Đại Tần Đế Quốc 1: Hắc Sắc Liệt Biến

Lượt đọc: 334 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết 1
Thiên Tượng Huyền Bí Bức Bách Mưu Kế Diệu Kỳ Của Sở Tuyên Vương

❊ ❊ ❊

Sở Tuyên Vương Mị Lương Phu phiền muộn khôn cùng, một ngày mấy lượt hỏi thị thần: "Giang Ất đại phu đã về chưa?"

Trung đại phu Giang Ất đi Ngụy quốc, Tề quốc. Ông là mật sứ của Sở Tuyên Vương, phái đi đã ba tháng mà vẫn bặt vô âm tín, Sở Tuyên Vương làm sao không sốt ruột? Sau hội minh Phùng Trạch của sáu nước, những lời thề cùng minh ước trang nghiêm đều tan rã một cách khó hiểu, chẳng những việc hợp binh phạt Tần rơi vào cảnh bặt tăm bặt tích như trâu đất xuống biển, mà ngay cả chuyện xâu xé các nước nhỏ cũng không cách nào thực hiện. Theo toan tính ban đầu của Mị Lương Phu, bụng dạ muốn diệt Tần trừ Tề quốc ra thì nước nào cũng sốt ruột hơn Sở quốc. Vì thế sau khi về Dĩnh Đô, ông ta vững như Thái Sơn, chẳng chỉnh huấn binh mã, cũng chẳng tích cực liên lạc, chỉ phái ba tên võ sĩ thân tín lén vào Vũ Quan dò la động tĩnh nước Tần, chuẩn bị ngồi mát ăn bát vàng.

Mị Lương Phu xưa nay tự phụ, cảm thấy mình là vị Sở Vương anh minh nhất trong các đời, vượt xa tiên tổ. Bọn họ chém chém giết giết nhọc nhằn mấy trăm năm, Sở quốc vẫn là Sở quốc, Trung Nguyên vẫn là Trung Nguyên, Sở quốc ngay cả Hoài Thủy cũng không vượt qua nổi. Chỉ có ông ta bày mưu tính kế, không đánh mà thắng, lấy thân phận cường quốc thứ hai thiên hạ tham gia hội minh sáu nước, lại sắp chẳng tốn chút sức lực nào đoạt lấy mấy trăm dặm đất đai, một bước đẩy Sở quốc đến bờ bắc bờ nam Đại Hà. Công nghiệp bực này ai bì kịp? Sở Trang Vương hót một tiếng kinh người, dùng mười mấy vạn xác chết đổi lại chẳng qua cũng chỉ là ba năm bá chủ, trăm dặm đất đai mà thôi. Ông nội là Sở Điệu Vương dốc hết tâm lực, trọng dụng Ngô Khởi biến pháp, hi sinh sự ổn định của triều cục đổi lấy binh hùng nước mạnh, cũng chỉ tạo nên cục diện Trung Nguyên không dám đến xâm phạm, nào có thể ra sao? Mị Lương Phu thường cảm thấy buồn cười trước sự ngốc nghếch của các bậc tiên tổ, cho rằng họ thực sự đã bỏ lỡ biết bao cơ hội tốt của Sở quốc, thiếu hẳn phong phạm vương giả của nước lớn. Sách lược ứng phó thiên hạ của Mị Lương Phu là: Không làm kẻ đứng đầu, chỉ làm kẻ đứng thứ hai; không màng hư danh, chỉ cầu thực lợi! Kẻ nào làm minh chủ Chiến Quốc, kẻ đó liền trở thành bia ngắm cho muôn người, kẻ đó phải hao tổn gấp mười gấp trăm lần tinh lực và quốc lực để đối phó với tất cả chư hầu trong thiên hạ đang toan tính, gặm nhấm, làm suy yếu hòng nuốt chửng mình, quả thực chẳng khác nào ngồi trên lò than đỏ. Việc ngốc nghếch như thế, Sở quốc có thể làm sao? An vị ở ngôi thứ hai thì tả hữu đều thuận lợi. Chỗ tốt kẻ đứng đầu có, kẻ thứ hai tuyệt đối không thiếu; rủi ro kẻ đứng đầu gánh, kẻ thứ hai lại mảy may không dính, thậm chí vào lúc cần thiết còn có thể mượn sức thiên hạ khống chế kẻ đứng đầu, đoạt lấy nhiều món hời hơn cả kẻ đứng đầu!

Thiên hạ phân tranh, hươu chạy không chủ. Những bậc quân vương tầm thường kia chỉ chăm chăm nhìn vào con hươu béo mà chẳng đoái hoài chung quanh, bọn họ làm sao bì được với Mị Lương Phu, nhìn nhận sâu sắc đến mức này?

Mị Lương Phu tự hào về bản thân một hồi lâu. Ông ta bảo các đại thần rằng đại sách lược của mình bắt nguồn từ Lão Tử: "Lão Tử, Lão Tử các ngươi biết không? Thánh nhân của đại Sở ta đấy! Các ngươi đều phải đọc cho kỹ cuốn 'Lão Tử', mỗi người một trăm lượt. Đọc xong mới có tư cách nghị luận quốc sự. Biết chưa?" Từ đó về sau, thanh âm ngâm tụng "Lão Tử" trầm bổng vang vọng khắp trong ngoài cung đình, vua tôi nghị sự, điển tịch của Lão Tử cũng xuất hiện thường xuyên. Những câu như "Không chuộng hiền tài, làm điều vô vi", "Bởi vì không tranh, nên thiên hạ chẳng ai tranh nổi với mình", "Nơm nớp lo sợ, như đi trên băng mỏng", "Trị nước lớn như nấu cá nhỏ", vân vân và vân vân, liền trở thành khúc nhạc râm ran suốt ngày nơi triều đường.

Một ngày nọ, Mị Lương Phu đang đùa bỡn bỡn cợt cùng ba cung nữ thì bị một lão thần bắt gặp, lão thần bèn tụng một đoạn văn trúc trắc khó hiểu để can gián: "Về cội gọi là tĩnh, gọi là phục mệnh. Phục mệnh gọi là thường, biết thường gọi là minh. Không biết thường, làm càn ắt hung. Biết thường thì bao dung, bao dung mới công chính. Công chính mới vẹn toàn, vẹn toàn mới hợp trời, hợp trời mới là đạo, là đạo mới trường cửu. Suốt đời không nguy hại." Mị Lương Phu nghe mà đầu óc mịt mù như lọt vào mây khói: "Ngươi? Ngươi niệm cái thứ gì thế? Tiếng chim kêu chiêm chiếp đấy à!" Lão thần phẫn nộ cất cao giọng: "Đại vương của thần ôi, đây là lời dạy trong 'Lão Tử', cớ sao lại là tiếng chim chiêm chiếp? Xin chớ bôi nhọ thánh nhân!" Mị Lương Phu vô cùng bẽ bàng, một kẻ chưa từng nghiêm túc đọc trọn một lượt "Lão Tử" như ông ta sao biết đây là lời Lão Tử? Không khỏi thẹn quá hóa giận, quát lớn một tiếng: "Ngươi đọc không đúng chỗ rồi! Trước mặt đàn bà con gái lại đọc thánh điển 'Lão Tử', làm nhơ nhuốc thánh nhân rồi!"

Từ đó, âm thanh ê a ngâm tụng "Lão Tử" trong cung đình im bặt. Bên cạnh thân hình đẫy đà của Sở Tuyên Vương luôn có hai thị nữ diễm lệ nép mình phủ phục, ai dám làm nhơ nhuốc thánh nhân nữa?

