởng Nemo và viên phụ tá của ông đang ở trên boong. Họ đang quan sát tình hình của con tàu và trao đổi với nhau bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu của họ.

Tình thế của con tàu lúc bấy giờ như sau: Cách đó hai dặm về phía mạn phải là đảo Gilboa, trải dài từ Bắc sang Tây giống như một cánh tay khổng lồ. Về phía Nam và Đông, một vài mỏm san hô lộ ra do nước triều rút xuống. Chúng ta đã mắc cạn, lại rơi vào đúng một vùng biển có biên độ thủy triều nhỏ — một điều vô cùng tồi tệ cho việc nổi tàu của chiếc Nautilus. Dẫu vậy, con tàu vẫn chưa bị hư hại gì, bởi sống tàu của nó được kết cấu vô cùng vững chắc. Thế nhưng, nếu nó không thể tự trượt ra hay di chuyển được, nó sẽ đối mặt với nguy cơ bị gắn chặt vĩnh viễn vào những mỏm đá này, và khi ấy con tàu ngầm của thuyền trưởng Nemo coi như tiêu đời.

Tôi đang mải chìm trong những suy nghĩ đó thì viên thuyền trưởng, với vẻ điềm tĩnh lạnh lùng và luôn làm chủ bản thân, bước đến gần tôi.

“Một tai nạn sao?” tôi hỏi.

“Không; chỉ là một sự cố.”

“Nhưng là một sự cố có lẽ sẽ buộc ông phải trở thành cư dân của chính mảnh đất mà ông đang tìm cách trốn chạy này đấy?”

Thuyền trưởng Nemo nhìn tôi đầy vẻ dò xét, rồi lắc đầu ra ý ra hiệu rằng không gì có thể ép ông đặt chân lên đất liền một lần nữa. Đoạn, ông cất lời:

“Hơn nữa, thưa giáo sư Aronnax, chiếc Nautilus không hề bị bỏ lại; nó vẫn sẽ đưa ngài đi sâu vào giữa những kỳ quan của đại dương. Cuộc hành trình của chúng ta chỉ mới bắt đầu, và tôi không muốn bị tước đoạt vinh dự được đồng hành cùng ngài sớm đến thế.”

“Tuy nhiên, thưa thuyền trưởng Nemo,” tôi đáp lại, chẳng màng bận tâm đến giọng điệu mỉa mai trong câu nói của ông, “chiếc Nautilus đã mắc cạn giữa vùng biển rộng. Mà ngài biết đấy, thủy triều ở Thái Bình Dương vốn không lớn; và nếu ngài không thể làm nhẹ bớt chiếc Nautilus đi, tôi không tài nào hiểu nổi làm sao nó có thể nổi trở lại.”

“Thủy triều ở Thái Bình Dương không lớn: ngài nói đúng đấy, thưa giáo sư; nhưng ở eo biển Torres, người ta vẫn tìm thấy sự chênh lệch tới một thước rưỡi giữa mực nước triều cường và triều kiệt. Hôm nay là ngày mùng 4 tháng Giêng, và năm ngày nữa trăng sẽ tròn. Giờ thì, tôi sẽ vô cùng ngạc nhiên nếu như vệ tinh đó không nâng những khối nước này lên đủ mức và làm ơn cho tôi một việc mà tôi sẽ phải mang ơn nó.”

Nói xong, thuyền trưởng Nemo, theo sau là viên phụ tá, liền bước xuống lại phần nội thất bên trong chiếc Nautilus. Về phần con tàu, nó vẫn trơ trơ không nhúc nhích, bất động tựa thể lũ trùng san hô đã kịp dùng thứ xi măng bất tử của chúng để xây kín xung quanh.

“Thế nào rồi, thưa giáo sư?” Ned Land cất tiếng hỏi khi hắn tiến đến chỗ tôi sau khi vị thuyền trưởng đã rời đi.

“À, bạn Ned thân mến, chúng ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi thủy triều vào ngày mùng 9 tới đây; bởi có vẻ như mặt trăng sẽ lại rộng lượng ra tay cứu giúp một lần nữa đấy.”

“Thật chứ ạ?”

“Thật chứ.”

“Và vị Thuyền trưởng này sẽ chẳng thèm thả neo lấy một lần vì nghĩ rằng thủy triều là quá đủ rồi sao?” Conseil ngây thơ hỏi.

Người thợ săn cá voi người Canada nhìn Conseil, đoạn nhún vai.

“Thưa giáo sư, ngài có thể tin tưởng tôi khi tôi nói rằng đống sắt vụn này sẽ chẳng bao giờ còn lướt trên mặt biển hay lặn dưới đáy biển được nữa đâu; nó chỉ còn đáng đem bán theo cân mà thôi. Vì vậy, tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nên chia tay với thuyền trưởng Nemo rồi.”

“Bạn Ned ạ, tôi không tuyệt vọng về chiếc Nautilus cứng cáp này như bạn nghĩ đâu; và chỉ bốn ngày nữa chúng ta sẽ biết rõ cơ sự ra sao với thủy triều ở Thái Bình Dương. Hơn nữa, việc trốn chạy có lẽ sẽ khả thi nếu chúng ta đang ở trong tầm mắt của bờ biển Anh hay xứ Provençal; nhưng ở tận những chốn bờ bến Papua này lại là chuyện khác hẳn; và chúng ta hãy đợi đến lúc cùng đường rồi hẵng tính, giả như chiếc Nautilus không thể tự nổi trở lại, mà tôi thì coi đó là một biến cố nghiêm trọng.”

