Đại Tần Đế Quốc 1: Hắc Sắc Liệt Biến

Lượt đọc: 334 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết 3
Khách Che Mặt Và Lời Tiên Tri Bí Ẩn

❊ ❊ ❊

Thái tử Doanh Tứ hiện giờ chỉ có một việc: vùi đầu đọc các điển chương luật lệ của nước Tần.

Dù phụ công hạ lệnh cho chàng cùng Thương Quân đồng nhiếp chính sự, nhưng Doanh Tứ hiểu rất rõ rằng, đây là phụ công muốn mình đi theo Thương Quân để làm quen và học tập việc nước. Chàng đã rời xa trung tâm quyền lực quá lâu, vô cùng xa lạ với các công việc cơ bản như luật lệnh, nhân sự, phương thức ban hành chính lệnh, trên thực tế cũng không thể nào cùng nhiếp chính, chỉ có thể làm học trò của Thương Ưng. Để nhanh chóng nắm bắt, Doanh Tứ chủ động xin dùng thời gian một tháng để đọc hết toàn bộ điển chương luật lệ trong kho tàng quốc gia cùng các ghi chép quốc sử từ ngày biến pháp đến nay. Thương Ưng hoàn toàn tán đồng suy nghĩ của Doanh Tứ, cho rằng đây là mắt xích không thể thiếu để nắm vững quốc vụ, làm quen càng sớm càng tốt, càng thấu đáo càng tốt. Thương Ưng đặt ra một tiến độ: cứ ba ngày từ kho điển tịch chở một xe thẻ tre đến phủ Thái tử, một tháng mười xe, đại thể có thể đọc xong toàn bộ luật lệ, điển chương và quốc sử. Nước Tần vốn thiếu truyền thống văn trị, trước kia xưa nay không chú trọng tích lũy tư liệu quốc gia, ghi chép quốc sử cũng hết sức vắn tắt. Sau khi Thương Ưng chấp chính đã thay đổi triệt để tình trạng này, chẳng những tiến hành chỉnh lý biên tập lại toàn diện quốc sử, mà còn chia toàn bộ văn bản chính vụ như luật lệnh, điển chương, hộ khẩu, thuế khóa thành hai bộ bản chính và bản phụ, lập quán cất giữ. Bản chính nếu không phải Tần Hiếu Công hoặc Thương Quân đích thân điều duyệt thì không được đưa ra khỏi quán, bản phụ thì để các công thự và học sĩ tùy nghi tra cứu. Đưa cho Thái tử Doanh Tứ xem dĩ nhiên là bản chính, thế nên thuộc lại phủ Thái sử lệnh vô cùng căng thẳng bận rộn. Đưa ra khỏi quán phải kiểm điểm, phái binh áp tải, thu hồi kiểm điểm, từng cuộn đưa về đúng vị trí, chỉ sợ xảy ra sai sót. Thái tử Doanh Tứ cũng chăm chỉ khác thường, ngoài mỗi ngày nghỉ ngơi hai canh giờ, thời gian còn lại đều chìm đắm trong thư phòng.

Trời lạnh đêm dài, lò sưởi lớn trong thư phòng Doanh Tứ hầu như chưa từng tắt. Than củi dù đốt sạch đến đâu thì cũng luôn có những sợi khói trắng và hơi than lượn lờ, ngày ngày hun sưởi, gương mặt Doanh Tứ lại hơi ngả vàng, còn khẽ ho hèm. Dù vậy, Doanh Tứ vẫn ngày ngày túc trực bên bàn, thực sự có đôi phần phong thái cần mẫn thuở trẻ mới lên ngôi của Tần Hiếu Công.

Hôm ấy đã là canh hai, Doanh Tứ đang chăm chú lật giở đọc sách thì nội thị trẻ tuổi bước vào bẩm báo rằng, có một thương nhân nước Sở cầu kiến. Doanh Tứ kinh ngạc ngẩng đầu lên: "Thương nhân nước Sở thì liên quan gì tới ta? Không gặp."

Nội thị hạ thấp giọng: "Hắn nói nhận lời ủy thác từ bạn cũ của Thái tử, tới đưa một món đồ."

Doanh Tứ vô cùng nghi hoặc, nếu nói chàng có bạn cũ thì chỉ có những mối giao tình chốn thôn dã kết giao trong chuỗi ngày "lưu đày", nhưng những người đó làm sao biết chàng là Thái tử? Lại làm sao có thể nhờ người tìm tới tận đây? Suy tính một lát, chàng điềm nhiên nói: "Đã là bạn cũ nhờ vả, hãy mời đợi ở ngoại thư phòng, ta sẽ ra ngay." Sau khi nội thị lui ra, Doanh Tứ lại trầm ngâm một hồi, thu dọn bàn đọc sách, nhẹ bước tới trước cửa ngăn mở một lỗ nhỏ nhìn ra ngoài dò xét.

Ở ngoại thư phòng đang đứng một người khoác áo cừu đắt tiền, nhìn bộ y phục màu vàng lộng lẫy kia, đúng là trang phục quen thuộc của thương nhân nước Sở. Nhưng trong tay người này trống trơn, trên mặt lại che một tấm mạng đen kịt, toát lên vài phần hơi thở huyền bí bất thường.

Doanh Tứ kéo cửa ra, lạnh lùng nhìn chằm chằm người che mặt, nhưng không nói một lời.

Người che mặt khom mình thật sâu: "Thương nhân nước Sở Tân Tất Công, bái kiến Thái tử."

Doanh Tứ trầm mặc đứng đó, vẫn không thốt ra nửa lời. Người che mặt chắp tay nói: "Dám hỏi Thái tử, có từng quen biết một người dân miền núi tên là Hắc Mâu chăng?" Doanh Tứ không chút biểu cảm, chẳng lắc đầu cũng chẳng gật đầu. Người che mặt lại nói: "Hắc Mâu ủy thác tại hạ mang đến cho Thái tử một món lễ mọn." Doanh Tứ lạnh lùng đáp: "Mời tiên sinh tháo mạng che mặt xuống rồi hẵng nói chuyện." Người che mặt nói: "Không phải tại hạ không chịu dùng bộ mặt thật gặp người, thực sự là do tại hạ sinh ra xấu xí, sợ làm Thái tử kinh hãi." Doanh Tứ cười khẩy im lặng. Người che mặt nhấc tay phải lên, tấm mạng rơi xuống đất — một khuôn mặt tóc đỏ mắt biếc, miệng rộng răng to, râu quai nón rậm rạp đập ngay vào mắt! Dưới ánh đèn trông vô cùng đáng sợ.