Thoắt cái mười năm trôi qua, Sở Tuyên Vương càng lúc càng thấy bực bội uất ức. Ngồi mát ăn bát vàng chẳng thành, muốn nuốt vài nước nhỏ như tôm tép thì lại bị Ngụy quốc, Tề quốc đe dọa, đành miễn cưỡng co tay rụt chân. Cái danh "người thứ hai thiên hạ" làm riết rồi chẳng ai thèm ngó ngàng, ngay cả chính mình cũng thấy tẻ nhạt vô cùng. Làm quốc vương hơn hai mươi năm, đại sách lược "Lão Tử" chậm chạp mãi chẳng thi triển được. Toàn bộ tâm chí vốn dĩ dồn hết vào mối thực lợi và danh vị có thể vơ vét được từ hội minh sáu nước, nay lại hóa thành công dã tràng bắt tép nuôi cò, thể diện còn đâu nữa? Dù bề ngoài ông ta vẫn tỏ ra khoáng đạt, song tâm sự lại càng thêm trĩu nặng, thân hình vốn đã to béo lại càng thêm phì nộn, hệt như con trâu nước già trên ruộng bùn Sở quốc, cả ngày thở hồng hộc, chẳng phân biệt nổi là do nóng hay do mệt.

Một ngày nọ cách đây vài tháng, Mị Lương Phu vắt óc nghĩ mãi không ra kế sách, bèn đè lên người thị nữ đang quạt mà ngủ thiếp đi. Trong cơn mơ màng, chợt nghe lòng rạo rực, bỗng thấy linh quang lóe sáng, một ý nghĩ kỳ diệu trào dâng trong tâm trí. Ngẫm nghĩ kỹ càng, bất giác đắc ý tột cùng, càng nghĩ càng thấy đây là ý trời, là một diệu kế chấn hưng uy phong của "người thứ hai thiên hạ"! Không kìm được vỗ vào vòng eo mềm mại thon thả của thị nữ cười vang ha hả, phân phó nội thị lập tức triệu Trung đại phu Giang Ất tới, mật bàn ròng rã suốt một ngày. Ngày hôm sau, cỗ xe của Giang Ất đã lộc cộc lăn bánh lên phương bắc.

Sứ mệnh bí mật của Giang Ất là tìm kiếm hai nhà tinh tượng nổi danh thiên hạ: Cam Đức và Thạch Thân.

Cam Đức, Thạch Thân là hai bậc ẩn sĩ thông tuệ đầy huyền bí, song lại mảy may không dính dáng đến các lưu phái thần bí như vu sư bói toán, âm dương ngũ hành hay thuật kham dư phong thủy. Họ thuộc học phái uyên thâm "nghiên cứu mối quan hệ giữa trời và người", là đôi mắt của thượng thiên giấu nơi trần thế, cũng là những bậc dị năng nhân sĩ thấu suốt thiên cơ giữa cõi nhân gian. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, học phái lấy "trời" làm đối tượng nghiên cứu trực tiếp gồm có hai phái, một gọi là "chiêm hậu gia", một gọi là "tinh tượng gia". Chiêm hậu tức là dựa vào sự biến hóa khí tượng của trời đất để dự đoán họa phúc nhân gian; mây khí, chiều gió, sắc trời, cầu vồng, sương mù, tia chớp, sấm sét, thủy triều, quầng trăng, bụi bặm, khói mù vân vân, đều là đối tượng quan trắc huyền cơ của chiêm hậu gia. Tinh tượng gia còn gọi là chiêm tinh gia, là những học giả dựa vào sự biến thiên của các vì tinh tú trên trời để dự đoán việc người và vận nước. Kể từ thời tam đại Hạ, Thương, Chu, các vị quân vương thường có hai vị quan trắc cố định mang thân phận quan triều đình, một là vu sư bói quẻ, hai là tinh tượng gia chiêm tinh. Những kẻ khác như âm dương gia, kham dư gia thì chỉ khi có việc mới lâm thời triệu kiến, hiếm khi có tư cách triều thần. So sánh hai bên, bói quẻ thịnh hành và dễ hiểu hơn, nhất là sau khi Chu Văn Vương diễn giải Bát Quái và Khổng Phu Tử soạn Hào Từ, kẻ sĩ tầm thường cũng có phần hiểu biết về bói quẻ, lực uy hiếp tâm lý cùng sức ảnh hưởng của kết quả bói toán đối với người dân theo đó ngày một suy giảm. Trái lại, tinh tượng gia trước sau vẫn giữ được sự huyền bí thanh cao khó hòa lẫn, học giả tầm thường chẳng thể dòm ngó được sự huyền diệu bên trong, thứ dân trăm họ lại càng khó biết được một phần muôn trượng.

Trạng thái ấy duy trì suốt hơn bốn ngàn năm. Đến thời Ngụy Tấn sau này, có một thiên tài tinh tượng gia nổi danh nhất tên là Quản Lộ, ông chỉ sống được bốn mươi tám tuổi, làm quan đến chức Thiếu phủ thừa. Thời niên thiếu, ông theo học danh gia dịch học Quách Ân, trước học "Chu Dịch", sau học tinh tượng. Những lúc ngắm trời đêm, Quản Lộ thường thâu đêm không ngủ, luôn đưa ra những luận đoán kinh người mà ngay cả người thầy cũng không hiểu nổi. Một năm sau, Quách Ân ngược lại thường thỉnh giáo Quản Lộ, bùi ngùi than thở: "Nghe lời chí lý của ngài, ta quên cả bệnh nặng của mình! Sao lại đạt tới cảnh giới này?" Quản Lộ sảng khoái cười đáp: "Đây chẳng phải công phu tu tập, mà là thiên bẩm của tôi vậy." Năm bốn mươi tuổi, người em trai là Quản Thần xin theo Quản Lộ học môn tinh tượng. Quản Lộ nghiêm nét mặt đáp: "Đạo này, chẳng đạt mức chí tinh thì không thể thấy số lý, chẳng đạt bậc chí diệu thì không thể dòm ngó huyền cơ. Đều do bản thân thiếu tài, chẳng phải do thiếu sách. Học Hiếu Kinh, Thi Luận cũng đủ làm Tam công rồi. Học biết cái này làm chi vô ích!"

Chính bởi thâm sâu như vậy, khó nắm bắt đối với người thường như vậy, nên dự đoán của tinh tượng gia luôn duy trì được sự uy hiếp cao xa đối với thiên hạ. Nó có thể hóa thành đồng dao, hóa thành sấm ngữ, hóa thành muôn vàn lời tiên tri thần bí, thậm chí hóa thành cơn bão táp quét ngang cõi đời. Suốt cả thời đại cổ điển, không một ai dám cất lời thách thức quyền uy của những lời dự ngôn tinh tượng.

Đó chính là nguyên cớ sâu xa khiến Sở Tuyên Vương muốn tìm cho bằng được hai vị tinh tượng gia Cam Đức và Thạch Thân. Ông ta muốn biết đại thế hưng vong của thiên hạ, muốn dựa vào thiên cơ để định đoạt đại sách lược của mình, không thể chờ đợi thêm được nữa! Mị Lương Phu muốn phong hai vị cao nhân này làm "Thiên đại phu", giữ mãi bên mình để bất cứ lúc nào cũng có thể chỉ cho ông ta thấy huyền cơ của trời cao, ngõ hầu thuận thiên hành sự, chấn hưng quốc uy.

Từ thuở xa xưa, đời nào cũng có tinh tượng gia phò tá vương thất. Nhà Hạ có Côn Ngô, nhà Thương có Vu Hàm, nhà Chu có Sử Dật, Trường Hoằng. Bốn trăm năm thời Xuân Thu, tinh tượng gia lại càng nhiều thêm. Nổi tiếng có Tỳ Táo nước Trịnh, Tử Thận nước Lỗ, Sử Triệu, Sử Mặc nước Tấn, Tử Muội nước Đường. Bước sang thời Chiến Quốc, những bậc danh chấn thiên hạ có Cam Đức nước Tề (người đời gọi là Cam Công), Thạch Thân nước Ngụy, Doãn Cao nước Triệu. Song hai vị cao nhân khiến cả thiên hạ tâm phục khẩu phục nhất vẫn là Cam Đức và Thạch Thân. Mị Lương Phu cho rằng, các nước thời Chiến Quốc như Tam Tấn Ngụy Triệu Hàn, như họ Điền nước Tề, như nước Tần nơi bờ cõi phía tây, đều là lũ man rợ thô bạo, hoàn toàn không xứng đáng thấu hiểu sự huyền diệu của thiên cơ, uổng phí biết bao tinh tượng gia sinh ra trên đất nước họ! Duy chỉ có những chư hầu thâm niên cội rễ như Sở quốc, Yên quốc mới có thể biết thiên mệnh mà kính sợ, biết thuận thiên mà hành sự. Mị Lương Phu cảm thấy tin trời còn có một điều hay: khi quốc quân phạm phải sai lầm về quốc sự mà thứ dân khó lòng tha thứ, chỉ cần quốc quân tỏ lòng chân thành hối ngộ, ông trời ắt vẫn sẽ ban lại một tin mừng cát tường. Đó mới là điểm tuyệt diệu nhất! Thuận theo ý trời mà làm thì bản thân vĩnh viễn là bậc anh minh, lỡ phạm sai lầm thì ông trời cũng sẽ giúp vãn hồi. Điển tích mà Mị Lương Phu thuộc nằm lòng xảy ra tại Tống quốc.

