Ngày hai mươi tháng ba, gió êm trời đẹp, Nam Thị náo nhiệt hơn ngày thường rất nhiều.
Nam Thị là một đại chợ giao dịch hàng hóa nông mục nằm dưới chân thành tường cửa Nam Nhạc Dương. Nói cho đúng, đó chỉ là một quảng trường khá rộng rãi mà thôi. Đầu cửa chợ có một cái cổng rào gỗ, chính giữa trán cửa có hai chữ lớn màu đen: Nam Thị. Bước qua cổng, lều bạt xếp hàng, bóng người nhốn nháo, súc vật, lâm sản, nông cụ, đồ da, đồ gốm, vải thô, rau củ ngũ cốc vân vân tự phát hòa lẫn dưới các chiếc lều bạt rách rưới. Thỉnh thoảng có những chiếc lều bạt bằng da sáng bóng, mới tinh, trên biển hiệu trước cửa viết bốn chữ lớn "Chỉ bán không đổi", đó là cửa hàng lều bạt của thương nhân phương Đông. Chỉ có số ít "quốc nhân" ăn mặc tề chỉnh ra vào những chiếc lều lớn kiểu này, dùng tiền đồng tiền sắt hoặc tiền dao để mua hàng. Nông dân mục dân phần lớn bước vào những chiếc lều rách rưới của thương nhân nước Tần và quan thương của quốc phủ, lấy vật đổi vật, hoặc dùng một tấm da cừu non săn được đổi lấy vài cái vò gốm, hoặc dùng mấy quả trứng gà đổi nửa giỏ rau quỳ, hoặc dùng một tấm vải thô đổi một con cừu cái. Thế nhưng, đa số mọi người đều dùng các loại đồ vật để đổi lấy lương thực và nông cụ. Ca dao nhà nông nước Tần có câu: "Tháng ba đi chợ, ngũ cốc nông khí." Tháng năm bận rộn thu hoạch sắp đến gần, lương thực dự trữ cả năm của nhà nông cũng đã cạn đáy, nông cụ bị hỏng trong vụ cày xuân cũng đang cần gấp việc đổi mới hoặc sửa chữa. Không đổi chút lương thực, không sửa chữa đổi mới nông cụ, lúc bận rộn thu hoạch gieo trồng thì lấy đâu ra thời gian rảnh rỗi để lo chuyện thế này?
Nam Thị không phải là một khu phố thương mại ổn định. Người Tần gọi nó là "đại tập", việc lên chợ giao dịch gọi là "cản tập" (đi chợ). Cái gọi là "tập" chính là một khu chợ đơn giản hình thành theo thói quen lâu ngày, định kỳ tập trung giao dịch ở một nơi nào đó. Đầu thời Chiến Quốc, do nước Tần lạc hậu nghèo đói, toàn quốc không có nổi một đô thị thương mại ổn định nào, mà chỉ có các khu chợ giao dịch định kỳ ở mỗi thành huyện. Dù là quốc đô Nhạc Dương, thì cũng chủ yếu dựa vào chợ để tiến hành trao đổi, phố xá ngày thường ngược lại vô cùng lạnh lẽo quạnh hiu. Vì là quốc đô, đại chợ Nam Thị liền trở thành khu chợ lớn nhất nước Tần, mười ngày một lần, cứ gặp số mười là có chợ. Vào ngày có chợ, không chỉ là đại sự của quốc nhân trong thành, mà còn là ngày hội lớn của nông dân thợ săn mục dân quanh vùng mấy chục dặm thậm chí vòng ngoài cả trăm dặm. Phiên chợ ngày hai mươi tháng ba, lại đúng vào lúc trước thời điểm bận rộn tháng năm, lại càng náo nhiệt gấp bội. Bắt đầu từ buổi sáng, bách tính gần xa đã nườm nượp đổ vào cửa Nam thành Nhạc Dương, đến thời điểm chính ngọ, trong chợ đã là biển người mênh mông.
