Đại Tần Đế Quốc 1: Hắc Sắc Liệt Biến

Lượt đọc: 334 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tập 5: Thái Tử Doanh Tứ Chợt Bộc Lộ Phong Mang

❊ ❊ ❊

Doanh Tứ hơi ngạc nhiên, Thương Ưng chưa từng ghé thăm Thái tử phủ, hôm nay tìm đến tận nhà rốt cuộc có đại sự gì?

Chàng lập tức dặn dò tổng quản tiếp đón cung kính, rồi vội vàng dậy sửa sang chải chuốt. Một lúc sau, bước ra chánh điện, Doanh Tứ mang theo vẻ áy náy chắp tay làm lễ, "Doanh Tứ trễ nải, mong Thương Quân lượng thứ." Thương Ưng rời ghế chắp tay đáp: "Thỉnh thoảng lỡ buổi cũng là lẽ thường." Doanh Tứ mời Thương Ưng ngồi, bản thân ngồi ở phía đối diện, tất kính tất cung nói: "Doanh Tứ đang định sang phủ Thương Quân thỉnh giáo, không ngờ Thương Quân lại đích thân đến, thật thốn thức hổ thẹn." Thương Ưng không khách sáo xã giao, đi thẳng vào vấn đề: "Hôm nay Ưng tới đây là có đại sự muốn thương nghị."

"Doanh Tứ xin kính cẩn lắng nghe giáo huấn." Lời vừa thốt ra, Doanh Tứ liền cảm thấy có chút hối hận, tự giận bản thân không thể tự chủ. Từ thời thiếu niên, Doanh Tứ đã có phần e sợ vị quyền thần lạnh lùng, sắc sảo và nghiêm nghị này. Chàng thấy người này cứng nhắc đến mức không cận nhân tình, hầu như không giao thiệp riêng tư với bất kỳ ai, ngoài quốc sự vẫn là quốc sự, ngoài biến pháp vẫn là biến pháp, ở nước Tần như hạc đứng giữa bầy gà. Ngay cả bộ y phục trắng vĩnh viễn không đổi kia, giữa điện đường u tối một màu đen của nước Tần cũng trở nên thật gai mắt. Trên người kẻ này có một luồng uy hiếp vô hình, ai nấy đều kính mà tránh xa. Doanh Tứ lúc nhỏ cứ hễ gặp ông là tim đập liên hồi. Dù trải qua thời gian rèn luyện khi bị "phóng thích" vì phạm pháp đã giúp Doanh Tứ có được sự đánh giá lý trí và thực tế về Thương Ưng, khâm phục sát đất tài lược hùng vĩ cùng công nghiệp xoay chuyển càn khôn của ông, nhưng sự kiêng dè sâu thẳm trong lòng vẫn không sao xóa bỏ được. Chàng cũng muốn trước mặt Thương Ưng được thản nhiên, tự tại một chút, nhưng lần nào cũng gượng gạo và cung kính một cách vô thức, còn vô dụng hơn cả khi đứng trước mặt công phụ, đến chính mình cũng thấy ngượng ngạo, thật khiến người ta phiền não.

Thương Ưng lại hoàn toàn không nhận ra, thong dong nói: "Bệnh tình của Quân thượng đã truyền khắp thiên hạ, sáu đại chiến quốc ở Trung Nguyên và nhà Chu ở Lạc Dương đều đã nối tiếp nhau phái đặc sứ đến thăm hỏi bệnh tình của Quân thượng, hiện đều đang dừng chân tại trạm dịch Quốc Tân. Thái tử cho rằng, mục đích đến đây của đặc sứ thất quốc là gì? Liệu có thực sự quan tâm đến long thể của Quân thượng không?"

"Doanh Tứ cho rằng, bọn họ lấy danh nghĩa thăm bệnh, nhưng thực chất là để thám thính tình hình đất nước."

"Thái tử nói rất đúng." Thương Ưng nở nụ cười hài lòng, "Vậy ý sâu xa của việc thám thính tình hình đất nước là nằm ở đâu?"

Doanh Tứ trầm ngâm một hồi, lại khiêm tốn cười nói: "Mạn phép xin Thương Quân giải thích rõ cho."