Thời Tống Cảnh Công, có năm Huỳnh Hoặc giữ cung Tâm, Tống Cảnh Công kinh hãi. Tư tinh đại phu Tử Vi đề xuất: "Có thể giáng họa sang Thừa tướng." Tống Cảnh Công lắc đầu: "Thừa tướng là bầy tôi rường cột, không được." Tử Vi lại nói: "Có thể giáng họa sang trăm họ." Tống Cảnh Công càng lắc đầu: "Vua phải thương dân, sao nỡ giáng họa?" Tử Vi đề xuất lần thứ ba: "Như thế có thể giáng vào mùa màng, mùa màng thất bát thì tai ương tự tiêu." Tống Cảnh Công sốt ruột nói: "Mùa màng thất bát thì dân đói khổ khốn đốn, có vị quốc quân nào lại làm thế?" Tử Vi nghiêm trang nói: "Trời cao soi xét chốn thấp hèn. Quốc quân có ba lần hành xử theo đạo nhân như vậy, Huỳnh Hoặc ắt phải dịch chuyển." Tống Cảnh Công bán tín bán nghi. Nào ngờ ba canh giờ sau, Huỳnh Hoặc quả nhiên rời xa Tâm Túc ba độ, bay ra khỏi "thiên giới" của Tống quốc!

Trời xanh đã thiện đãi bậc quân vương như thế, cớ sao lại không tin?

Đang lúc Sở Tuyên Vương Mị Lương Phu tâm thần bất định thì phi kỵ về báo: Giang Ất đại phu đã đến cửa bắc Dĩnh Đô, hai vị cao nhân cùng ngồi chung xe đi tới! Mị Lương Phu mừng rỡ suýt nhảy cẫng lên, lập tức hạ lệnh chuẩn bị xe giá, đích thân ra cửa bắc nghênh đón, cung kính đưa hai vị cao sĩ đến dinh thự bí mật đã sửa soạn từ trước, lại phái hai trăm võ sĩ canh gác nghiêm ngặt bảo vệ.

Kể từ ngày hôm sau, Mị Lương Phu phá lệ rời xa thị nữ, một mình dọn vào Thái Miếu, ăn chay tắm gội ba ngày để tỏ lòng kính sợ trời xanh. Sau ba ngày bước ra, miệng lưỡi nhạt nhẽo, bụng dạ trống rỗng, ông ta ngốn ngấu một bữa thịt nai cá béo đẫy đà rồi mới thở phì phò hạ lệnh khởi hành đến đài quan tinh trên núi Kinh Sơn.

Tới được chân núi Kinh Sơn thì bóng tịch dương đã buông tà tà. Tuy đang độ giữa hè nhưng gió núi lại se se lạnh. Kinh Sơn xanh um tươi tốt, mây mù lượn lờ, ngước nhìn lên đỉnh cô phong sừng sững tựa như chạm tới trời xanh.

Sáu tráng sĩ luân phiên dùng chiếc ghế tre đòn dài to khỏe, chắc chắn khiêng Sở Tuyên Vương to béo nặng nề bước lên con đường bậc thang nhỏ hẹp dẫn lên núi. Hai vị cao sĩ Cam Đức và Thạch Thân đều thanh mảnh quắc thước, tóc bạc da mồi mà nét mặt hồng hào, nhất quyết không chịu ngồi ghế tre. Trung đại phu Giang Ất lẽ dĩ nhiên đành phải đi bộ tháp tùng hai vị cao sĩ leo núi. Tuy ông ta cũng mang dáng dấp gầy gò, da dẻ đen nhẻm, thoạt nhìn có vẻ nhanh nhẹn khỏe khoắn, nhưng chưa đi nổi nửa đường, Giang Ất gầy gò đen nhẻm ấy đã thở hồng hộc, mồ hôi đầm đìa, lưng mỏi gối chùng. Ông ta vốn chưa từng leo con đường núi dài dằng dặc dường này, lúc này mới thấu việc leo núi chẳng phải chuyện dễ dàng! Bụng bảo dạ muốn ngồi vào ghế tre, ngặt nỗi mình chỉ là một Trung đại phu, không dám hưởng thụ ngang hàng với quốc quân trong khi các bậc cao nhân tiên khách vẫn đang cất bước bộ hành. Đành phải vừa đi vừa nghỉ, rốt cuộc tụt lại một quãng xa tít tắp phía sau. Nhìn hai vị lão nhân kia kìa, dáng vẻ tiêu dao tự tại, bước chân vẫn thong thả khoan thai. Mấy chục tên nội thị theo sau lưng Giang Ất, ôm vác gánh gồng đủ thứ đồ dùng chống rét cùng phẩm vật tế lễ, lại càng ướt đẫm mồ hôi, thở phì phò như trâu mộng, kéo dài thành một đoàn rải rác chừng một hai dặm. Vừa đi vừa nghỉ, chừng một canh giờ rưỡi, đoàn người dài dằng dặc cuối cùng cũng lết tới được lỗ châu mai của đài quan tinh trên đỉnh cô phong.

Đài quan tinh này tọa lạc trên đỉnh chính của Kinh Sơn, hình thù nom tựa một khúc tường thành bị cắt xén, bốn bề vuông vức, xung quanh có tường chắn cao bằng mặt thành, trên các lỗ châu mai cắm đầy cờ ngũ sắc. Phía bắc đài quan tinh là ba gian nhà đá, đủ sức che chắn mọi cơn gió núi mưa dông. Chính giữa mới thực sự là đài quan tinh, một bục đá xanh cao ba trượng sáu thước, giữa bóng chiều chạng vạng trông tựa như thanh trường kiếm chọc thẳng vào vòm trời xanh thẳm. Bốn phía quanh đài cao là mười hai án hương bằng đá bản được đắp sẵn theo các vị trí phân dã tinh thần. Thuở ấy, các tinh tượng gia đã đo đạc quy chiếu mỗi một nước chư hầu tương ứng với vị trí các chòm sao trên trời, dưới ngôi sao nào vị trí nào tương ứng với nước nào đều có một vùng phân dã được công nhận. Sách "Chu Lễ" viết "Lấy sao và đất để phân biệt đất cửu châu, cõi bờ được phong đều có hạn lượng tương ứng, ngõ hầu quan sát điềm lành điềm gở", chính là lời thuyết minh cụ thể cho phép bói sao phân dã này. Theo điển tịch của các tinh tượng gia đời sau, sự phân dã tinh tượng ban đầu thời nhà Hạ chỉ tương ứng với cửu châu cùng sông hồ trong thiên hạ, lần lượt là:

Ba sao Giác, Cang, Đê —— Diễn Châu

Hai sao Phòng, Tâm —— Dự Châu

Hai sao Vĩ, Cơ —— U Châu

Khiên Ngưu, Vụ Nữ —— Dương Châu

Hai sao Hư, Nguy —— Thanh Châu

Doanh Thất, Đông Bích —— Tinh Châu

Ba sao Khuê, Lâu, Vị —— Từ Châu

Hai sao Mão, Tất —— Ký Châu

Hai sao Đông Tỉnh, Dư Quỷ —— Ung Châu

Bắc Đẩu —— Sông ngòi hồ biển trong thiên hạ

Bước sang thời Xuân Thu Chiến Quốc, cách phân dã này tỏ ra quá thô sơ mông lung, các tinh tượng gia bèn chia tách lại một cách tỉ mỉ, chủ yếu dùng hai phương pháp: dùng Nhị thập bát tú tương ứng phân dã, và dùng Thập nhị thứ tương ứng phân dã. Phương pháp sau chủ yếu nhắm vào sự phân dã của các nước lớn, cụ thể là:

Huỳnh Hoặc —— phân dã bên dưới là Sở, Ngô, Việt, Tống

Thái Bạch —— phân dã bên dưới là Tần quốc, Trịnh quốc

Thần Tinh —— phân dã bên dưới là Yên quốc, Triệu quốc

Phòng Tinh —— phân dã bên dưới là Ngụy quốc, Hàn quốc

Huyền Kiêu —— phân dã bên dưới là Tề quốc, Lỗ quốc

Trấn Tinh —— phân dã bên dưới là Chu vương thất Lạc Dương

Dựa theo cách chia phân dã này, phương vị Sở quốc ở phía nam đài quan tinh, tức chiếc án đá bên dưới Huỳnh Hoặc, được dùng làm án chính tế trời. Trên án chính đã chuẩn bị sẵn vật hiến tế gồm ba chiếc đầu trâu, cừu, lợn cạo rửa trắng nõn, thắt dải lụa đỏ to bản, ngạo nghễ đặt trong mâm đồng lớn, làn khói tỏa ra từ các bó hương nghi ngút khắp tòa thành nhỏ. Đài quan tinh thực sự ở chính giữa đã được quây kín bằng màn vàng, chỉ có tiếng cờ lay phần phật vọng xuống từ trên đỉnh khiến người ta liên tưởng đến sứ mệnh huyền bí của nó.

"Hai vị cao sĩ vất vả rồi." Sở Tuyên Vương vừa thở dốc vừa bước tới.

Cam Đức, Thạch Thân nghiêm cẩn chắp tay, Cam Đức dáng người hơi cao cất lời: "Sở Vương, hai người chúng tôi phải vào tinh thất điều tức nguyên thần, đợi đến giờ Tý nửa đêm mới xem sao, nếu có điềm triệu sẽ cùng Sở Vương bàn bạc."

Sở Tuyên Vương thành kính chắp tay: "Bản vương cũng nên thành tâm kính trời, tắm gội sạch sẽ ở phòng phía đông, đến giờ Tý lại tới thỉnh giáo."

Bấy giờ là đêm mùng ba tháng sáu không trăng, trời xanh như gột rửa, dải ngân hà rực rỡ sáng ngời. Lúc nửa đêm, gió thung lũng thổi hiu hiu, lạnh buốt đến mức có phần thấu xương. Mị Lương Phu dẫu to béo đẫy đà cũng không chịu nổi cái rét núi rừng mùa hạ, bèn quấn tấm áo kép bước ra khỏi phòng đông, đi đi lại lại trên đài quan tinh. Ngước nhìn muôn ngàn vì tinh tú trên trời, chỉ thấy nhấp nháy tán loạn khôn cùng, chẳng thể suy đoán ra chút huyền diệu nào. Đúng lúc này, chỉ nghe quan tư lễ đứng nghiêm dưới đài cao xướng lớn: "Giờ Tý đã điểm, kính thỉnh các bậc cao sĩ——!"

Tấm rèm dày của tinh thất được vén lên, Cam Đức và Thạch Thân xõa tóc bạc, khoác áo bào đen thêu hình tinh tú phân dã bước ra, quỳ lạy khấn vái trước tế đàn phía nam: "Hạo thiên tại thượng, hai đệ tử Cam Đức, Thạch Thân khẩn cầu Thiên Đế, tha thiết mong Người soi tỏ thiên cơ, ngõ hầu răn dạy quốc quân tự mình phấn đấu vươn lên, cứu vớt thương sinh khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng." Vái lạy xong liền đứng dậy, nghiêm cẩn bước lên đài quan tinh. Sở Tuyên Vương vội vã quỳ xuống trước chiếc án tế mà hai người vừa quỳ, lại thành tâm cầu khẩn thêm một hồi: Trời cao ơi hỡi trời cao, Mị Lương Phu hao tiền tốn của thành tâm kính trời, dù sao cũng phải hơn mấy câu nói suông của Tống Cảnh Công chứ, Người phải ban một điềm lành mới phải.

Trên đỉnh đài quan tinh, Cam Đức và Thạch Thân mỗi người hướng về vòm trời sâu thẳm nghiêm trang vái một lạy, nhắm mắt định thần, rồi chợt mở mắt ra, từ từ đảo mắt quét qua dải ngân hà bao la vô tận. Bầu trời đêm rực rỡ yên ắng tường hòa đến lạ kỳ, lấp lánh trong ngần, dường như đang giễu cợt sự đơn sơ và ngu muội của chốn nhân gian. Chừng một canh giờ sau, hai người đồng thời khẽ buột miệng: "Hà——", thân hình thoắt cái xoay vội từ hướng nam sang hướng tây! Đôi tai thính nhạy khác thường của họ đã nghe thấy "tiên âm" văng vẳng mơ hồ từ tận chốn sâu thẳm của dải ngân hà, nhờ vào thiên phú dị bẩm trời ban, họ đã dự cảm được đêm nay sẽ xuất hiện một kỳ quan chấn động cõi đời.

Chỉ trong chốc lát, nơi chân trời phía tây có một luồng sáng chói lòa xé toạc màn đêm, một ngôi sao chổi khổng lồ kéo theo cái đuôi dài thượt, vắt ngang bầu trời phía tây từ bắc xuống nam! Luồng sáng mãnh liệt cùng khí thế kinh hồn quét qua dải ngân hà của nó khiến muôn vạn vì sao cùng ngân hà đều phải lu mờ ảm đạm. Giữa lúc ánh sáng rực rỡ chiếu rọi, tiếng sấm ầm ì rền vang mãi chẳng dứt.

Cam Đức, Thạch Thân chấn động sâu sắc, đứng chôn chân trên đài quan tinh, lặng thinh suốt một hồi lâu.

Đến cuối giờ Dần, hai vị đại sư rốt cuộc cũng bước xuống đài quan tinh. Đại thần tư lễ cùng Giang Ất đại phu cung kính nghênh đón hai vị đại sư vào căn phòng phía đông chuyên dùng cho quốc vương. Sở Tuyên Vương cho lui thị tùng tả hữu, mời hai vị cao sĩ ngồi vào ghế trên, nơm nớp lo sợ khom mình vái sâu một lạy: "Dám hỏi tiên sinh, trời cao rủ điềm tượng thế nào?"

Thạch Thân: "Thiên tượng đêm nay khác thường vô cùng, thiên hạ sắp có biến cố long trời lở đất rồi."

Mắt Sở Tuyên Vương chợt sáng lên, mặt mày mừng rỡ: "Tiên sinh cứ nói thẳng đừng ngại."

Cam Đức: "Sở Vương kính trời, bần đạo chẳng dám giấu giếm. Lúc giữa giờ Sửu, nơi chân trời phía tây bỗng hiện sao chổi, dài ngang cả vòm trời, ánh xanh nhấp nháy, phía sau mơ hồ có tiếng gió rít sấm rền, vắt ngang trời hơn một canh giờ. Kẻ hèn này ngắm sao mấy chục năm, mối thương hải tang điền ẩn chứa bên trong thực sự khó lòng tả xiết."

Sở Tuyên Vương đối với Cam Đức, Thạch Thân có thể nói là ngưỡng vọng như núi cao, cũng từng nghe phong thanh về tính khí của họ: đạm bạc tự kiềm chế, nói năng bộc trực không kiêng dè, trước biến động tai ương của tinh tú xưa nay vẫn điềm nhiên đón nhận. Cớ sao hai người đối với thiên tượng đêm nay lại sợ hãi xúc động đến dường này? Đáy lòng bất giác bồn chồn lo lắng, nhưng cũng có đôi phần kích động: "Ngôi sao chổi mà tiên sinh nói, há chẳng phải là sao chổi quét? Đây là ngôi sao đại họa, Mị Lương Phu có biết đôi phần, song chẳng hay nước nào sắp gặp đại tai đại nạn? Sở quốc có thể thay trời diệt trừ nước ấy, ngõ hầu giương cao chính đạo trời đất chăng?"