Lúc này, trước quan phường ở trung tâm chợ xuất hiện một trận náo loạn nhỏ, rất nhiều người xúm lại xem náo nhiệt.
Quan phường chính là một bức tường đá xanh quan phủ dùng để treo cáo thị, rộng hơn một trượng, cao tám chín thước, bên ngoài có một vòng rào gỗ. Những ngày bình thường, các loại mệnh lệnh văn kiện công bố về việc buôn bán của quan phủ đều được treo trên tường đá, bên cạnh có hai viên thư lại canh giữ, chuyên môn đọc và giảng giải cho mọi người nghe. Đến lúc chập tối chợ tan, thư lại liền thu văn cáo lại, đến phiên chợ hôm sau mới lại treo lên. Đối với một số thợ săn mục dân nông nghiệp đầu óc tinh khôn và những quốc nhân Nhạc Dương biết lỏm bỏm vài mặt chữ, quan phường Nam Thị là nơi họ đặc biệt chú ý, mỗi lần có chợ, đều phải đến trước quan phường lượn lờ xem xét trước, trong lòng nắm chắc rồi mới đi mua bán. Hôm nay, tường đá không treo bất kỳ văn cáo nào, tự nhiên cũng không có ai vây quanh bàn luận.
Khoảnh khắc náo nhiệt nhất vào buổi ngọ trưa, trước tường đá lại có một đội binh sĩ nhỏ đi tới. Họ khiêng một cây rường cột gỗ thô kệch tới dựa vào tường đá, rồi đứng canh gác hai bên tường đá bất động. Một số kẻ nhàn rỗi đi dạo chợ cảm thấy kỳ lạ, liền đứng ở bên ngoài chỉ trỏ. Đang lúc ấy, một viên tiểu lại áo đen bước vào hàng rào, đứng lên chiếc đôn đá bình thường vẫn dùng để đọc giảng văn cáo lớn tiếng nói: "Các người nông mục thợ săn thương nhân nghe cho kỹ: Phụng lệnh của Tả Thừa tướng Vệ Ương đại nhân, ai có thể khiêng cây rường cột gỗ này đến cửa Bắc, quốc phủ thưởng mười lạng vàng! Nhìn cho rõ đây, đây là mười lạng vàng!" Tiểu lại vừa lắc chiếc túi tiền bằng da trong tay, tiếng va chạm lanh lảnh của những nén vàng nghe thanh thúy tai.
Bên ngoài hàng rào gỗ vang lên tiếng cười "ầm" một cái, rất nhiều người mua bán xong xuôi cũng vây lại đây. Mọi người nhìn ta, ta nhìn ngươi, vậy mà cứ cười hi ha không ngừng. Một thương nhân phương Đông mặc áo xanh lớn tiếng cười hỏi, "Quan phủ cũng đến góp vui à? Muốn bán cây rường cột rách này sao?"
"Nghĩ hay lắm! Cây rường cột này nhiều lắm là mười đồng tiền vải, sao lại đáng tới mười lạng vàng?" Có người hùa theo hô lớn.
Lại áo đen lắc túi tiền, "Không phải bán rường cột! Là treo thưởng khiêng rường cột, ai khiêng đến cửa Bắc, thưởng mười lạng vàng!"
— Đám đông lại một lần nữa cười ồ lên. Một ông lão thọt chân lớn tiếng nói: "Ra trận giết giặc cụt cả chân, cũng chẳng thưởng cho một đồng tiền. Khiêng một khúc gỗ mà thưởng mười lạng vàng? Lừa người thật thà đấy phỏng?"
"Hải, vẫn chưa hiểu à? Quan phủ muốn gọi là chợ búa hưng vượng, góp vui thôi mà. Tiền thưởng dễ thấy khó nuốt."
"Đúng đúng đúng, mười lạng vàng có thể dựng được một mảnh nhà đấy, người ta làm quan làm lính sao lại không khiêng? Lừa người lừa người."