Doanh Tứ thản nhiên nói: "Tiên sinh có dị tướng như thế này, sao phải tự cảm thấy khó xử?"

Thương nhân chắp tay hành lễ: "Thái tử đảm thức hơn người, tại hạ vô cùng khâm phục."

Doanh Tứ dường như không nghe thấy, nhạt giọng hỏi: "Hắc Mâu là kẻ nào? Bổn thái tử xưa nay chưa từng quen biết."

"Hắc Mâu nói, huynh ấy giao hảo với một kẻ sĩ tên là Tần Thứ, tìm đến phủ Thái tử là có thể tìm thấy tiên sinh Tần Thứ."

"Tần Thứ là thư lại của ta, đang đi công cán bên ngoài." Doanh Tứ trả lời không chút biểu cảm.

"Đã vậy xin thứ cho tại hạ lỗ mãng. Cáo từ."

"Khoan đã. Hắc Mâu tìm Tần Thứ có việc gì? Ta có thể chuyển lời giúp."

Thương nhân áo vàng: "Liệu có thể cho phép tại hạ che mặt lại chăng? Tướng mạo thô bỉ thực sự làm mất nhã nhặn."

Doanh Tứ gật đầu. Thương nhân nhặt khăn voan đen đeo lại cẩn thận, cung kính nói: "Bẩm Thái tử, ba năm trước tại hạ đi buôn, đi qua núi Thương Sơn thì gặp mưa lớn cản đường, may nhờ có huynh Hắc Mâu cho tá túc mười ngày, vì thế kết làm bạn tốt. Từ đó về sau, hễ đi lại qua đó là ắt dừng chân. Huynh Hắc Mâu đi lại bất tiện, bởi vậy mới ủy thác tại hạ tìm kiếm bạn cũ, vốn không có lý do nào khác."

Doanh Tứ lơ đãng hỏi: "Hắc Mâu này cớ sao lại đi lại bất tiện?"

"Bẩm Thái tử, huynh Hắc Mâu sau khi tòng quân được một năm thì ngã ngựa, tàn phế một chân, nhưng vì nôn nóng lập công nên khăng khăng ở lại doanh trại nấu nướng. Mười năm trôi qua, không chém được đầu giặc, không được phong tước vị. Lính già giải ngũ về làng, thê thảm khôn xiết." Giọng gã thương nhân che mặt khàn đặc, hơi nghẹn ngào.

"Dưới tân pháp, sao lại thê thảm đến thế?" Doanh Tứ rõ ràng lắng nghe rất chăm chú.

"Cha của huynh Hắc Mâu bị xử chém, mẹ tự sát, cả làng dắt díu nhau vào núi tự cứu lấy mình, chỉ còn trơ trọi một mình huynh Hắc Mâu phiêu bạt ăn mày."

"Sao lại... xử chém? Tự sát? Tự cứu? Ngươi kể tỉ mỉ xem." Doanh Tứ không khỏi vô cùng kinh ngạc.

Thương nhân che mặt từ tốn nói: "Tại hạ nghe huynh Hắc Mâu kể, rãnh Hắc Lâm hạn hán ba năm liền, gặp nạn đói kém. Huyện lệnh Thương Ư dùng lương thực của kho quan để chẩn tai, bị Thương Quân ngăn cản, chém đầu ngay tại chỗ vị Huyện lệnh Thương Ư và cha của huynh Hắc Mâu — là thôn chính Hắc Cửu; lại phái binh lính đến, bức bách già trẻ cả làng vào núi, mặc cho tự sinh tự diệt. Mẹ già của huynh Hắc Mâu quá đỗi đau thương, đã nhảy xuống vách đá quyên sinh. Huynh Hắc Mâu tàn tật không nơi nương tựa, không có sức kiếm sống, lại sợ bị quan phủ định tội là dân lười biếng, nên ban ngày sang các thôn làng vùng biên giới nước Sở xin ăn, tối đến lại lần mò về căn nhà cũ ngủ nhờ..."

Sắc mặt Doanh Tứ âm u đến đáng sợ, chàng quay người đi im lặng hồi lâu.

"Bẩm Thái tử, đây là món quà huynh Hắc Mâu nhờ tôi chuyển cho Tần Thứ."

Doanh Tứ quay người lại, thình lình một bọc vải đen đang đặt ngay trước mặt! Thương nhân che mặt nói: "Huynh Hắc Mâu nói, đây là tấm lòng của Tần Thứ. Huynh ấy chỉ nhờ tôi nhắn lại cho Tần Thứ một câu: Ngôi mộ đó không còn nữa rồi, là do Thương Quân hạ lệnh đào đi."

Doanh Tứ cố gắng kìm nén, hờ hững nhận lấy bọc vải đen: "Ngươi có thể đi rồi."

"Nếu tiên sinh Tần Thứ có lời nhắn gửi cho huynh Hắc Mâu, xin mời đến khách điếm Sở Thiên tìm tôi."

Doanh Tứ lẳng lặng gật đầu. Thương nhân che mặt khom lưng thật sâu, rảo bước rời đi.