Ánh mắt Thạch Thân vô tình lướt qua khuôn mặt phì nộn của Mị Lương Phu, khóe miệng khẽ giật giật, song lại cụp mắt khép mi nói: "Sở Vương chỉ biết một mà chưa biết hai. Người thường cứ ngỡ sao chổi đứng đầu các loài yêu tinh, báo trước đại tai đại ác nơi nhân gian. Thế nhưng trời vận hành có quy luật, trong cái thường có cái biến, người phàm khôn bề dò xét. Ngôi sao chổi này, vào thời kỳ phi thường mà xuất hiện với hình sắc phi thường thì mang hàm ý vô cùng thâm sâu bí hiểm, chẳng phải là tai biến thông thường. Vào lúc đại ác đại hung, sao chổi hiện rõ là điềm trừ cũ lập mới. Vu Hàm từng nói, sao chổi mọc lớn, chủ về việc diệt kẻ bất nghĩa. Năm xưa Chu Vũ Vương phạt Trụ, sao chổi hiện rõ, ứng đúng với điềm này. Án Tử từng nói, trời hiện sao chổi là để quét sạch sự nhơ bẩn của chốn nhân gian. Sao chổi xuất hiện vào thời thái bình thịnh thế thì báo hiệu tai nạn. Song nếu sao chổi xuất hiện lừng lẫy vào thời loạn thế thì trong đại tai nạn sẽ có mầm mống sinh sôi, tân chính sẽ rầm rộ ban bố khắp thiên hạ, cõi đời sẽ có biến đổi dâu bể đổi dời."

Lòng Mị Lương Phu rung động mạnh, Ngô Khởi biến pháp ở Sở quốc há chẳng phải là tân chính sao? Bất giác gật đầu lia lịa: "Tiên sinh nói chí phải, xin phiền giải thích cặn kẽ cho."

Cam Đức nãy giờ vẫn trầm ngâm suy nghĩ, lúc này mới thong thả buông tiếng thở dài: "Đêm nay, sao chổi xé trời hiện rõ dưới cung Thái Bạch phương tây, ắt chủ về phương tây có minh quân cường thần nắm quyền, tân chính đã đắp xong nền móng. Thiên hạ từ đây sẽ nổ ra binh đao bão bùng chấn động tột cùng, rồi sau quét sạch tai ương bốn bể, cõi trần quy về một mối thịnh thế."

Sở Tuyên Vương ngạc nhiên: "'Dưới cung Thái Bạch'! Há chẳng phải là nước Tần sao? Thật không thể tưởng tượng nổi! Bảo là nước nào ông ta cũng tin, duy chỉ có cái nước Tần này làm nên trò trống thì ông ta tuyệt đối không thể tin được. Nước Tần, một lũ man di nơi bờ cõi phía tây bị cả thiên hạ khinh miệt, Mị Lương Phu ngay cả liếc mắt nhìn thẳng cũng chẳng thèm, lại có thể ứng theo chính đạo trời cao mà vùng lên rực rỡ ư? Trong chốc lát, ông ta hoang mang lo sợ, nghi ngờ hai lão tinh tượng gia mắt mờ lẩm cẩm nhìn nhầm sao: "Dám hỏi, tiên sinh, có khi nào nhìn, nhìn nhầm chăng? Quả thực là, dưới cung Thái Bạch sao?"

Cam Đức, Thạch Thân kinh ngạc mở to mắt, đưa mắt nhìn nhau một hồi, rồi chẳng ai bảo ai cùng bật cười lớn.

Sở Tuyên Vương đã bồn chồn đứng phắt dậy: "Đại Sở ta còn bị Trung Nguyên coi là man di. Cái nước Tần kia rõ ràng còn kém xa Sở quốc! Ông trời này huyền hoặc kỳ cục quá thể, bản vương làm sao tin nổi đây?"

"Trời trao quyền bính, chỉ thân với bậc có đức." Cam Đức mỉm cười thản nhiên.

Thạch Thân lại khẽ nhíu mày: "Sở Vương còn có điều chưa biết, Huỳnh Hoặc ảm đạm không tỏ, bồn chồn gấp gáp, treo lơ lửng trên các vì sao. Nước thuộc phân dã ấy phải nên lo sợ mà tự xét mình."

"Sao cơ?" Sở Tuyên Vương lại giật nảy mình: "Huỳnh Hoặc ảm đạm rồi ư? Treo trên các vì sao? Thế chẳng phải sắp tới cảnh Huỳnh Hoặc giữ cung Tâm rồi sao? Trời cao ơi hỡi trời cao, Mị Lương Phu kính Người có thừa, sao Người lại nỡ bạc bẽo đến mức này!"

Thạch Thân: "Huỳnh Hoặc đã ảm đạm từ lâu, chẳng phải điềm triệu riêng đêm nay. Nếu không vì Sở Vương kính trời, vốn dĩ bần đạo chẳng nên nói ra."

"Thiên cơ sâu xa, khôn bề thấu suốt. Hoặc giả bọn ta chưa thể dò tới chốn huyền vi, cũng chưa biết chừng. Lời đã cạn ở đây, mong đại vương tự liệu." Cam Đức vừa nói vừa đứng dậy, chắp tay: "Chúng tôi xin cáo từ."

Thạch Thân cười lớn: "Đúng thế đúng thế, hoặc giả chưa thể dò tới chốn huyền vi vậy. Cáo từ."

Sở Tuyên Vương tâm loạn như vò, phất tay nói: "Giang Ất đại phu, thay bản vương tiễn hai vị tiên sinh. Ban thưởng ngàn vàng." Đợi hai người bước ra khỏi cửa đá, thân hình đồ sộ tựa núi non của Mị Lương Phu chẳng thể chống đỡ nổi nỗi phiền muộn, mệt mỏi cùng sự hụt hẫng trống rỗng, thở phì phò rồi nằm vật ra nền đá lạnh ngắt.

Từ đài quan tinh Kinh Sơn trở xuống, Sở Tuyên Vương nom hệt như mớ rau thu bị sương muối táp, ủ rũ đến mức chẳng buồn hé răng nửa lời. Giang Ất trở về bẩm báo rằng hai vị cao nhân Cam Đức, Thạch Thân đã rời đi, Sở Tuyên Vương mới kinh ngạc đẩy thị nữ đang quạt ra: "Sao lại đi mất rồi? Chẳng phải đã bảo làm Thiên đại phu rồi sao?" Giang Ất cười khổ: "Hai vị cao nhân chẳng màng làm quan, thần thực sự không giữ lại được. Đại vương phải tính kế khác mới xong." "Trời xanh cũng đã tính kế rồi, ta tính sao lại trời?" Sở Tuyên Vương mặt mày ủ dột phất tay: "Giang Ất này, ngươi bảo ông trời sao mà chẳng có chuẩn mực gì cả, cớ sao nước Tần lại sắp vùng lên, bản vương làm sao tin nổi?" Giang Ất nhìn Sở Tuyên Vương nhưng không nói.

"Nói đi chứ, ngươi có tin không?"

"Đại vương, xin dung thứ cho hạ thần nói thẳng." Giang Ất đen đúa thấp bé đứng trước mặt Sở Tuyên Vương trắng béo đẫy đà lại chẳng hề e sợ rụt rè, đôi mắt tinh anh rực sáng trên gương mặt gầy đen nhẻm tỏ ra đặc biệt linh hoạt, chắp tay nói: "Thần trộm nghĩ, thuyết thiên tượng xưa nay hễ tin thì có, không tin thì không. Nếu thiên tượng có lợi cho ta, ta có thể dùng nó để chấn hưng lòng dân. Nếu thiên tượng bất lợi cho ta, ta cứ việc gạt ra ngoài tai. Nho gia Khổng Khâu xưa nay chưa từng bàn tới chuyện quái dị thần linh hỗn loạn, chỉ dốc hết sức người mà thôi. Nếu đại vương quá mực tin theo như thế, há chẳng phụ lòng liệt tổ liệt tông họ Mị sao?"