"Từ thời Xuân Thu đến nay, nước mạnh được một đời thì thấy nhiều không kể xiết, nước mạnh được hai đời thì chỉ đếm trên đầu ngón tay, còn nước mạnh được ba đời thì chưa từng nghe thấy. Đó chính là điều gọi là 'cái đức của quân tử, ba đời là dứt'. Từ thời Chiến Quốc đến nay, nước Ngụy trải qua hai đời Ngụy Văn Hầu, Ngụy Vũ Hầu biến pháp mới trở thành đệ nhất cường quốc thiên hạ. Nay, đến đời Ngụy Vương thứ ba thì ngày càng suy yếu. Đó là minh chứng cho việc biến pháp làm nước mạnh nhưng đến đời thứ ba lại yếu đi. Tấm gương xa đâu chẳng thấy, ngay trước mắt đời Hạ Hậu. Nay nước Tần ta trải qua biến pháp hơn hai mươi năm, đã sừng sững trở thành đệ nhất cường quốc thiên hạ. Các nước Chiến Quốc ở Trung Nguyên làm sao có thể tâm phục khẩu phục? Thứ bọn họ mong chờ chính là tân pháp của nước Tần sau đời Quân thượng sẽ bị thay đổi, mong chờ sự mạnh mẽ của nước Tần giống như sao băng, chợt sáng rồi vụt tắt. Mà hy vọng thay đổi đó nằm ở đâu? Ở Thái tử, ở Trữ quân. Cho nên, ý thật sự của đặc sứ thất quốc không phải thám thính bệnh tình của Tần Công, mà là thám thính biến số của nước Tần. Nói một cách chính xác, là muốn dò thám cho rõ tâm tư của Thái tử." Thương Ưng giữ nguyên phong cách nhất quán của mình, phân tích vô cùng rõ ràng, thấu đáo.

Doanh Tứ thâm tâm vô cùng khâm phục sự thấu sát sâu sắc cùng lời lẽ sắc bén của Thương Quân. Những điều bản thân thấy khó diễn đạt rõ ràng thì Thương Quân lại chỉ cần ba dường hai nhát đao chặt búa bổ là giải quyết gọn gàng, tài năng trí tuệ như thế quả thực xưa nay hiếm thấy! Doanh Tứ gật đầu liên tục, "Thương Quân muốn nói, bọn họ muốn xem liệu Doanh Tứ có thể tiếp tục kiên trì tân pháp hay không? Muốn xem Doanh Tứ có năng lực trị quốc hay không?"

"Chính là như vậy."

"Thương Quân cho rằng, chuyện này nên xử trí thế nào?"

"Bệnh thể Quân thượng suy nhược, không nên tiếp kiến đặc sứ. Theo ý thần, nên do Thái tử đứng ra tiếp kiến đặc sứ thất quốc, thần sẽ tháp tùng. Thái tử phải nhân cơ hội này tuyên bố rõ quyết tâm kiên trì quốc sách tân pháp. Bằng không, vạn nhất Quân thượng có mệnh hệ gì, sáu nước rất có thể sẽ liên minh tấn công Tần."

"Thương Quân chớ lo, Doanh Tứ có thể làm được."

Trạm dịch Quốc Tân ở Hàm Dương nằm trên con đại lộ rộng rãi nhất bên ngoài cung thành. Con đại lộ này không có nhà dân, không có chợ búa, sạch sẽ ngăn nắp, vô cùng khí thế. Năm xưa khi Thương Ưng quy hoạch xây dựng Hàm Dương, đã đề xuất với Tần Hiếu Công chủ trương kiến đô "Không gò bó theo Chu lễ, quy hoạch thành lớn, tính đến đời sau, vô song thiên hạ", xây dựng thành Hàm Dương to lớn nghiêm cẩn, vượt xa vương thành Lạc Dương của nhà Chu.