Trở về thư phòng, lòng Doanh Tứ rối như tơ vò. Nhìn tấm bia mộ bằng thân cây khô màu tím đen kia, chàng không kìm được nước mắt trào mi. Bóng hình đỏ thắm xinh đẹp kia như lướt qua trước mắt, tiếng hát bi tráng rộn ràng như còn văng vẳng bên tai, cô gái ấy yêu chàng tha thiết, vì chàng mà không chút do dự tuẫn tình quyên sinh. Đó là mối tình nồng cháy đầu tiên đập mạnh vào cánh cửa lòng Doanh Tứ. Trong hẻm núi khi Doanh Tứ đau đớn đến chết đi sống lại, chàng đã hiểu ra rằng, hóa ra mình cũng yêu tha thiết cô thôn nữ xinh đẹp này! Giả như chàng không bị "lưu đày", giả như chàng không phải Thái tử nước Tần, chàng nhất định sẽ mang nàng trở về, nhất định sẽ cưới nàng! Lúc rời khỏi rãnh Hắc Lâm, trong lòng chàng đã lập lời thề, có một ngày nhất định sẽ đón nàng, cưới nàng. Thế nhưng lúc đó chàng không thể nói ra. Không ngờ rằng, sự cự tuyệt lạnh lùng của chàng chẳng những không khiến nàng nản lòng thoái lui, ngược lại còn khiến nàng vì chàng mà hiến dâng cả tính mạng. Đã bao nhiêu năm qua, mỗi khi Doanh Tứ nhớ đến bóng hình xinh đẹp ấy, trái tim lại đau thắt như ứa máu, một nỗi nhục nhã sâu sắc giày vò khiến chàng ăn ngủ không yên. Thứ cô gái để lại cho chàng chỉ có một nấm mồ đất vàng, đó là nấm mồ đất vàng khiến chàng ngày đêm thương nhớ. Giờ đây, ngay cả nấm mồ đất vàng do chính tay chàng đắp cho nàng cũng bị san bằng, vợ chồng Hắc Cửu cũng đều đã chết, huynh đệ Hắc Mâu cũng lưu lạc làm kẻ ăn mày, chút tình bạn mộc mạc duy nhất sót lại trong thời niên thiếu lạnh lẽo của Doanh Tứ, cứ thế bị xóa sạch không chút nể nang... Trời cao ơi là trời cao, sao người bất công đến thế!

Doanh Tứ trằn trọc thâu đêm, ngồi chết lặng cho đến khi trời sáng. Lúc nội thị trong cung tới truyền triệu chàng, chàng mới vừa chợp mắt trên giường chưa đầy một canh giờ. Doanh Tứ vốn định ngủ một giấc thật đẫy để tỉnh táo lại, tránh cho bản thân cứ trượt dài theo dòng suy nghĩ miên man. Thế nhưng sau khi lên giường thì trằn trọc mãi không sao ngủ được, trái lại càng thêm tỉnh táo. Bất chợt, trong tâm trí chàng lóe lên một tia sáng, chàng nghĩ tới tên thương nhân che mặt dữ tợn gớm ghiếc kia, cảm thấy người này và việc này hết sức kỳ lạ. Tên thương nhân ấy thoạt tiên hỏi chàng có quen biết Hắc Mâu hay không, câu hỏi này chứng tỏ hắn biết rõ "Tần Thứ" chính là vị Thái tử trước mặt! Thấy chàng im lặng không đáp, hắn mới bảo Hắc Mâu ủy thác cho hắn đến phủ Thái tử tìm "Tần Thứ". Nếu Hắc Mâu quả thực lưu lạc đến mức khó lòng mưu sinh, phải đi ăn xin, thì làm sao biết được "Tần Thứ" đang ở phủ Thái tử? Sơn muội xinh đẹp tuẫn tình nơi núi hoang lũng thẳm, làm sao Hắc Mâu có thể hay biết? Thương Quân dù thường xuyên đi tuần tra, nhưng làm sao lại đến cái nơi hẻo lánh không một bóng người ấy để phá hủy mộ phần? Nếu quả thật Thương Quân cho rằng có kẻ mạo danh Doanh Tứ làm tổn hại thanh danh công thất mà phá mộ, há lại không bẩm báo với phụ công? Phụ công há lại không gặng hỏi chàng sao? Thương Quân chấp pháp tuy vô tình, nhưng chưa từng vượt quá khuôn phép một tấc, ngài ấy có thể lạm sát vị thôn chính tạo sĩ Hắc Cửu lừng lẫy tiếng tăm như thế sao? Quân pháp của tân quân nước Tần rõ ràng minh bạch, thương tật trong quân ngũ, dẫu không chém được đầu giặc thì lúc giải ngũ cũng được ban thưởng tiền vàng để an cư lập nghiệp, cớ sao lại lưu lạc thành kẻ ăn mày?

Đầu óc bỗng sáng tỏ, Doanh Tứ nhớ tới kỳ tích lúc mình tỉnh lại nơi núi hoang lũng thẳm năm xưa — ngón tay đứt được nối lại, vết thương được băng bó, trên người đắp một chiếc áo vải trắng, bên tay còn đặt một miếng thịt chín! Nghĩ kỹ lại, lúc đó rõ ràng có người đã phát hiện ra chàng, từ tấm bia mộ mà biết được thân phận của chàng nên mới cứu chàng, nhưng người đó lại không lộ mặt. Suy đi tính lại, khả năng bại lộ thân phận duy nhất chỉ có lần đó. Người biết "Tần Thứ" chính là Doanh Tứ, cũng chỉ có nhân vật bí ẩn từng cứu chàng ở nơi lũng thẳm hoang vu năm ấy. Kẻ này là ai? Chẳng lẽ... Đột nhiên, Doanh Tứ giật bắn mình — người đó chắc chắn chính là gã thương nhân nước Sở đêm qua!

Doanh Tứ bật dậy, nhìn ráng mai chiếu rọi lên khung cửa sổ một màu đỏ nhạt, khóe miệng hé lộ một nụ cười lạnh: "Người đâu. Mời gia lão tới đây."

Chẳng bao lâu sau, một lão nội thị vội vã bước vào tẩm thất, Doanh Tứ trầm giọng dặn dò mấy câu, rồi ngả đầu ngủ thiếp đi, tiếng ngáy vang lên giòn giã.

Mặt trời đỏ đã lên nửa sườn núi, nội thị trong cung tới triệu kiến. Doanh Tứ tuy chỉ mới chợp mắt nửa canh giờ, nhưng trên mặt không hề lộ vẻ mệt mỏi. Tới trong cung, phụ công cũng vừa chải chuốt xong xuôi, đang chậm rãi múa kiếm ở tiền đình. Doanh Tứ bước tới cung kính hành lễ: "Phụ công bình phục, nhi thần mừng rỡ khôn xiết." Hiếu Công thu kiếm cười nói: "Tứ nhi, hôm nay đi cùng ta đến Chung Nam Sơn một chuyến thế nào?"

"Nhi thần tuân mệnh." Doanh Tứ vui vẻ nhận lệnh.

Ra khỏi cổng cung, Doanh Tứ thấy chỉ có hơn mười giáp sĩ và một cỗ xe diêu của phụ công, liền biết mẫu hậu mới không đi cùng, chàng cũng không hỏi nhiều, tung người lên ngựa đi bên cạnh cỗ xe diêu, ra khỏi Hàm Dương liền thẳng tiến tới chân núi Chung Nam Sơn.