Sở Tuyên Vương nheo mắt nhìn Giang Ất hồi lâu không nói. Bản thân ông ta vốn cũng chẳng muốn tin vào "thiên cơ" do hai lão già khọm kia tiết lộ, song trong lòng vẫn cảm thấy vô cùng nản lòng thoái chí. Mấy lời này của Giang Ất quả thực hợp với khẩu vị của ông ta, nhưng lại thấy thiêu thiếu điều gì, ngẫm nghĩ một lát rồi hỏi: "Như lời ngươi nói, tiên tổ từng có hành động chống lại ý trời ư?"

"Đúng vậy." Giang Ất tỏ vẻ đã suy nghĩ thấu đáo: "Tiên tổ Trang Vương hỏi đỉnh Trung Nguyên, cất lời chất vấn thiên mệnh, ngược lại làm nên nghiệp bá một thời. Nói xa hơn, Vũ Vương phạt Trụ, lão Khương Thượng dẫm vỡ yếm rùa bói toán trong Thái Miếu, trời nổi sấm chớp gió mưa, lão Khương Thượng lại quát lớn với Vũ Vương rằng thương dân phạt tội, hà tất phải hỏi cái thứ mục nát này? Vũ Vương nghe theo, dấy binh rầm rộ, một mồi lửa diệt sạch nhà Thương. Nói gần hơn, Trịnh Trang Công bắn trời, rốt cuộc thành vị bá chủ đầu tiên thời Xuân Thu. Thần mấy hôm trước ở Tề quốc nghe nói danh sĩ mới nổi của học cung Tắc Hạ là Tuân Huống giữa cuộc luận chiến đã lớn tiếng hô: 'Đạo trời có thường, chẳng vì Kiệt mà còn, chẳng vì Trụ mà mất!' Lời ấy đã làm chấn động Tề quốc rồi. Đại vương hà tất phải vì một ngôi sao chổi cỏn con mà nhụt chí? Nên toan tính diệu kế, dốc hết sức người để chấn hưng Sở quốc mới phải."

"A ha ha ha ha ha! Nói hay lắm!" Sở Tuyên Vương cười vang một tràng, tinh thần bỗng phấn chấn hẳn lên: "Đúng thế đấy, bảo là biến pháp thì đại Sở ta cũng làm trước rồi. Hồi ấy nước Tần còn đang ngủ say kia mà!"

"Đại vương nói chí phải. Tiên tổ Điệu Vương dùng Ngô Khởi biến pháp, uy chấn Trung Nguyên, không ai dám phạm Sở. Đại vương nên chấn hưng lại hùng phong!"

"Được rồi!" Sở Tuyên Vương đẩy hai thị nữ quạt mát ra, thân hình to béo lắc lư đứng dậy, tựa hồ đang từ trên đỉnh đầu nhìn xuống Giang Ất: "Giang Ất, bản vương sắc phong ngươi làm Thượng khanh. Lập tức về phủ chuẩn bị, làm thủ tục nhận quan ấn văn thư. Tối nay vào cung, bản vương muốn giao cho ngươi trọng trách quốc vụ, chấn hưng đại Sở!"

Giang Ất phấn khởi, xúc động vái sâu một lạy: "Thần dẫu gan óc lót đất cũng xin tận trung báo đáp Sở quốc!"

Theo truyền thống, chức Thượng khanh của Sở quốc là đại thần trợ tá phụ chính cho Lệnh doãn (Thừa tướng), chức tước hiển hách. Hiện thời Sở quốc chưa lập Lệnh doãn, do Chấp khuê Cảnh Thụ quyền nhiếp chính. Giang Ất nếu làm Thượng khanh, đương nhiên ắt là đại thần phụ trách chính sự. Nhiều năm qua, Giang Ất phần lớn đi sứ Trung Nguyên, nắm rõ xu thế biến pháp của các nước Chiến Quốc, luôn muốn dâng thư lên Sở Vương để tiến hành cuộc biến pháp lần thứ hai tại Sở quốc, chân chính chấn hưng đất nước. Đáng tiếc thay, Giang Ất luôn chìm ngập trong nỗi bận rộn bôn ba vì hết mưu này đến kế nọ của Sở Vương, chẳng có lấy một lúc rảnh rỗi để nghiêm túc bàn bạc quốc sự với ngài. Lần này nhân lúc Sở Vương hoang mang trước thiên tượng, Giang Ất thẳng thắn can gián, tuy chưa đề cập tới đại kế biến pháp lần hai mà Sở Vương đã thăng ông làm Thượng khanh, há chẳng phải điềm lành to lớn sao? Một khi nhậm chức Thượng khanh, Giang Ất quyết ý lập tức thúc đẩy chủ trương biến pháp lần hai, làm cho Sở quốc hùng mạnh, bản thân cũng trở thành danh thần biến pháp. Suốt dọc đường Giang Ất vô cùng kích động, nghĩ tới việc tối nay làm sao trần thuật với Sở Vương về đại kế biến pháp mà mình ấp ủ bấy lâu, cõi lòng dâng trào sóng cuộn không sao kìm nén nổi. Chợt nhớ tới việc Sở Vương dặn hoàn tất thủ tục quan ấn văn thư, ông ta mới vội vã chạy đến phủ đệ của đại thần phụ trách chính sự Cảnh Thụ, tuyên đọc vương mệnh, nhận đại ấn cùng làm các thủ tục nghi trượng hộ vệ liên quan, rồi lại vội vã quay về phủ. Sở quốc có bốn đại thế tộc: Khuất, Cảnh, Chiêu, Hạng. Cảnh Thụ này chính là tộc trưởng của gia tộc họ Cảnh kiêm đại thần phụ trách chính sự Sở quốc, người cũng khô gầy như Giang Ất, song đã là một lão già râu tóc bạc phơ như tuyết. Thấy dáng vẻ Giang Ất tinh thần phơi phới, rảo bước vội vã, lão ta bất giác lấy làm buồn cười, thong thả châm chọc: "Thượng khanh này, đi đứng cho vững nhé, Sở quốc núi non hiểm trở lắm đấy, cẩn thận kẻo trẹo lưng đấy." Giang Ất nhớ hình như mình đã cười mỉm đáp lại một cách phải phép: "Không phiền Chấp khuê bận tâm, là núi hay là sông, Giang Ất này đều rành rẽ cả." Nào ngờ Cảnh Thụ kia lại lắc đầu cười lớn: "Thật thế sao? Năm xưa Ngô Khởi cũng nói thế đấy, rồi sau ra sao? A ha ha ha ha ha..."

Cõi lòng Giang Ất bất giác chùng xuống một nhịp.

Hơn ba mươi năm trước, Ngô Khởi trốn khỏi Ngụy quốc, Sở Điệu Vương đang lúc mỏi mắt kiếm tìm bậc đại tài, lập tức đón Ngô Khởi về Sở, bái làm Lệnh doãn, nắm trọn đại quyền quân chính, mưu tính thi hành biến pháp. Được sự ủng hộ hết lòng của Sở Điệu Vương, Ngô Khởi bắt đầu sấm truyền chớp giật đẩy mạnh biến pháp tại Sở quốc, ban hành bốn đạo sắc lệnh mới: Thứ nhất, những kẻ thế tập tước lộc đất phong của tổ tiên đã qua ba đời đều bị thu hồi đất phong, bãi truất tước vị. Chỉ riêng việc ban hành đạo pháp lệnh này đã giúp đất cày thuộc quyền trực quản của quốc phủ Sở quốc tăng thêm mấy trăm vạn mẫu, hộ nông nộp thuế tăng thêm mười vạn. Đạo pháp lệnh này chưa động chạm tới các gia tộc đích hệ của bốn đại thế tộc Khuất, Cảnh, Chiêu, Hạng, lại càng chưa động tới các bộ tộc thuộc vương thất, nên tiến triển còn coi là thuận buồm xuôi gió.