"Quan phủ lần trước nói giảm thuế ruộng, đều chẳng giảm chút nào, có cái khỉ gì mà tin tưởng?"
Người đi chợ tụ tập ngày càng đông, bàn tán xôn xao, chỉ là không có một ai tiến lên khiêng khúc rường cột kia. Đúng vào lúc này, một đội giáp sĩ hộ vệ một chiếc xe bò chạy đến ngoài hàng rào gỗ. Trên xe nhảy xuống ba người, đứng đầu chính là Tả Thừa tướng Vệ Ương, theo sát là Nhạc Dương lệnh Vương Thức, cuối cùng là một viên thư lại bưng khảm gỗ. Người đi chợ thấy trận thế này, liền biết là đại quan tới, không dám lớn tiếng cười cợt tùy tiện nữa, dần dần yên tĩnh lại. Bước vào hàng rào tường đá, viên lại áo đen ban nãy thầm thì vài câu với Vệ Ương, Vệ Ương nhìn Vương Thức, Vương Thức gật gật đầu, bước lên đôn đá lớn tiếng nói: "Các vị phụ lão huynh đệ nước Tần, các thương khách chư hầu: Ta là Nhạc Dương lệnh Vương Thức, để bày tỏ uy tín của quốc phủ, hiện tại, tiền thưởng khiêng cây rường cột gỗ này tăng lên thành ba mươi lạng vàng, bất luận ai khiêng đến cửa Bắc, lập tức lĩnh thưởng, tuyệt không nuốt lời! Xin hãy nhìn, đây chính là tiền thưởng." Quay người chỉ vào chiếc mâm gỗ thư lại đang bưng, lớp vải đỏ trên mâm gỗ được kéo ra để lộ một hàng nén vàng được xếp ngay ngắn, dưới ánh mặt trời tỏa sáng rực rỡ.
Đám đông vang lên một tiếng bàn tán trầm đục ồn ào. Có người thần bí nói với người bên cạnh: "Vị Nhạc Dương lệnh này, chính là sĩ tử phương Đông ở Chiêu Hiền quán kia. Nhậm chức chưa làm nổi một việc nào, có thể tin hắn ta không?" Có người liền nói: "Sao lại không thể tin? Người ta là đại quan cơ mà." Có người liền cười nhạt nói: "Đại quan? Quân vương còn sáng nắng chiều mưa không giữ lời, hắn nói thì tính được sao?" Liền có người phụ họa theo: "Không tin ngươi cứ thử xem, đảm bảo tốn công vô ích."
Thấy bàn tán xôn xao là thế, nhưng lại chẳng có ai tiến lên, Vệ Ương bước một chân lên đôn đá, "Hỡi nhân dân nước Tần, các thương khách chư hầu: Ta là Tả Thừa tướng Vệ Ương, tổng lãnh chính sự quốc gia. Mệnh lệnh trước đây của quốc phủ có nhiều lần lặp đi lặp lại, thứ dân quốc nhân không tin tưởng quan phủ, cho nên việc nước Tần mới không thể làm cho tốt. Từ ngày hôm nay trở đi, lời quan phủ nói nhất định tính toán, một là một, hai là hai, quyết không thay đổi! Để tỏ rõ thành ý của quan phủ, hôm nay dời gỗ lập tin, ai đem cây rường cột này chuyển đến cửa Bắc, lập tức thưởng năm mươi lạng vàng, đây là mệnh lệnh đầu tiên trong năm nay của quan phủ nước Tần."