Đây là ngày đông hiếm hoi không có gió, ánh nắng ấm áp, thông xanh ngắt một màu, lại có đôi phần phong cảnh như tiết tiểu dương xuân. Tới chân núi, men theo một con sông nhỏ tiến vào trong núi, liền thấy trong vùng thung lũng thông xanh tùng biếc lộ ra một quần thể viện lạc gạch xanh ngói biếc, giữa đồng nội mùa đông xơ xác càng thêm vẻ tĩnh mịch khoáng đạt. Hiếu Công từ xa chỉ vào viện lạc nơi sơn cốc: "Tứ nhi, đã từng tới nơi này chưa?" Doanh Tứ biết phụ công hỏi xem trong thời gian "lưu đày" có từng tới đây chăng, liền lắc đầu: "Nơi này không có thôn xóm, nhi thần chưa từng tới." Hiếu Công chỉ tay giảng giải: "Con xem, dòng nước trên núi này gọi là Điền Dục Xuyên. Ngọn núi phía đông nam kia chính là núi Thủ Dương nơi Bá Di, Thúc Tề chịu chết đói. Quần thể viện lạc kia là do một nhân vật lẫy lừng tiếng tăm để lại đấy." Doanh Tứ bừng tỉnh đại ngộ: "Nhi thần nhớ ra rồi, chẳng lẽ là thư viện của Lão Tử?"

Hiếu Công mỉm cười gật đầu, căn dặn xe ngựa đi chậm lại, men theo đường núi tiến về phía viện lạc trong sơn cốc.

Đến sơn cốc, viện lạc lại ẩn khuất trong rừng tùng bách không nhìn thấy được nữa. Băng qua một cánh rừng thông bên bờ sông nhỏ, trước mắt bỗng mở ra thênh thang, một tòa cổng đá cao lớn dựng bằng bạch ngọc Lam Điền sừng sững đứng giữa bãi cỏ rừng thông, chính giữa cổng đá có bốn chữ đen to như chiếc đấu — Đạo Pháp Thiên Địa. Đi qua cổng đá chừng một tầm tên bắn, liền nhìn thấy cổng lớn của viện lạc mộc mạc không chút cầu kỳ. Hiếu Công ra lệnh dừng xe xuống ngựa.

Xe ngựa vừa dừng, Doanh Tứ liền nhìn thấy người đầy tớ già kiêm tổng quản nội thị thân cận của phụ công là Hắc Bá đang vội vã từ cửa lớn bước ra. Hắc Bá tới trước xe Hiếu Công, đỡ ngài xuống xe, chắp tay bẩm báo: "Theo lời quân thượng căn dặn, mọi việc đều đã thỏa đáng."

Hiếu Công căn dặn: "Hắc Bá, hai canh giờ nữa ta sẽ tới Thượng Thiện Trì. Một lát nữa ngươi tới đình Hệ Ngưu tìm ta." Hắc Bá đáp một tiếng, rồi sai bảo thị tòng xe ngựa theo ông ta đi vào viện từ cửa nách.

Hiếu Công vẫy tay gọi Doanh Tứ, rồi từ cửa chính bước vào, đi thẳng vào sâu trong viện. Doanh Tứ dọc đường chú ý quan sát, phát hiện viện lạc nhìn bề ngoài rất bình thường này, bên trong lại vô cùng quy mô khí phái. Dòng nước đình đài bài trí so le hữu tình, đường mòn trong rừng thông quanh co uốn khúc, địa thế thoai thoải dốc lên thành gò, tựa như sườn dốc phía bắc Hàm Dương. Địa hình dốc thoai thoải này thì bất kỳ cơn mưa lớn hay lũ quét nào từ trên núi tràn xuống cũng không thể đọng lại, đều đổ thẳng ra dòng Điền Dục Xuyên ngoài cổng. Nhà cửa đình đài đều được xây dựng thô ráp bằng đá núi gạch ngói, nhưng lại toát lên một vẻ chất phác nguyên bản cùng phong vị đồng nội tự nhiên, khiến người ta không khỏi thán phục. Đi tới một đình đá ở lưng chừng dốc, Hiếu Công nghiêm trang hướng về một cây bách già ngoài đình khom mình vái lạy. Doanh Tứ cũng vội vàng vái lạy theo.

Bước vào đình đá, Doanh Tứ thấy trên bàn đá đã bày sẵn ấm trà và hoa quả rừng, liền biết đây là sự sắp xếp từ trước, phụ công hôm nay ắt có đại sự muốn nói với mình, không khỏi nghiêm nét mặt rót một bát trà nóng dâng phụ công, rồi nghiêm cẩn đứng hầu một bên. Hiếu Công nhấp một ngụm trà nóng, vẫy tay bảo con trai ngồi xuống đôn đá đối diện.

Dưới ánh mặt trời, sắc mặt Tần Hiếu Công vàng vọt tiều tụy. Trong lòng Doanh Tứ dâng lên một nỗi xót xa: "Nhi thần không thể san sẻ nỗi âu lo cùng phụ công, thật vô cùng hổ thẹn." Tần Hiếu Công cười xua tay: "Đừng nói những lời đó nữa. Con có biết cớ sự hôm nay hai cha con ta tới đây chăng?"

Doanh Tứ lắc đầu: "Nhi thần không rõ."

Tần Hiếu Công thở dài một tiếng: "Doanh Tứ à, con cũng coi như đã trải qua nhiều sương gió, đối với nhân tình thế thái đã có nhận thức của riêng mình. Không cần giấu con, ngày tháng của phụ công chẳng còn lại bao nhiêu nữa, con chắc chắn cũng có thể nhận ra."

"Phụ công..." Doanh Tứ nghẹn ngào, sụp lạy xuống đất.

Hiếu Công cười khoáng đạt: "Đứng lên đi. Đời người sống thọ hay chết yểu vốn do mệnh trời, việc gì phải đau lòng? Cha con ta đã sinh ra nơi nhà công thất, quốc sự là điều trọng đại nhất. Điều phụ công muốn nói với con hôm nay là một cơ mật quốc sự. Quy củ do đại phụ con định ra, quốc quân lâm chung mới được truyền bí mật này cho người kế vị. Ta cũng chỉ biết được lúc đại phụ lâm chung mà thôi. Thế nhưng, phụ công không còn nhiều thời gian nữa, nói lúc tỉnh táo vẫn tốt hơn là nói lúc mê muội."