Thứ hai, tinh giản quan lại dư thừa. Thế tộc Sở quốc rễ sâu chằng chịt, con em quý tộc ai nấy đều có tước vị, nha lại quan phủ thừa mứa đến sáu bảy phần mười. Những bậc "đại nhân" này suốt ngày nhàn rỗi không việc gì làm, ngoài việc săn bắn, chè chén túy lúy, tụ tập cờ bạc, săn hoa hái cỏ, thì chính là xúm lại soi mói thị phi trong nước, hễ có kẻ mẫn cán làm việc thực tế nào thì từ miệng lưỡi các bậc "đại nhân" này liền tuôn ra vô số lời đồn nhảm nhí khó tin. Chẳng qua bao lâu, người mẫn cán kia chắc chắn phải ngậm tăm rút lui, bằng không đến cả tước lộc cũng chẳng còn. Ngô Khởi nắm quyền, thẳng tay cắt giảm những chức quan nhàn tản ấy, tống khứ hầu hết con em quý tộc về lại các trang viên của họ, biến họ thành "quý tộc áo trắng". Riêng khoản kinh phí dôi dư này đã thừa sức chi trả bổng lộc cho toàn bộ số quan lại được giữ lại! Quan trọng hơn, thói xấu rảnh rỗi sinh nông nổi chốn quan trường phần lớn đã được quét sạch, triều dã Sở quốc lập tức trở nên nghiêm cẩn chỉnh tề.

Thứ ba, minh pháp thẩm lệnh, chấn chỉnh việc trị dân. Bấy giờ sự cai trị của Sở quốc vô cùng hỗn loạn, số huyện trực thuộc quốc phủ rất ít, phần lớn lãnh thổ đều là đất phong thế tập của quý tộc, nhiều thứ dân nô nông đều phụ thuộc vào đất phong của quý tộc, trở thành tá điền tư gia. Lại có một phần lớn vùng đồi núi bồn địa thuộc quyền "tự lĩnh" của các bộ tộc miền núi hoang dã hơn. Pháp lệnh chính lệnh của Sở quốc đối với đất phong cùng đất "tự lĩnh" hầu như chẳng có chút hiệu lực nào. Sở quốc thực chất là một bang quốc liên minh các "chư hầu", trông thì rộng lớn nhưng thực tế sức mạnh có thể tích tụ lại vô cùng nhỏ bé. Đứng trước cục diện hỗn loạn ấy, hành động trọng đại của Ngô Khởi là: Đối với đất phong của các nhánh quý tộc đích hệ được giữ lại, thực thi pháp lệnh tách rời quyền cai trị và quyền thu thuế, quyền trị dân cùng một phần nhỏ thuế khóa thuộc về quan phủ, phần lớn thuế khóa thuộc về quý tộc lãnh chúa. Đó gọi là "minh pháp", quan phủ trị dân, quý tộc hưởng thuế. Đối với các bộ tộc vùng núi tự lĩnh tự trị thì chia sẻ quyền lực với họ: toàn bộ quyền quân sự cùng một nửa thuế khóa thuộc về vương thất quan phủ, quyền cai trị cùng một nửa thuế khóa thuộc về bộ tộc, pháp lệnh cai trị của bộ tộc bắt buộc phải qua sự thẩm tra phê chuẩn của vương thất quan phủ mới được thông hành. Đó gọi là "thẩm lệnh". Một pháp lệnh quan trọng khác là giới hạn quý tộc bắt buộc phải khai khẩn những vùng đất hoang vu không người, hơn nữa phải thu hút di dân vào đó cày cấy! Đó gọi là "lệnh cho kẻ sang lấp chốn hoang vu". Các pháp lệnh trên vừa được mạnh mẽ thi hành, quyền lực của vương thất Sở quốc tăng vọt, thuế khóa tăng vọt, số hộ dân trực quản tăng vọt. Sở quốc trong hơn sáu năm trời ấy thực sự bừng bừng sức sống.

Thứ tư, chấn chỉnh quân chế, huấn luyện tân quân. Thuở ấy, quân chế của Sở quốc chẳng khác mấy so với quân chế nước Tần, đều dừng lại ở truyền thống chiến xa cũ kỹ thời Xuân Thu, sức chiến đấu cực kỳ yếu ớt, ngay cả các bộ tộc Bách Việt ở Lĩnh Nam thường xuyên quấy nhiễu Sở quốc cũng chẳng làm gì nổi. Ngô Khởi vốn là vị thống soái kiệt xuất bách chiến bách thắng, đối với việc chỉnh quân luyện võ thì đúng là tay trong nghề cự phách. Ông dùng toàn bộ thuế khóa thu hồi từ đất phong và phần dôi dư do cắt giảm quan lại thừa thãi để làm kinh phí cho tân quân, chiêu mộ rộng rãi "chiến đấu chi sĩ", trong vòng một năm đã huấn luyện ra một đội tân quân tinh nhuệ gồm tám vạn người!

Năm thứ ba, tân quân luyện xong, quốc lực tăng mạnh, Ngô Khởi bắt đầu các chiến dịch đối ngoại. Giống như ở Ngụy quốc, Ngô Khởi áp dụng mưu lược "trước nội sau ngoại". Bước thứ nhất, Ngô Khởi đích thân thống lĩnh ba vạn bộ binh nhẹ tinh nhuệ tiến vào Lĩnh Nam triển khai chiến tranh sơn địa với các bộ tộc Bách Việt, trong vòng một năm trải qua mười trận đánh lớn nhỏ đều toàn thắng, bình định các bộ tộc Bách Việt, trừ dứt mối họa tâm phúc gây hại lâu dài cho Sở quốc. Bước thứ hai, Ngô Khởi đích thân thống lĩnh bốn vạn tinh binh phối hợp bộ kỵ phát động tấn công bộ tộc Miêu Man chưa thần phục ở vùng núi Thương Ngô (nay thuộc dải Hồ Nam, Quảng Tây), trong vòng nửa năm thu phục toàn bộ bộ tộc Miêu Man. Bước thứ ba, Ngô Khởi thống suất toàn bộ tám vạn tinh nhuệ tân quân vượt sông Hoài lên phía bắc, một trận thôn tính Sái quốc, trận nữa thôn tính Trần quốc, khiến thế lực Sở quốc thoắt cái bành trướng lên mạn bắc Hoài Thủy, nhìn thẳng đối diện sang Hàn quốc và Ngụy quốc! Trước đó, thế lực lãnh thổ Sở quốc luôn co giãn phập phồng ở bờ nam Hoài Thủy, bờ bắc Hoài Thủy trù phú văn minh vốn là phạm vi thế lực truyền thống của Trung Nguyên. Ngô Khởi một hơi tiêu diệt hai nước Trần, Sái, khiến xúc tu của Sở quốc bất thần thọc sâu vào vùng bụng Trung Nguyên, phía cảm thấy bị đe dọa nhất chính là Tam Tấn: ba nước Ngụy, Triệu, Hàn. Thế là Tam Tấn liên binh kịch chiến với đại quân Ngô Khởi ở Hoài Bắc, trải qua hai trận đại chiến, Ngô Khởi đánh tan tác liên quân Tam Tấn, Sở quốc đại thắng! Kể từ đó, Sở quốc mới đứng vững gót chân tại Hoài Bắc.

Thế nhưng, đúng vào thời khắc mấu chốt dường ấy, Sở Điệu Vương làm vua được hai mươi mốt năm bỗng băng hà!

Giang Ất nhớ rất rõ, khi đó Ngô Khởi đang ở Hoài Bắc vỗ về dân chúng địa phương, chưa kịp trở về Dĩnh Đô. Ông hoàn toàn không hay biết gì về âm mưu của thế lực quý tộc Dĩnh Đô. Cho đến khi Ngô Khởi nhận được hung tin, vội vã một thân một mình chạy về Dĩnh Đô chịu tang thì cạm bẫy âm mưu đã bủa vây Ngô Khởi như thiên la địa võng. Thuở ấy Giang Ất hãy còn là một gã sĩ tử trẻ tuổi bị tước bỏ bổng lộc, chỉ có thể đứng tế lễ ngoài vương cung, khi nhìn thấy từng toán gia binh quý tộc vội vã kéo đến, ông kinh hãi mở to mắt, bỗng nảy ra ý nghĩ kỳ quặc, lén lút lách mình vào hàng ngũ tế lễ của quý tộc... Bước vào đại điện, ông phát hiện sau những bức rèm dày nặng nề lại đứng đầy từng hàng từng lớp cung thủ! Các đại thần quý tộc mặc áo gai chịu đại tang cũng đều giấu đoản kiếm ngô câu cong vút trong người! Thi hài Sở Điệu Vương đặt trên chiếc bục gỗ dài lớn giữa đại điện, tế lễ xong xuôi là sẽ nhập liệm vào quan quách. Theo tang lễ Sở quốc, Thái tử Mị Tang ngay ngày phụ vương tạ thế đã buông việc nước để túc trực bên linh cữu, không còn can dự quốc sự. Lúc này Thái tử mặc áo gai đại tang, quỳ trước bục thi hài khóc lóc thảm thiết, hai vương tôn trẻ tuổi đứng hộ vệ sau lưng Thái tử, song ánh mắt lại không ngừng đảo qua đảo lại.