— Tiền thưởng lại tăng lên rồi!" Đám đông bắt đầu xôn sao, cảm xúc kích động và phấn khích bắt đầu lan tỏa, nhưng vẫn còn bán tín bán nghi, túm năm tụm ba bàn luận lẫn nhau. Lúc này, trong đám đông xuất hiện bóng dáng của Hầu Doanh. Hắn là thương nhân, mỗi lần có chợ đều nhất định tới để mua sắm vật dụng sinh hoạt cho quán trọ, hơn nữa đều là lúc chợ cao trào mới tới mua, mỗi lần làm xong hàng hóa cũng nhất định sẽ tới trước quan phường xem có văn cáo mới nào không. Chợ trưa hôm nay, lại bất ngờ gặp được cảnh tượng náo nhiệt kỳ lạ này. Hầu Doanh vẫn luôn đứng trong đám đông ngoài bãi quan sát, cho đến khi Vệ Ương Vương Thức đến, hắn đã hiểu rõ ngọn ngành trong đó. Kể từ trận tuyết lớn mùa đông năm ngoái, hắn chưa từng gặp lại Vệ Ương, hôm nay nhìn thấy ông ngồi xe bò có vệ sĩ đi theo, liền biết ông nay đã khác xưa. Nhưng hắn vẫn không thể ngờ tới, Vệ Ương vậy mà lại trở thành Tả Thừa tướng tổng lãnh chính sự quốc gia. Lời Vệ Ương nói hắn nghe rất rõ, trong lòng phấn khích kích động, liền quyết định ngầm giúp ông một tay. Hầu Doanh biết, người Tần đôn hậu chất phác, cho dù có tin đi nữa, cũng rất ít người chịu ra cái oai phong này, huống chi là đối với uy tín của quan phủ vốn xưa nay nửa tin nửa ngờ. Hắn lặng lẽ luồn lách quan sát trong đám đông, một ông cháu bộ dạng như nông dân vùng núi đã thu hút sự chú ý của hắn. Ông lão là một người tóc bạc phơ, sau lưng đeo chiếc gọng tre thấp thoáng tỏa ra hơi thở của dược liệu, trong gọng có một cây cân gỗ trắng thô ráp. Thiếu niên bên cạnh lại trông lanh lợi đầu hổ, mặc áo vải đi chân trần, tay phải cầm một cái xẻng sắt. Hầu Doanh nhìn ra đây là những người hái thuốc trong núi Nam Sơn, trừ phi có dược liệu quý giá muốn bán, rất hiếm khi họ đi những phiên chợ lớn thế này. Họ chen lúc ở đây, thuần túy là xem náo nhiệt mởm tầm mắt.
Thiếu niên áo vải kéo kéo vạt áo của ông lão, "Đại phụ, con đi thử xem."
— Thằng ranh con! Biết cái gì hả, quan phủ có thể cho tiền con chắc?" Ông lão lắc đầu.
"Đại phụ, bệnh của người..."
— Ở yên đấy! Đừng có gây họa cho ta." Ông lão thấp giọng quát mắng.
Lúc này, Vệ Ương thấy không có động tĩnh gì, lại lớn tiếng nói: "Các vị cho rằng khiêng gỗ dễ dàng, không đáng năm mươi lạng vàng, không ai tin tưởng, phải không? Vệ Ương tuyên bố rõ với các vị, uy tín của quan phủ, ngàn vàng vạn vàng cũng không mua được, để lập uy tín cho quan phủ, đáng lẽ phải ban thưởng! Từ nay về sau, quan phủ nói là làm, làm là kết quả, thứ dân tin tưởng quốc gia, lệnh quốc gia ban ra tất phải thi hành, nước Tần mới có thể đổi thay. Hiện tại, ta lại tăng tiền thưởng. Bất kể ai dời gỗ đến cửa Bắc, thưởng một lạng vàng!" Vẫy tay một cái, thư lại phía sau nâng chiếc mâm đầy ắp nén vàng giơ lên một vòng.
Đám đông lại một lần nữa nổi sóng lớn, tiếng ồn ào nổi lên tứ bề, xô đẩy người bên cạnh lên thử một phen.
Hầu Doanh mỉm cười bước đến gần ông lão, "Lão nhân gia, sao không để tiểu huynh đệ thử một phen?"