Đầu thời Chiến Quốc, tuy "Chu Lễ" từ lâu đã sụp đổ, nhưng về mặt quy hoạch thành trì vẫn kế thừa những định chế cơ bản của "Chu Lễ". Sự kế thừa này dù không còn mang ý nghĩa "vương pháp" bắt buộc phải tuân theo mà chỉ được sử dụng như một truyền thống kiến trúc, nhưng cũng trói buộc rất lớn sự sáng tạo của người ta đối với việc xây dựng đô thị. Trong "Chu Lễ" có một chương tên là "Khảo Công Ký", chuyên quy định quy mô xây dựng và phương thức quy hoạch các cấp đô thị. Trong đó phần "Tượng Nhân Doanh Quốc" đã quy định chi tiết quy chế xây dựng đô thành (vương thành) của Thiên tử cùng đô thành của các chư hầu lớn nhỏ và "thái ấp" (thành trì) của các đại phu:

Người thợ xây thành, vuông chín dặm, mỗi bên ba cửa. Trong thành chín đường dọc chín đường ngang, đường dọc rộng chín luồng xe. Bên trái đặt miếu tổ tiên, bên phải đặt đàn xã tắc, phía trước là triều đình, phía sau là chợ. Bên trong có chín cung phòng, chín tần ở. Bên ngoài có chín phòng, chín khanh chầu. Chia đất nước làm chín phần, chín khanh cai trị.

Quy chế mái cửa vương cung cao năm trĩ, góc cung cao bảy trĩ, góc thành cao chín trĩ.

Đường dọc chín luồng xe, đường bao quanh bảy luồng xe, đường ngoại thành năm luồng xe.

Quy chế mái cửa vương cung làm quy chế đô thành. Quy chế góc cung làm quy chế thành chầu của chư hầu. Đường bao quanh làm đường dọc của chư hầu, đường ngoại thành làm đường dọc của đô thành.

Chính kiểu "vương pháp" xây dựng đô thành (doanh quốc) này đã hạn chế vô cùng nghiêm ngặt về quy mô đô thành (vuông chín dặm), số lượng đường xá (chín dọc chín ngang), độ rộng hẹp (đường vương thành cho chín xe đi hàng ngang, đường bao quanh thành bảy xe đi hàng ngang, đường ngoại ô năm xe đi hàng ngang), chiều cao cung thành (nóc cửa cung cao năm trượng, nóc điện cung cao bảy trượng, tường thành cao chín trượng), quy chế phân cấp, không được vượt quá một bước, bằng không sẽ là tội "tiệm vượt".

Cuối thời Xuân Thu, chư hầu thiên hạ đối với cái gọi là "vương pháp" này đã chẳng coi ra gì. Thừa tướng Quản Trọng nước Tề công nhiên chủ trương chức năng của đô thị phải là "định nơi ở cho dân, làm nên việc cho dân"; cấp bậc đô thị nên lấy diện tích chiếm đất, số lượng dân số để phân chia, thành vạn hộ là có thể gọi là "quốc", thành ngàn hộ là có thể gọi là "đô". Đó chính là cái gọi là "vạn thất chi quốc" và "thiên thất chi đô". Quản Trọng còn đưa ra chủ trương địa thế tự nhiên lập quốc đô trái ngược hoàn toàn với "vương pháp" —— "Hễ lập quốc đô, không ở dưới núi lớn thì nhất định phải ở trên sông rộng. Cao không gần hạn hán mà đủ nước dùng. Thấp không gần nước mà tiết kiệm hào phòng." Mặc dù điều này về mặt quan niệm đã phá vỡ rất lớn "vương pháp" của Chu lễ, nhưng trên thực tế lại chưa có một quốc gia chư hầu nào thực hiện, bao gồm cả Lâm Tri của nước Tề.

Là một đô thành mới xây, Hàm Dương đã thể hiện đầy đủ sự thực tiễn đổi mới không gò bó theo "vương pháp".

Xét về địa thế địa lý, Hàm Dương phía trước có sông rộng, phía sau có núi lớn, nước dùng dồi dào, tiết kiệm công đắp hào phòng ngự, không lo hạn hán lũ lụt. Xét về quy mô, Hàm Dương vượt xa quy mô "vuông chín dặm" của Thiên tử, chưa nói đến thành trì ba năm dặm của chư hầu. Tường thành Hàm Dương mỗi chiều dài hơn mười dặm, đạt đến quy mô hùng vĩ vuông bốn mươi dặm. Chỉ riêng cầu Bạch Ngọc Vị ở phía nam thành Hàm Dương đã rộng hơn sáu trượng, dài ba trăm tám mươi bước, có thể cho chín xe đi song song.