Doanh Tứ đứng dậy ngồi vào đôn đá đối diện, thấy Hắc Bá đứng canh ở đằng xa nơi đầu đường, lúc này mới hiểu được sự trù tính chu toàn của phụ công hôm nay.

Tần Hiếu Công chậm rãi cất lời, Thái tử Doanh Tứ chăm chú lắng nghe.

Mấy ngàn năm nay, bộ tộc Doanh Tần vẫn luôn lưu truyền hai lời tiên tri bí ẩn. Một lời tiên tri được công khai lưu truyền trong bộ tộc, một lời tiên tri được bí mật truyền riêng giữa các vị quân chủ dòng đích. Lời tiên tri lưu truyền công khai chính là lời tiên tri thuở ban đầu vua Thuấn ban phong hiệu và đất phong "Tần" cho họ Doanh — "Tư nhĩ Tần tộc, hậu tất đại xuất thiên hạ!" Trong những thăng trầm giằng co trước khi lập quốc, lời tiên tri này là ngọn đuốc tinh thần của bộ tộc Doanh Tần, là sợi dây gắn kết lòng thành của bộ tộc Doanh Tần! Hơn ba trăm năm trước, sau khi bộ tộc Doanh Tần trở thành một nước chư hầu, lời tiên tri này dần dà trở thành câu chuyện cổ lưu truyền trong dân tộc Lão Tần, vầng hào quang khích lệ lòng người như sao chổi ấy cũng dần dần biến mất. Trong tâm trí thứ dân bình thường, một bộ tộc hẻo lánh nửa nông nửa mục trở thành một nước chư hầu lớn ở Trung Nguyên, thế cũng coi như là "đại xuất" lắm rồi, còn muốn thế nào nữa? Lời tiên tri xa xôi ấy, cứ thế cạn kiệt trong trí tưởng tượng nghèo nàn của bộ tộc Doanh Tần.

Lời tiên tri này được quốc sử chép rõ, Doanh Tứ đương nhiên rất quen thuộc, vốn không phải bí mật gì.

Còn lời tiên tri bí mật kia thì xảy ra sau khi bộ tộc Doanh Tần lập quốc hơn ba trăm năm, thời gian rất gần đây, hơn nữa cụ thể hơn nhiều. Nhưng lời tiên tri này lại chỉ được truyền riêng giữa quốc quân và trừ quân thuộc dòng đích một mạch, nghiêm cấm lưu truyền ra ngoài dân gian.

Điều Tần Hiếu Công muốn nói với Doanh Tứ chính là lời tiên tri này.

Lời tiên tri này là dự toán về vận nước của Tần do Lão Tử suy đoán vào năm xưa khi đi về hướng tây vào miền sa mạc.

Hơn sáu mươi năm trước, vào mùa xuân năm thứ mười một sau khi Tần Hiến Công lên ngôi, ngài nhận được một tin tức: Lão Đam, người từng làm Thái sử lệnh cho vương thất nhà Chu ở Lạc Dương, sắp tới nước Tần! Tần Hiến Công mừng rỡ khôn xiết. Trong thời đại chư hầu phương đông coi rẻ nước Tần, sĩ tử trong thiên hạ xem nước Tần là mảnh đất man di mà cự tuyệt đến Tần, một nhân vật thái sơn bắc đẩu danh tiếng vang dội ngay cả Khổng Tử cũng từng tới thỉnh giáo sắp sửa đến nước Tần, há lại là chuyện tầm thường? Tần Hiến Công đã mời một nhân vật cực kỳ thích giao du với các bậc học giả ra để tiếp đón Lão Tử. Người này chính là Doãn Hỷ, người từng làm quan giữ cửa ải Hàm Cốc Quan. Doãn Hỷ chuẩn bị chu đáo, trù tính kín kẽ, sắp xếp mọi việc vô cùng thỏa đáng.

Tháng tư năm đó, Lão Đam không biết đã bao nhiêu tuổi cưỡi một con trâu xanh, thong dong ung dung tiến vào ải Hàm Cốc. Tuy rằng lúc bấy giờ Hàm Cốc Quan vẫn còn bị nước Ngụy chiếm đóng, nhưng thám tử do Doãn Hỷ phái đi đã sớm phát hiện ra ông lão có đi khắp thiên hạ cũng không thể nhận nhầm này, liền phi ngựa báo về Lịch Dương. Doãn Hỷ hay kết giao với danh sĩ, biết những bậc thái sơn bắc đẩu như Lão Đam tuyệt đối sẽ không cố ý dừng chân ở kinh thành nước Tần, nhất định sẽ tìm chốn thắng cảnh sơn thanh thủy tú để ở ẩn một mình, bèn bẩm rõ suy nghĩ của mình với Tần Hiến Công, cùng bàn bạc xong đối sách.

Quả nhiên, con trâu xanh của Lão Đam thong thả lướt qua Lịch Dương, rồi hướng về phía Chung Nam Sơn. Tiến vào sườn bắc trùng điệp ngút ngàn của Chung Nam Sơn, Lão Đam và tiểu đồng đi cùng lại bị hai "sĩ tử" áo vải xe trâu chặn lại, liên tục thỉnh giáo học vấn. Lão Đam khá yêu thích hai "sĩ tử" chân thành chất phác này, bèn dừng chân nghỉ ngơi tại trang trại trên núi của họ. Lưu lại mấy ngày liền, hai người nêu ra vô số nan đề với Lão Tử, Lão Tử đều lần lượt giải đáp, kể lại rành rọt như chuyện trò trên trời dưới đất, trong lồng ngực và cõi lòng dường như chôn giấu học vấn vô cùng vô tận.

Một "sĩ tử" áo vải cả ngày cùng Lão Tử dạo bước chốn thâm sơn, trâu đi nơi đồng nội, cơm canh đạm bạc nhưng lại hết mực cung kính phụng dưỡng ông lão thông tỏ trời đất này. Dưới bầu trời sao đêm mùa hạ, "sĩ tử" áo vải này khẩn cầu, xin Lão Tử viết một thiên văn chương trời đất để "khai mở bờ cõi" cho người Tần. Lão Tử cười lớn một hồi, rốt cuộc không nỡ từ chối lời khẩn cầu thành kính của người nọ, bèn chậm rãi chắp bút viết. Tựa như bước chân bì bõm chậm rãi của trâu xanh, Lão Tử viết cực kỳ chậm, thua xa tốc độ khắc thẻ tre của "sĩ tử" áo vải kia.