Ông lão lắc đầu, "Trẻ con thì khiêng được tính là gì chứ? Quan gia lại sắp nói phải người lớn mới tính đấy."
Hầu Doanh: "Đã là lập tín, tự nhiên là không lừa gạt người già trẻ nhỏ, trẻ con lại càng tính. Chỉ là tiểu huynh đệ có khiêng nổi không?"
Ông lão cười khiêm tốn, "Thằng nhóc này, có sức lực như trâu."
Thiếu niên thấp giọng nói: "Đại phụ, vậy con đi đây. Không cho tiền, thì coi như đi chơi một chuyến." Vừa nói vừa xô đám đông ra lớn tiếng hô: "Con tới khiêng!"
Đám đông chợt im bặt, nhìn chằm chằm vào khoảng sân. Thiếu niên áo vải rách rưới, chân trần tóc xõa, cơ bắp săn chắc đen nhẻm từng khối phồng lên ngoài bộ áo rách. Cậu ta bước đến trước cây rường cột gỗ dày, quan sát suy ngẫm trái phải.
Vệ Ương: "Tiểu huynh đệ, em muốn khiêng?"
Ánh mắt thiếu niên lóe lên, "Sao? Không tính à?"
Vệ Ương lắc đầu, "Không. Ta sợ em không khiêng nổi, đến cửa Bắc phải đi hai dặm đường đấy. Đã ăn cơm chưa?"
Thiếu niên lắc đầu, "Không ăn cơm cũng khiêng được. Quan gia thực sự cho chút tiền, đại phụ của con, liền được cứu rồi." Hơi nghẹn ngào, cúi người thật sâu hành lễ với Vệ Ương.
Đáy mắt Vệ Ương hơi ươn ướt, đỡ thiếu niên dậy, hướng về phía mọi người nói: "Quốc phủ lập tín. Không lừa người già trẻ nhỏ. Các vị hãy đi theo tiểu huynh đệ này đến cửa Bắc làm chứng, xem em ấy lĩnh một trăm lạng vàng thưởng!"
Dứt lời, thiếu niên khom người một cái, cây rường cột gỗ vừa dày vừa dài đã nhẹ nhàng vác lên vai, ổn định lại tinh thần liền bước ra khỏi hàng rào gỗ. Đám đông ngoài hàng rào ào lên nhường ra một lối đi, đoàn người Vệ Ương sát theo phía sau. Hành động này làm kinh động cả Nam Thị Nhạc Dương, mọi người vứt bỏ việc buôn bán, chen chúc thành một bức tường người ven đường, bao bọc thiếu niên khiêng gỗ ùn ùn tiến vào trong thành. Người đi đường giữa phố cũng bị kinh động thu hút, cuối cùng tạo thành hai bức tường người dày đặc dọc hai bên đường, ở giữa chỉ chừa lại một lối đi nhỏ. Mọi người theo bước chân của thiếu niên tiến về phía trước, người người nhà nhà đổ ra đường, vậy mà lại nghiêm trang không tiếng động. Đi được khoảng nửa đoạn đường trong phố, một vị lão phụ nhân tóc bạc phơ bưng một bát lớn rượu gạo chặn thiếu niên lại: "Đứa nhỏ ơi, uống đi, uống rồi hãy khiêng. Thằng bé có lòng hiếu thảo cứu đại phụ, quan phủ không cho tiền thì chính là không có lương tâm rồi!" Thiếu niên lớn tiếng nói: "Đa tạ bà nội. Con không uống, cũng không nghỉ ngơi, nhỡ may quan gia cho tiền, con cũng thấy yên lòng." Trong lúc nói chuyện, hoàn toàn không có vẻ thở dốc tốn sức, rước lấy một trận trầm trồ khen ngợi của người trong chợ.
"Thằng nhóc này sinh ra đã có sức trâu, đi tòng quân chắc chắn là một vị hổ tướng!"
"Có lòng hiếu thảo, có chí khí, hậu sinh ít thấy!"