Điểm đặc sắc nhất của thành Hàm Dương vẫn là sự đổi mới trong bố cục nội thành. Điểm cốt lõi của sự đổi mới là "làm nên việc cho dân", chứ không còn là "tuyên dương đức của vương". Trong thành Hàm Dương được chia thành tám khu vực: khu cung đình, khu quan thự, khu thương thị, khu kho tàng, khu thợ thủ công, khu quốc trạch, khu biên hộ, khu tông miếu, việc bố trí nơi ở cho quan dân trong thành vô cùng ngăn nắp, có trật tự. Điều quan trọng hơn là Thương Ưng quản lý đô thành vô cùng nghiêm ngặt, "đổ tro ra đường sẽ bị phạt hình". Chính vì vậy, đường xá trong thành rộng rãi, thông tùng xanh tươi, nghiêm cẩn sạch sẽ. Đường xe chạy, đường ngựa đi, đường đi bộ phân định rành rọt, trật tự đâu vào đấy. Thương gia Trung Nguyên cùng sứ tiết các nước vừa bước vào Hàm Dương liền cảm nhận được một luồng khí tượng cường quốc nghiêm cẩn, chỉnh tề lại tràn đầy sức sống, bất giác dấy lên lòng kính trọng.

Trạm dịch Quốc Tân này được xây dựng ngay tại khu quốc trạch. Cái gọi là khu quốc trạch chính là khu vực dinh thự của các quan lại lớn nhỏ và quý tộc có tước vị. Nơi đây đường xá rộng rãi, u tĩnh sạch sẽ, xe ngựa nườm nượp, không quá lạnh lẽo cũng chẳng quá ồn ào, tự nhiên là chốn trung tâm phồn hoa sắc sảo nội thành Hàm Dương. Đối với các sứ giả, sống ở đây việc giao thiệp với quan lại rất đỗi thuận tiện. Đối với quan phủ nước Tần, vừa thuận tiện cho việc bảo vệ sứ thần quan trọng, lại càng thuận tiện cho việc giám sát những sứ giả lòng mang dạ thú. Mỗi bên đều đạt được mục đích, đôi bên cùng có lợi.

Tin tức Tần Hiếu Công bệnh tình nguy ngập truyền đến Trung Nguyên, sáu đại chiến quốc liền dồn dập phái sứ thần tới "vỗ về thăm hỏi". Sứ thần các nước Ngụy, Tề, Sở còn mang theo danh y và vô số dược liệu quý giá của nước mình. Những sứ thần này phần lớn đã ở Hàm Dương được hai ba tháng, chẳng có chút ý định rời đi. Cứ cách hai ba ngày bọn họ lại phái kỵ binh phi hỏa tốc về nước báo cáo, nắm rất rõ sự trồi sụt bệnh tình của Tần Hiếu Công. Lần này Tần Hiếu Công lại đổ bệnh ngã xuống, sáu đại chiến quốc và nhà Chu ở Lạc Dương lập tức phái các đại thần quan trọng làm đặc sứ, chuyên trình đến Hàm Dương. Lần này, các đặc sứ đã không còn bàn tán đoán già đoán non về bệnh tình của Tần Công nữa, gặp nhau mỉm cười một cái rồi lại vội vã bôn ba ra ngoài. Trở về trạm dịch, lại ba ba hai hai bí mật trao đổi tin đồn, không khí vô cùng thần bí.

Mấy ngày trước, đặc sứ thất quốc đã lần lượt dâng thư, xin được kiến diện Thái tử và Thương Quân, "đệ trình quốc thư, giải tỏa nghi hoặc". Nhưng mãi vẫn không thấy hồi âm. Các đặc sứ rôm rả bàn tán suy đoán, đều cho rằng đây là một dấu hiệu vi diệu —— Phủ Thương Quân vốn chưa từng lề mề chậm chạp nay lại chẳng rảnh rỗi ngó ngàng tới đặc sứ các nước, đủ thấy cuộc tranh đoạt trong cung đình nước Tần đã trở nên khẩn trương tới mức nào!