Một tháng sau, Lão Tử rốt cuộc cũng viết xong pho đại thư năm ngàn chữ để "khai mở bờ cõi". Đêm hôm đó, một "sĩ tử" áo vải khác một mình bước vào tiểu viện của Lão Tử. Dưới vầng trăng sáng đêm hè, Lão Tử đang ngồi trên đài cao giữa viện ngước nhìn vòm trời, gật đầu rồi lại lắc đầu, tự mình thở dài cảm thán.

Đột nhiên, phía sau Lão Tử vang lên một giọng nói: "Xin tiền bối chỉ giáo cho con."

Lão Tử không quay người lại, thở dài một tiếng: "Tần Công thông tuệ biết bao, nỡ lòng gạt Lão Đam sao?"

Sĩ tử áo vải sụp lạy không đứng dậy: "Tiền bối đã biết thân phận của con, xin hãy giải mối nghi hoặc cho Doanh Sư Thấp. Họ Doanh nước Tần ngày một suy vi, người Tần nhiều bề khốn đốn, Doanh Sư Thấp ăn ngủ không yên."

Lão Tử vẫn không quay người lại, ngước nhìn vòm trời, sau một hồi trầm tư bèn buông tiếng thở dài: "Tần Công hãy ghi nhớ: Lời của Lão Đam chỉ truyền cho trừ quân, nếu để lộ ra ngoài, tự mình mang tội với trời."

"Doanh Sư Thấp xin khắc ghi lời tiền bối."

Lão Tử chậm rãi, trầm giọng thốt lên một đoạn lời: "Năm xưa Lão Đam du ngoạn ngủ lại trên đỉnh Thần Nữ núi Vu Sơn, quan sát kỹ thiên tượng: Tần Chu cùng nguồn, đều khởi từ đất tây; Tần thành chư hầu, thì Tần Chu chia lìa; lìa năm trăm năm, sẽ đại hợp ở Tần; hợp mười bảy năm, thì bá vương xuất hiện."

Tần Hiến Công thỉnh cầu Lão Tử giải thích cặn kẽ, nhưng Lão Tử chỉ lắc đầu không nói.

Về sau, Lão Tử ở lại dưới chân núi Chung Nam Sơn thu nhận mấy chục đệ tử, dạy dỗ suốt ba năm, rồi bỗng mất tích một cách đầy bí ẩn. Có người nói, Lão Tử đã đi vào sa mạc mênh mông. Có người nói, Lão Tử đã đi tới thảo nguyên Âm Sơn. Lại có người nói, Lão Tử đã tiến vào núi Chung Nam tu thân đắc đạo thành tiên... Thứ ông lão thần bí này để lại cho hậu thế, chỉ có pho sách lớn trời đất năm ngàn chữ kia và lời tiên tri bí ẩn xa xưa ấy.

"Doanh Tứ, lời tiên tri của Lão Tử không thể ghi vào quốc sử, con đã ghi nhớ chưa?" Tần Hiếu Công nghiêm giọng hỏi.

"Đã ghi nhớ." Doanh Tứ nghiêm nét mặt trả lời.

"Con đọc lại một lượt, ta nghe."

Doanh Tứ ngắt từng chữ đọc rõ ràng: "Tần Chu cùng nguồn, đều khởi từ đất tây; Tần thành chư hầu, thì Tần Chu chia lìa; lìa năm trăm năm, sẽ đại hợp ở Tần; hợp mười bảy năm, thì bá vương xuất hiện."

Nghe Doanh Tứ đọc lại không sai một chữ, Tần Hiếu Công mỉm cười đầy thâm ý: "Con, có tin vào lời tiên tri về vận nước của Lão Tử không?"

Doanh Tứ nhất thời trầm ngâm, chẳng biết nên ứng đối ra sao. Cảm giác đầu tiên của chàng là kinh ngạc và chấn động, lời tiên tri của Lão Tử há chẳng phải đã trao cho nước Tần một ngọn đuốc tinh thần mới sao? Chia cách năm trăm năm rồi sẽ hợp lại, hiện tại Tần đã lập quốc hơn bốn trăm hai mươi năm, thế chẳng phải là bảo chỉ bảy tám mươi năm nữa thôi nước Tần sẽ "đại hợp" với "Chu" sao? Lão Tử là Thái sử lệnh của vương thất nhà Chu, chữ "Chu" mà ông nói dĩ nhiên bao quát cả chư hầu trong thiên hạ, chứ tuyệt đối không đơn thuần chỉ là "Chu Vương Thành" thu mình nơi góc nhỏ Tam Xuyên, trên thực tế còn hèn mọn hơn cả chư hầu nhỏ thông thường; cho đến tận hôm nay, bảy nước Chiến Quốc vẫn trên miệng thừa nhận Chu vương thất là "thiên hạ cộng chủ". Nói như vậy, hợp với "Chu" tức là hợp với "thiên hạ", "đại hợp vu Tần" tức là Tần sẽ thay thế Chu để thống nhất thiên hạ! Mà bảy tám mươi năm cũng chỉ là năm tháng của hai ba thế hệ, so với hơn hai ngàn năm để lời tiên tri của vua Thuấn thành hiện thực, thì ngắn ngủi biết bao! Có được tiền đồ rực rỡ dường này, người Tần dĩ nhiên sẽ càng thêm phấn đấu hăng hái, uy lực hơn bất kỳ chiếu thư khích lệ nào của quốc quân. Mấy ngàn năm qua, sự ngầm báo của "trời" đối với thứ dân quốc nhân là vô cùng thiêng liêng, họ thừa nhận và quy phục những nhân vật lớn "chịu mệnh trời", cam tâm tình nguyện vì họ mà đổ máu liều mạng, tạo dựng đại nghiệp cho họ. Chẳng nói đâu xa, lời tiên tri của vua Thuấn đã chống đỡ cho bộ tộc Doanh Tần tắm máu chiến đấu suốt thời gian dài, ai có thể bảo uy lực của loại tiên tri vận nước này không to lớn? Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc đến nay, biết bao quý tộc mới cũ trong cuộc tranh quyền đoạt vị đều mượn danh "thiên mệnh" để gom tụ lòng người, lời tiên tri "hợp Tần" của Lão Tử há chẳng phải là bản chiếu thư thiên mệnh cầu còn chẳng được sao? Đã như vậy, cớ sao đại phụ và phụ công đều giữ kín như bưng? Quả thực là kiêng kỵ tội danh "tiết lộ thiên cơ" ư? Thiên cơ nếu quả thực không thể tiết lộ, Lão Tử sao dám nói thẳng ra? Chắc hẳn đại phụ và phụ công nhất định còn có những suy nghĩ chôn giấu rất sâu chưa từng thổ lộ.