— Đi cho vững, nhìn kìa —— sắp đến cửa Bắc rồi!" Có người lớn tiếng gọi thiếu niên, nhắc nhở cậu ta đừng để công cốc.
Lầu thuế cửa Bắc đã ở phía xa xa, có người hô lớn: "Sắp đến cửa thành rồi, được rồi ——!"
Thiếu niên khiêng gỗ lớn tiếng: "Không, quan gia không nói trong cửa hay ngoài cửa, khiêng đến ngoài cửa Bắc, để quan gia không nói được gì nữa!"
— Có chí khí! Cứ đợi xem quan phủ kìa!" Cả con đường vang lên tiếng tán thưởng hô hò.
Thiếu niên bước đi như bay, cho đến bãi đất phẳng ngoài cầu treo mới dừng lại, đem cây rường cột "ịch" một tiếng cắm xuống đất, ôm rường cột đứng đó, căng thẳng nhìn đoàn người Vệ Ương. Mọi người đều đuổi tới ngoài cửa Bắc, đen nghịt nhìn không thấy bờ, thế nhưng lại không có một ai lên tiếng nói chuyện, đều dán chặt mắt vào Vệ Ương người đi bộ theo suốt dọc đường. Lúc này, bộ y phục trắng của Vệ Ương giữa biển người nước Tần một màu đen vô cùng nổi bật. Vệ Ương cũng không nói gì, nhìn thiếu niên một cái, đi đến trước mặt thư lại vén tấm vải đỏ trên chiếc mâm lớn lên, tự tay bưng lấy, vô cùng trang trọng nâng hai tay đặt trước mặt thiếu niên. Thiếu niên căng thẳng chớp chớp mắt, nhẹ nhàng lắc đầu. Vệ Ương thẳng thắn nhìn thiếu niên, chân thành gật đầu. Thiếu niên giao cây rường cột vào tay quân sĩ, chần chừ tiến lên mấy bước, lau tay lên vạt áo rách rưới nhưng lại không dám vươn ra. Bỗng nhiên, thiếu niên sụp xuống lạy rạp, mãi không đứng dậy nổi. Vương Thức tiến lên đỡ thiếu niên dậy. Thiếu niên nước mắt đầm đìa nghẹn ngào nói: "Đại nhân, con, chỉ cần mười lạng vàng, đại phụ là có cứu rồi..."
Đôi mắt Vệ Ương ươn ướt, nghiêm túc nói: "Tiểu huynh đệ, không được. Quan phủ lập tín, nói một trăm lạng vàng thì là một trăm lạng vàng, sao có thể nuốt lời tự nuốt lấy? Ngày khác nước mạnh dân giàu, số tiền một trăm lạng thì có đáng là gì! Cầm lấy đi, tiểu huynh đệ có công, cứu gia gia, dựng nhà, mua ruộng."
Thiếu niên cung kính khấu đầu ba cái với Vệ Ương, đứng dậy hai tay tiếp lấy chiếc mâm lớn, dâng lên trước mặt ông lão tóc bạc. Ông lão khóc không thành tiếng, sụp xuống lạy rạp trước Vệ Ương: "Tả Thừa tướng đại nhân, xin hãy để đứa cháu của tiểu dân đi tòng quân theo ngài đi. Tiểu dân tin ngài rồi, để nó đi báo quốc đi. Phụ thân nó, nhi tử của tôi, đã chết trong trận chiến Thiếu Lương rồi..."
Vệ Ương đỡ ông lão dậy: "Lão nhân gia, hãy để tiểu huynh đệ đến huyện phủ tòng quân đi, lập chiến công thì có tước vị đấy."
— Lập công có tước vị?" Ông lão kinh ngạc mở lớn đôi mắt: "Thứ dân mà cũng có tước vị sao? Nhi tử của tôi giết chết mười tên chó Ngụy mới chết, sao lại chẳng có gì hết?"