Hôm đó, các đặc sứ đều không ra khỏi trạm dịch, lại như đã hẹn trước mà cùng tụ tập ở đại sảnh trạm dịch uống trà bàn luận, tiếng cười nói vô cùng thoải mái.

"Thái tử, Thương Quân giá lâm——!" Từ cổng trạm dịch vang lên tiếng xướng báo vang dội.

Các đặc sứ nhìn nhau, một khoảng ngỡ ngàng im lặng. Đặc sứ nước Sở là Giang Ất khá có đầu óc, thong thả cười nói: "Chuyện tốt rồi, mau nghênh đón Thái tử và Thương Quân thôi." Các đặc sứ bừng tỉnh, dồn dập chỉnh đốn xiêm y đứng dậy, xếp thành một hàng dưới cổng, chắp tay nghênh đón: "Bái kiến Thái tử! Bái kiến Thương Quân!"

Thương Ưng chắp tay đáp lễ, mỉm cười nhẹ nhàng nói: "Làm phiền các vị nghênh đón, xin mời các vị đặc sứ vào sảnh an tọa."

Vào đến đại sảnh lại an tọa theo vị trí. Thái tử Doanh Tứ ngồi ở chính giữa, Thương Ưng ngồi hầu bên trái. Đặc sứ thất quốc tùy theo thứ tự nước lớn nước nhỏ mà ngồi định vị, bên tay trái (phía đông) là ba sứ Tề, Sở, Ngụy, bên tay phải (phía tây) là ba sứ Triệu, Yến, Hàn. Vương sứ nhà Chu mang danh nghĩa hờ, vốn nên xếp ở ghế cuối, nhưng nể mặt danh phận "Thiên tử", các nước trong giao thiệp lễ nghi vốn từ trước tới nay vẫn nâng đỡ, nên được ngồi ở phía nam đối diện từ xa với Thái tử, coi như có được cái danh nghĩa đặc sứ thủ tịch. Chờ các đặc sứ ngồi định chỗ, chín người thị nữ bưng mâm nối đuôi nhau bước vào, trên mỗi bàn dài liền có một đỉnh một tước, trong đỉnh khói nóng nghi ngút, trong tước rượu nếp tỏa hương thơm ngát. Thế nhưng các đặc sứ lại như không nhìn thấy, ánh mắt đều dồn hết lên người Thái tử Doanh Tứ.

"Đa tạ Thái tử! Đa tạ Thương Quân!"

Doanh Tứ giơ tước, "Doanh Tứ cùng Thương Quân, thay công phụ làm tiệc tẩy trần cho chư công, cạn tước này." Nói xong liền uống cạn sạch.

"Cầu chúc Tần Công sớm ngày bình phục!" Các đặc sứ đồng thanh chúc tụng, cũng uống cạn sạch.

Thương Ưng mỉm cười nói: "Thái tử tổng nhiếp quốc chính, chư công có điều gì nghi vấn về việc nước Tần, cứ việc thỉnh giáo Thái tử giải đáp."

Lời này vừa thốt ra, các đặc sứ vô cùng ngạc nhiên. Theo lệ thường, vào thời điểm then chốt giao tiếp khi quốc quân bệnh nguy, Trữ quân và quyền thần đều cố gắng hết sức né tránh các vụ việc quốc vụ công khai, cố gắng không để lại nhược điểm cho phe đối lập trong triều ngoài dã. Vì sao nước Tần lại làm ngược lại? Trầm mặc một hồi, đặc sứ nước Yến cẩn trọng nói: "Mạn phép hỏi Thái tử, những năm gần đây các nước truyền tai nhau, nguyên lão quý tộc nước Tần đang ra sức khôi phục tổ chế cựu pháp, không biết thuyết này liệu có căn cứ?"

Doanh Tứ trong lòng cười khẩy, nhưng lại điềm tĩnh tự nhiên cười đáp: "Thương Quân biến pháp hơn hai mươi năm, chưa bao giờ thiếu kẻ chống đối. Thế nhưng tân pháp đã thành đại thế trong triều ngoài dã của nước Tần, bất kể là ai cũng không thể cản trở, điều này thiên hạ đều trông thấy rõ ràng. Còn về những kẻ lòng mang dạ thú tung tin đồn nhảm, mê hoặc lòng người, đó là hành vi phạm pháp. Một khi điều tra ra, lập tức trừng trị, tuyệt không khoan thứ. Xin chư công về bẩm báo với bệ hạ quý quốc, nước Tần vĩnh viễn không bao giờ khôi phục chế độ cũ, thuyết quý tộc nguyên lão phục cổ cũng là vô căn cứ, lấy sai truyền sai."