Sự trầm ngâm của Doanh Tứ chính là ở chỗ này, chàng ngồi ngay ngắn, cẩn trọng đáp: "Phụ công, nhi thần vốn xa lạ với học thuyết âm dương thiên mệnh, không biết nên luận từ đâu."

"Nói thế này đi." Tần Hiếu Công bảo: "Nếu thần linh bói toán bảo rằng con sẽ làm bá chủ thiên hạ, con sẽ đối đãi việc đó thế nào?"

Doanh Tứ không chút do dự: "Dẫu thiên mệnh sở quy, cũng phải nỗ lực không ngừng. Nhi thần sẽ xem như có như không."

"Tốt!" Tần Hiếu Công đập bàn đứng phắt dậy, "Phụ công muốn chính là sự 'như có như không' này." Ngài chậm rãi rảo bước trong đình, cân nhắc từng câu từng chữ: "Đại phụ con lúc lâm chung từng nói với ta, sở dĩ người không nói sớm lời tiên tri này cho ta biết, chính là sợ ta cậy vào thiên mệnh mà kiêu ngạo, ngược lại tự tuyệt đường sống với thiên mệnh. Tứ nhi à, nên biết rằng, một đấng quân chủ nếu chìm đắm vào thiên tượng, bói toán, đồng dao, sấm ngữ các loại, chẳng những hoang đường mà còn làm mất hết ý chí. Nói chuyện xa xưa, Tam Hoàng Ngũ Đế có thể xem là thuận theo thiên mệnh rồi. Thế nhưng vua Thuấn lại giam cầm vua Nghiêu để nắm quyền, Đại Vũ lại giam cầm vua Thuấn để nắm quyền, thiên mệnh ở đâu? Nói chuyện gần đây, thiên tử nhà Chu có đời nào không thông tuệ anh vũ? Nhưng lại cứ mê muội tin vào thiên mệnh, trong thời đại tranh đoạt gay gắt lại thu mình tự bảo vệ, nay chỉ còn trơ lại ba bốn trăm dặm đất Thành Chu ở Lạc Dương, thê thảm biết bao! Thiên mệnh như thế, có cũng như không. Lại nói chuyện gần hơn nữa, Sở Tuyên Vương mê muội tin vào tinh tượng, chỉ vì sao chổi quét ngang trời mà rối loạn trận cước, dùng đất đai thành trì mua chuộc nước Ngụy nước Tề, muốn tiêu diệt nước Tần ta. Kết cục thì sao? Mất thành trì, đất nước nghèo kiệt, lại chẳng kết thành được liên minh diệt Tần. Con phải ghi nhớ cho kỹ, thiên mệnh tinh tượng xưa nay không bao giờ rủ lòng thương kẻ yếu, nó mãi mãi chỉ là vầng hào quang của kẻ mạnh mà thôi!"

"Lời phụ công dạy bảo thật sâu sắc thấu đáo, nhi thần xin khắc ghi suốt đời."

"Doanh Tứ, nước Tần dẫu có thể thống nhất thiên hạ, cũng phải từng bước từng bước, từng đời từng đời khổ cực làm lụng, phấn đấu tranh đoạt. Vạn lần không được để loạn tâm chí mà bước vào đường lầm lối rẽ." Tần Hiếu Công ân cần dặn dò.

"Phụ công, chính đạo của nước Tần là kiên trì theo nền pháp chế do phụ công cùng Thương Quân sáng lập, chứ không phải ngồi chờ thiên mệnh thuộc về mình. Nhi thần biết rõ, không có tân pháp thì không có Tần mạnh, không có tân pháp thì không có sự ủng hộ chân thành của thứ dân quốc nhân. Tiền đồ nước Tần dẫu muôn vàn gian nan trắc trở, nhi thần cũng không hề sợ hãi." Doanh Tứ khảng khái dõng dạc.

"Tốt." Tần Hiếu Công vỗ vai con trai, vừa vui mừng vừa thân thiết: "Tứ nhi, con đã trưởng thành rồi. Có được tâm chí kiên định nhường này, phụ công cũng không cần nói nhiều nữa. Đi thôi, chúng ta đi thăm Thái hậu và cô cô."

"Thái hậu và cô cô cũng tới ạ?" Doanh Tứ cảm thấy kinh ngạc, nhưng lập tức lộ vẻ vui mừng.

Lão Thái hậu đã ở nơi này được mấy tháng. Bà đối với cung điện Hàm Dương lộng lẫy xa hoa không hề có chút ưa thích, trái lại rất lưu luyến đất Ung Thành, đất Lịch Dương, thường xuyên nhắc tới. Tần Hiếu Công đột ngột ngã bệnh, Lão Thái hậu lại bỗng nhiên bảo rằng Hàm Dương cung "khí âm rỗng" quá nặng, đòi con trai cùng bà chuyển tới Lịch Dương để dưỡng bệnh. Tần Hiếu Công biết mẫu thân đã già, thích những tòa thành lũy nhỏ, sân viện nhỏ bước chân ra là nhìn thấy người quen. Sau khi đại hôn với Huyền Kỳ, Tần Hiếu Công đã có ý đưa mẹ tới Chung Nam Sơn du ngoạn một chuyến, Lão Thái hậu nhìn thấy cổng đá do Tần Hiến Công dựng cho thư viện Lão Tử, bỗng trông cảnh nhớ người, liền đòi ở lại nơi đây. Hiếu Công thực ra cũng có ý này, bèn chuyển hầu như toàn bộ người hầu cùng đồ đạc trong tẩm cung của Thái hậu tới đây, để Lão Thái hậu an hưởng tuổi già trong thư viện chốn điền viên này. Lão Thái hậu chọn một tiểu viện bỏ trống bên cạnh Thượng Thiện Trì, cứ thế ung dung nhàn nhã ở lại nơi này. Doanh Ngọc sau khi bình phục vốn định tới vùng Hào Sơn một chuyến để đích thân gặp Bạch Tuyết, sau khi trở về sẽ đến Chung Nam Sơn bầu bạn với mẹ. Ngay lúc đó, nàng lại nhận được một bức mật giản do Tần Hiếu Công phái Hắc Bá đưa tới, bèn đảo ngược thứ tự hai việc, tới Chung Nam Sơn bầu bạn với mẹ trước.