Vệ Ương: "Lão nhân gia, đó là pháp luật cũ, nước Tần sắp sửa biến pháp rồi."
Ông lão khàn giọng cười nói: "Nói như vậy, pháp luật này quả thực phải đổi rồi. Đổi pháp rồi, những kẻ tiện dân như chúng ta cũng có thể rạng rỡ tổ tông rồi phải không?"
— Đúng vậy, lão nhân gia, chính là như thế." Vệ Ương lớn tiếng trả lời.
Đoạn đối thoại này, người trong sân nghe vô cùng rõ ràng. Mọi người tận mắt nhìn thấy thiếu niên nhận được một trăm lạng tiền thưởng, đối với lời nói của vị Tả Thừa tướng áo trắng này tự nhiên là vô cùng tin tưởng, ông nói muốn biến pháp, có thể là giả được sao? Đám đông vui mừng reo hò ầm ĩ: "Nói lời giữ lời, quan phủ vạn tuế!" Vệ Ương xua xua tay, mọi người bình tĩnh lại, ông bước lên một phiến đá lớn lớn tiếng nói: "Các vị phụ lão huynh đệ, nước Tần bắt đầu từ ngày mai, sẽ tiến hành biến pháp. Các ngươi sẽ lần lượt nhìn thấy những điều luật mới do quan phủ ban hành. Những pháp lệnh mới này, là muốn mọi người siêng năng cày cấy, dũng cảm chiến trận, có công thì thưởng, có tội thì phạt; quan lại thế tộc phạm tội, cùng tội với thứ dân. Hôm nay dời gỗ lập tín, chính là muốn mọi người hiểu rõ, lời quan phủ nói là tính toán, pháp lệnh mới ban hành nhất định phải chấp hành trung thành. Người tuân thủ pháp luật có công thì thưởng, người vi phạm pháp luật có tội thì phạt. Đây chính là biến pháp cường Tần. Chỉ cần trên dưới nước Tần đồng lòng, quan dân đồng lòng, trong vòng mười năm, nước Tần sẽ trở nên giàu có, trở nên hùng mạnh!"
Toàn trường reo hò vang dội: "Quan phủ vạn tuế! Biến pháp cường Tần!" Còn có người hô lớn một câu: "Tả Thừa tướng vạn tuế!" Mọi người như tỉnh mộng, lập tức hăng hái hô lớn: "Tả Thừa tướng vạn tuế!" Tiếng hô vang vọng liên miên không dứt như sóng biển cuồn cuộn. Giữa tiếng reo hò phấn khích của mọi người, đoàn người Vệ Ương đã lặng lẽ rời đi.
Cùng với sự kết thúc của đại chợ Nhạc Dương ngày hai mươi tháng ba, câu chuyện Tả Thừa tướng dời gỗ lập tín đã nhanh chóng truyền khắp các vùng núi non thôn xóm nước Tần.
"Một đứa cháu nhỏ của lão nhân hái thuốc, khiêng một cây rường cột, thế mà từ trong tay Tả Thừa tướng nhận được một trăm lạng vàng!" Còn có câu chuyện nào có thể kích thích trí tò mò của thứ dân nghèo khổ hơn câu chuyện này nữa không? Mọi người nườm nượp kéo đến vùng núi Thương Vu trong Nam Sơn, xem ông cháu lão nhân hái thuốc, nghe thiếu niên và ông lão kể lại câu chuyện ảo diệu tựa mộng huyễn ấy. Về sau, có người còn nhìn thấy ngôi nhà mà ông lão cất, nhìn thấy tấm bia công đức mà huyện lệnh lập cho người con trai đã tử trận của ông lão. Người mười đồn trăm, trăm đồn nghìn, uy tín của quan phủ liền sừng sững dựng lên trong miệng tiếng dân gian thần kỳ ấy. Mãi về sau này, người ta chỉ còn được nghe một mình ông lão kể chuyện. Nghe nói thiếu niên kia đã đi tòng quân rồi.