Một tràng lời lẽ trầm ổn chuẩn xác, các đặc sứ không khỏi thầm thán phục.

Đặc sứ nước Ngụy cười nói: "Bẩm Thái tử, nước Ngụy cùng nước Tần giáp ranh, Ngụy Vương chân thành mong muốn hai nước bỏ qua hiềm thù cũ, vun đắp bang giao. Ý của Ngụy Vương là, nước Tần đã thu hồi lại đất Hà Tây, khôi phục lại bờ cõi thời Mục Công. Thế nhưng con dân nước Ngụy bị nước Tần cưỡng ép bắt bớ bỏ chạy, có hơn vạn hộ, tính ra khoảng hơn mười vạn nhân đinh, đến nay vẫn đang sống ở nước Tần. Ngụy Vương tha thiết mong nước Tần trả lại con dân đào tẩu của ta, giải tỏa hiềm thù, không để nước láng giềng trở mặt thành thù." Lời này rõ ràng là mềm trong có cứng, mang theo chút ý đe dọa.

Đặc sứ nước Hàn lập tức hùa theo, "Nước Hàn cũng có mấy vạn con dân bỏ chạy sang sống ở nước Tần, tha thiết mong được trả lại."

Đặc sứ nước Triệu cũng cất cao giọng nối lời: "Nước Triệu cũng có gần mười vạn nhân đinh bị nước Tần cưỡng ép tháo chạy, nước Tần nên mau chóng trả lại để làm an lòng người nước Triệu."

Doanh Tứ ha ha đại chấu, hồi lâu mới thu lại nụ cười giễu cợt: "Đặc sứ Tam Tấn liệu có phải môn hạ Danh gia? Quả đúng là tài hùng biện. Gà ba chân, ngựa ba tai, kiểu gì cũng nói được. Doanh Tứ bất tài, xin hỏi ba vị: Tần vốn nghèo yếu, con dân Tam Tấn vì sao lại bỏ chạy khỏi bản thổ mẫu quốc mà vào nước Tần? Thế nào là cưỡng ép? Ra quân bắt cóc hay bốn phương thuyết phục? Thế nào là giải tỏa hiềm thù? Nước Ngụy chiếm đất Hà Tây của ta hơn năm mươi năm, nước Tần thu phục lại, lại phải lấy việc trả dân đào tẩu làm báo đáp, đây gọi là giải tỏa hiềm thù sao? Tình này lý này, quả thực khiến người ta vỗ tay kinh ngạc vậy." Đặc sứ Tam Tấn nhất thời không lời đối đáp, Doanh Tứ lại đột nhiên nghiêm mặt nói: "Doanh Tứ chính thức cảnh cáo chư công: Dân chúng thiên hạ, hướng về nơi tốt đẹp mà chảy đến. Mười vạn nhân đinh Tam Tấn là do tân pháp nước Tần thu hút mà đến, tuyệt đối không phải do cưỡng ép bắt bớ mà đến. Di dân sống ở Tần, có ruộng để cấy, có nhà để ở, áo ấm cơm no, có công được thưởng tước, ba năm không nộp thuế, năm năm không bắt đi lính, bọn họ tự nhiên liên tục đổ về. Nước Tần cứu dân khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng, nếu trả lại di dân, công lý thiên hạ ở đâu? Chính đạo ở đâu? Nếu quý quốc vì thế mà trở mặt, chỉ sợ nước Tần sẽ gia tăng thêm càng nhiều đất đai thành trì nhân đinh thôi, lại có gì phải sợ? Nếu muốn quân thần quý quốc yên tâm, e rằng tổng hòa vẫn là bản thân phải tự mình sửa sang quốc chính, mất bò mới lo làm chuồng thôi."

Thấu tình đạt lý, mềm cứng đều không thèm chấp, lại còn tặng cho đặc sứ Tam Tấn một lời cảnh cáo mạnh mẽ, quả thực xuất sắc! Thương Ưng mỉm cười gật đầu.