Lúc Tần Hiếu Công và Doanh Tứ tới nơi, Doanh Ngọc đang gảy đàn tranh nước Tần cho Lão Thái hậu nghe. Chiếc đàn tranh này tương tự như cổ cầm, nhưng to dài và thô ráp hơn cổ cầm, là nhạc cụ do người Tần độc sáng, thiên hạ gọi là "Tần tranh". Đàn tranh nước Tần lúc bấy giờ chỉ có tám dây, tuy ít hơn Tần tranh sau này hai dây, nhưng âm vực vẫn rộng hơn đàn cầm, khi gảy lên mang nét trầm lắng khoáng đạt, thê lương hào hùng, người Tần không ai là không yêu thích khôn cùng. Doanh Ngọc tấu khúc "Tần Phong - Kiêm Gia", đây là một khúc tình ca được lưu truyền rộng rãi hơn trăm năm trên đất Tần, Doanh Ngọc vừa gảy vừa hát, Lão Thái hậu khẽ nhắm hai mắt, chìm sâu vào hồi ức về những năm tháng đã qua.

Tần Hiếu Công dừng bước, chăm chú lắng nghe, cảm thấy trong tiếng đàn tranh trầm lắng xa xăm ẩn hiện một tia u buồn ngưng trệ, khiến khúc tình ca tuyệt mỹ này có đôi phần sầu thảm, không khỏi như có điều suy nghĩ. Tiếng đàn vừa dứt, Tần Hiếu Công liền vỗ tay cười nói: "Hay lắm, đàn hay mà hát cũng hay." Doanh Tứ vội vàng bước tới hành lễ với Lão Thái hậu và cô cô. Lão Thái hậu vui mừng kéo tay cháu trai hỏi han đủ điều. Doanh Ngọc liền sai thị nữ bày ghế dâng trà, đích thân đỡ đại ca ngồi xuống chiếc đôn đá có lót đệm bông.

Bấy giờ đúng vào buổi trưa, vùng lòng chảo đón nắng không có gió, khoảng sân nhỏ ấm áp không chút vẻ xơ xác của mùa đông buốt giá. Doanh Ngọc sai dọn cơm, chiếc bàn đá thon dài lập tức được bày lên một mâm thịt rừng rau núi cùng hai vò rượu trong. Ba thế hệ dòng đích của Doanh Tần đã bắt đầu bữa cơm chung đầu tiên sau hơn hai mươi năm ngay trong khoảng sân đất nhỏ giản dị u tĩnh này. Tinh thần Lão Thái hậu đặc biệt phấn chấn, liên tục giục con trai và cháu trai uống thêm vài bát rượu trong. Tần Hiếu Công uống một bát, trên trán liền toát ra những giọt mồ hôi hột nhớp nháp, bèn không uống nữa. Doanh Ngọc và Doanh Tứ thấy Hiếu Công không uống nữa, bèn dừng lại nếm thử thịt thỏ rừng, dê núi được hầm nhừ tơi.

Hiếu Công cười hỏi: "Mẫu hậu, có muốn chuyển về Hàm Dương không?"

Lão Thái hậu lắc đầu nguầy nguậy: "Không không không, ở đây là tốt nhất. Hàm Dương ấy à, trống trải quá."

"Thế nhưng mẫu hậu ở đây một mình, làm sao con yên tâm cho được?"

"Cừ Lương à," Lão Thái hậu thở dài một tiếng, "Mẹ không sao cả, non xanh nước biếc, mẹ thấy rất khoan khoái. Ngược lại mẹ chẳng yên tâm về con chút nào. Nước Tần thế lực lớn mạnh rồi, con cũng mệt mỏi kiệt sức rồi. Theo lời mẹ nói, con chi bằng cứ giao quốc sự cho Ưng và Tứ nhi, rồi cùng Huyền Kỳ dọn tới đây ở, thân thể tự khắc sẽ dần dần bình phục thôi."

"Được. Qua mùa xuân tới, con và Huyền Kỳ sẽ dọn tới." Tần Hiếu Công sảng khoái đồng ý, rồi quay người lại bảo: "Tứ nhi, con có muốn ở lại bầu bạn với tổ mẫu vài ngày không?"

Doanh Tứ trong lòng lấy làm lạ, phụ công chẳng phải bảo mình cùng Thương Ưng nhiếp chính sao, cớ sao lại có ý muốn để mình ở lại Chung Nam Sơn? Nhất thời bối rối, chàng ngập ngừng đáp: "Tất cả tùy phụ công an bài."

Tần Hiếu Công nói: "Ba năm ngày thôi, tổ mẫu sẽ giúp con mở mang thêm nhiều hiểu biết."

Doanh Tứ chắp tay lĩnh mệnh, Lão Thái hậu vui mừng rạng rỡ mặt mày.

Sau bữa cơm, Thái hậu sai Doanh Tứ cùng mình đi dạo một vòng quanh viện, bảo rằng có mấy nơi vẫn chưa đi tới. Trong sân chỉ còn lại hai anh em Hiếu Công và Doanh Ngọc. Tần Hiếu Công nói: "Tiểu muội, đi theo ta vào núi một chuyến." Doanh Ngọc cũng không hỏi nhiều, bước ra cửa lên ngựa, cùng Tần Hiếu Công phóng như bay vào sâu trong núi Chung Nam. Lúc hai người quay về, trời đã ngả bóng tà dương. Dùng bữa canh tối thanh đạm xong, Tần Hiếu Công cùng Doanh Ngọc liền cáo từ Thái hậu, lên xe trở về Hàm Dương.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.