“Nhưng liệu họ có biết cách hành động thận trọng không chứ? Kìa có một hòn đảo; trên hòn đảo đó có cây cối; dưới những tán cây ấy là đám động vật bốn chân, những kẻ mang trên mình biết bao miếng sườn cừu và bò bít-tết thơm phức mà tôi rất sẵn lòng thử nghiệm qua một phen.”

“Về điểm này thì bạn Ned nói đúng,” Conseil hưởng ứng, “và tôi hoàn toàn đồng tình với anh ấy. Chẳng lẽ giáo sư không thể xin phép người bạn thuyền trưởng Nemo của ngài cho chúng ta đặt chân lên đất liền hay sao, dẫu chỉ để không bị quên mất cảm giác được bước đi trên những phần cứng cáp của hành tinh chúng ta?”

“Tôi có thể hỏi ông ấy, nhưng chắc chắn ông ấy sẽ từ chối.”

“Liệu giáo sư có dám mạo hiểm thử một lần không ạ?” Conseil hỏi tiếp, “rồi chúng ta sẽ biết rõ lòng tốt của vị Thuyền trưởng này đi đến đâu.”

Trái ngược hoàn toàn với nỗi ngạc nhiên tột độ của tôi, thuyền trưởng Nemo đã chấp thuận lời thỉnh cầu của tôi, và ông đồng ý một cách vô cùng nhã nhặn mà thậm chí chẳng thèm bắt tôi phải hứa hẹn sẽ quay lại tàu; dẫu rằng cuộc trốn chạy băng qua xứ New Guinea có thể tiềm ẩn muôn vàn hiểm nguy, và tôi sẽ chẳng đời nào khuyên Ned Land thử làm điều đó. Thà cứ làm tù nhân ở trên khoang chiếc Nautilus còn hơn là rơi vào tay đám thổ dân bản địa.

Đúng tám giờ, mang theo súng và rìu, chúng tôi rời khỏi chiếc Nautilus. Biển khá lặng; một làn gió nhẹ hiu hiu thổi vào đất liền. Conseil và tôi cùng nhau chèo thuyền, chúng tôi lướt đi vô cùng nhanh chóng, còn Ned thì giữ tay chèo lái theo con đường thẳng tắp mà các dải đá ngầm đã chừa lại giữa chúng. Con tàu nhỏ được điều khiển khéo léo và lao đi phăng phăng.

Ned Land không sao kìm nén nổi niềm vui sướng tột độ. Hắn trông giống hệt như một tên tù nhân vừa trốn thoát khỏi ngục tù, và hoàn toàn quên mất rằng rồi thế nào cũng có lúc mình phải quay trở lại đó.

“Thịt! Chúng ta sắp được ăn thịt rồi; và lại là loại thịt hảo hạng nữa chứ!” hắn hào hứng đáp lại. “Thịt thú rừng chính hiệu đấy! Không, chả bì được với bánh mì đâu, nhưng mà ngon hơn nhiều.”

“Tôi không nói là ăn cá thì không ngon; chúng ta không nên chê bai nó; nhưng một miếng thịt nai tươi ngon nướng trên than hồng sẽ là sự thay đổi tuyệt vời cho thực đơn thường nhật của chúng ta đấy.”

“Đồ tham ăn!” Conseil trêu chọc, “anh ta làm tôi nhỏ Cả dãi ra rồi kìa.”

“Còn phải chờ xem,” tôi thận trọng nói, “liệu những khu rừng này có dồi dào thú săn hay không, và liệu đám thú săn ấy có quay lại săn đuổi chính những kẻ đi săn hay không đã.”

“Nói hay lắm, thưa giáo sư Aronnax,” người thợ săn người Canada đáp lại, hàm răng hắn lúc này trông sắc bén chẳng khác nào lưỡi rìu; “nhưng tôi sẵn sàng ăn cả thịt hổ—thịt thăn hổ—nếu như trên hòn đảo này chẳng còn loài thú bốn chân nào khác.”

“Bạn Ned bắt đầu thấy sốt ruột rồi đấy,” Conseil nhận xét.

“Dù thế nào đi nữa,” Ned Land tiếp lời, “bất kỳ con vật nào có bốn chân mà không có lông vũ, hoặc hai chân không có lông vũ, đều sẽ phải chào đón phát súng đầu tiên của tôi.”

“Tuyệt thật đấy! Những sự liều lĩnh của ngài Land lại bắt đầu rồi kìa.”

“Cứ yên tâm đi, thưa giáo sư Aronnax,” vị người Canada đáp; “tôi không cần quá hai mươi lăm phút để dâng lên ngài một món ăn theo đúng kiểu của tôi đâu.”

Vào lúc tám giờ rưỡi, chiếc xuồng của Nautilus khẽ chạm vào một dải cát dày, sau khi đã vượt qua một cách êm xuôi rạn san hô bao quanh đảo Gilboa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.