Đặc sứ Tam Tấn thì lúng túng giật giật khóe miệng không sao cười nổi thành tiếng. Lúc này, đặc sứ nước Sở là Giang Ất khinh bỉ cười khẩy. Ông ta thấy đặc sứ Tam Tấn ngu ngốc không ai bằng, lại đi gây áp lực với nước Tần vào chính thời điểm nhạy cảm nhất này, mưu toan giải quyết nan đề treo lơ lửng nhiều năm không xong, chẳng phải là tự tìm đinh mà đâm vào sao? Nước Ngụy lại càng không phải thứ tốt lành gì, năm đó lật lọng tráo trở từng khiến Giang Ất mất sạch mặt mũi, hôm nay nhìn thấy sứ Ngụy blè lưỡi xấu hổ, Giang Ất cảm thấy vô cùng hả hê. Ông ta trưng ra vẻ mặt cười khiêm tốn, "Nước Sở hẻo lánh vùng Nam Cương, rất ít khi nghe ngóng việc Trung Nguyên. Nhưng nghe nói Thái tử ban đầu cũng từng chống đối tân pháp, lại còn chịu xử phạt. Cho nên người ta đồn rằng sau khi Tần Công trăm tuổi, nước Tần sẽ có kết cục giống như sau khi Sở Điệu Vương qua đời, Thái tử thấy thế nào?"

"Người Sở dự đoán, chẳng khác nào lo trời sập." Doanh Tứ mỉm cười nói: "Bản Thái tử thời thiếu niên không hiểu sự đời, quả thực từng vi phạm tân pháp, nhưng lại không phải là chống đối biến pháp. Sau này, Doanh Tứ ở vùng sơn thôn nước Tần thể nghiệm rèn luyện nhiều năm, cùng thứ dân quốc nhân đồng cam cộng khổ, hiểu rất rõ tân pháp chính là gốc rễ cho sự mạnh giàu của nước Tần, sự phú túc của thứ dân. Da không còn thì lông bám vào đâu? Cho dù có kẻ nào muốn làm nghịch thần phục tịch sau lưng Sở Điệu Vương, triều dã thần dân nước Tần làm sao có thể khoanh tay đứng nhìn? Chư công nên biết, Sở Điệu Vương và Ngô Khởi biến pháp chỉ vẻn vẹn có năm năm. Còn công phụ cùng Thương Quân biến pháp lại là hơn hai mươi năm. Sự khác biệt về gốc rễ của tân pháp, các vị nên cẩn thận cân nhắc." Nói đến đoạn sau, Doanh Tứ ánh mắt đã trở nên sắc lẹm, lạnh lùng khác thường.

Bầu không khí trong đại sảnh trong phút chốc trở nên túc sát. Đặc sứ Chu Vương vốn đối với chuyện này chẳng ngứa chẳng đau, nhà Chu và nước Tần vốn từ trước tới nay có tình "đồng nguồn", ngược lại hy vọng nước Tần mạnh lên, nhưng lại sợ nước Tần mạnh lên rồi sẽ dòm ngó Lạc Dương. Nhiệm vụ duy nhất của vị đặc sứ này chính là thăm dò xem tân quân nước Tần có dã tâm mở rộng về phía đông hay không? Với tâm thái hiện tại của Trữ quân nước Tần, việc cấp bách chính là đại chính trong nước, quyết nhiên không có lực lượng để đông xuất. Trong lòng đã nắm chắc, ông liền giơ tước thong thả cười nói: "Ta nói chư công này, nước Tần có Trữ quân như thế này, lo gì không thể trường trị cửu an? Hay là để chúng ta vì Tần Công bình phục, vì nước Tần hưng thịnh, cạn tước này đi."

Các đặc sứ sực bừng tỉnh, cùng nhau giơ tước, "Vì Tần Công bình phục, vì nước Tần hưng thịnh, cạn!"

Doanh Tứ gật đầu cười nói: "Thương Quân, ta và ông cũng vì nước Tần hòa hảo với thiên hạ, cạn tước này."

Thương Ưng vui vẻ giơ tước, uống cạn sạch.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.