Khúc nhạc tang ai oán nỉ non trỗi lên, các bậc nguyên lão đại thần trong dòng dõi đích hệ vương thất lần lượt tế lễ xong xuôi, lại chỉnh tề quỳ túc trực sau lưng Thái tử chừng hơn một trượng. Theo thứ tự tước vị, tiếp theo là Lệnh doãn Đại tướng quân Ngô Khởi tế lễ, kế đó mới đến các nguyên lão đại thần của bốn đại thế tộc Khuất, Cảnh, Chiêu, Hạng. Ngay khi Ngô Khởi nặng nề chậm rãi bước về phía thi hài Sở Điệu Vương, Giang Ất nghe thấy trong đám quý tộc bỗng vang lên tiếng khóc than già nua chói tai: "Đại vương đi đâu mất rồi ôi——!" Theo tiếng khóc than the thé ấy, hai tên vệ sĩ quý tộc sau lưng Thái tử thoắt cái đỡ lấy Thái tử, quay người chui tọt vào sau bức rèm! Chỉ trong chớp mắt ấy, bức rèm sột soạt kéo ra, tên nhọn của đám cung thủ như mưa rào ào ào trút về phía Ngô Khởi!

Ngô Khởi đang chìm trong đau thương, mắt chỉ nhìn chăm chăm vào thi hài Sở Điệu Vương tiến bước, làm sao ngờ tới biến cố lớn nhường này? Chợt nghe động tĩnh khác thường quay người lại thì đã trúng liền ba mũi tên! Bấy giờ, Giang Ất thấy rõ Ngô Khởi cất tiếng thét lớn: "Sở Vương——! Biến pháp xong rồi——!" rồi lảo đảo xông tới trước thi hài Sở Điệu Vương, ôm chặt lấy thi thể Sở Điệu Vương òa khóc nức nở... Đám quý tộc vốn đã khiếp sợ Ngô Khởi đến cùng cực lúc này hoàn toàn phát cuồng, đồng thanh gào thét: "Bắn chết Ngô Khởi! Bắn chết Ngô Khởi——!" Gia binh quý tộc vốn chẳng phải quân đội xông pha trận mạc chém giết, tài bắn tên tầm thường, lại trong cơn hoảng loạn, một trận bắn loạn xạ dữ dội rốt cuộc đã găm thi hài của Ngô Khởi và Sở Điệu Vương thành hai con nhím, tên nhọn chằng chịt, căn bản không sao tách rời ra được!

Sau cơn đại loạn, tang lễ của Sở Điệu Vương chậm trễ mãi chẳng thể tiến hành. Các thái y mặt mày ủ dột khổ sở xoay xở suốt ba ngày ròng vẫn không tài nào tách rời được thi thể Sở Điệu Vương và Ngô Khởi, nếu muốn tách ra thì phải lăng trì cắt từng nhát dao một! Thái tử Mị Tang đau đớn thấu tâm can, cảm thấy đây là nỗi sỉ nhục tày trời của Sở quốc. Trong cơn phẫn nộ, Mị Tang hạ lệnh truy phong Ngô Khởi làm An Quốc Quân, đem phụ vương hợp táng cùng Ngô Khởi cho xong chuyện. Ba tháng sau, Thái tử tức vị xưng vương, đó chính là Sở Túc Vương. Vừa tức vị, Sở Túc Vương liền bí mật mưu tính, điều tám vạn tân quân tinh nhuệ do Ngô Khởi huấn luyện về lại Dĩnh Đô, một mẻ tóm gọn hơn hai ngàn người thuộc gia tộc của bảy mươi ba nhà đại thần quý tộc tham gia phản loạn, lấy tội danh "hủy hoại thi thể Tiên vương, bội nghịch tác loạn", một hơi xử chém toàn bộ hơn hai ngàn nhân mạng quý tộc!

Đó là cuộc thảm sát quy mô lớn nhất trong lịch sử Sở quốc, Giang Ất nhớ mình từ pháp trường trở về đã nôn mửa đến ba ngày không nuốt nổi cơm. Ông bội phục và ngưỡng mộ Ngô Khởi khôn xiết! Một người trong lúc ngàn cân treo sợi tóc có thể nghĩ ra mưu kế cao diệu dường ấy, rốt cuộc sau khi chết vẫn khiến kẻ thù diệt vong toàn bộ, trí tuệ bực này quả thực khó ai với tới. Phải rồi, Ngô Khởi dẫu sao cũng là viên đại tướng trải trăm trận đánh, bẩm sinh đã có thiên phú ứng phó với những biến cố bất ngờ. Trong cơn nguy khốn liền lập tức hiểu rõ, bản thân tay không tấc sắt, dẫu thoát khỏi làn mưa tên cũng chẳng thoát nổi phục binh truy sát ngoài điện, chắc chắn phải chết không nghi ngờ, điều duy nhất có thể làm là kéo lũ mưu đồ đen tối cùng chôn thây, khiến chúng chết chung với mình, ngõ hầu báo được thù xưa.

Nguyện vọng báo thù của Ngô Khởi đã thành hiện thực. Thế nhưng, biến pháp của Sở quốc lại chết yểu. Kể từ đó, chẳng ai cảm thấy có giông tố bão bùng gì, Sở quốc cứ thế dần dà quay lại con đường cũ lúc nào không hay. Giang Ất nghĩ mãi không thông rốt cuộc Sở quốc đã thụt lùi trở lại bằng cách nào? Sở Túc Vương tính tình thâm trầm, u uất buồn bã làm vua được mười một năm rồi cũng băng hà, đến mụn con trai cũng chẳng có. Đám quý tộc bèn ra sức phò tá người em út của ông là Mị Lương Phu lên làm vua, chính là vị Sở Vương hiện tại. Vị Sở Vương này đầu óc lại thông minh lanh lợi, tức vị ngót nghét hai mươi năm, cái đầu to béo không ngớt nảy ra những ý nghĩ kỳ quái, song thế nước chẳng hề có chút tiến triển, quả thực khiến người ta không sao hiểu nổi. Đơn cử như ba tháng trước, bỗng dưng bắt Giang Ất chẳng tiếc ngàn vàng đi tìm hai bậc cao sĩ tinh tượng Cam Đức và Thạch Thân. Khó khăn lắm mới tìm về được, đã giao hẹn phong người ta làm "Thiên đại phu" phụ chính, nhưng vừa xem tinh tượng không hợp khẩu vị liền chẳng thèm đoái hoài tới hai vị cao sĩ nữa. Khiến Giang Ất phải ra sức dàn xếp mới giữ lại được thể diện cho Sở quốc.

Hôm nay, Sở Vương lại bất thần phấn chấn, sắc phong ông làm Thượng khanh phụ chính, lại còn bảo đêm nay vào cung nghị sự! Giang Ất luôn cảm thấy Sở Vương sắp sửa làm một việc trọng đại, ắt hẳn là muốn trao quyền cho ông phụ trách biến pháp. Thế nhưng, những khúc chiết gập ghềnh trồi sụt khi xưa lại khiến lòng ông bất an khôn xiết, rất sợ Sở Vương lại nghĩ ra một "kỳ kế diệu sách" quái gở nào đó, bắt ông phải bôn ba rong ruổi uổng công vô ích.

Thấp thỏm không yên bận rộn đến khi hoàng hôn buông xuống, Giang Ất vội vã thu xếp vài việc rồi tất tả vào cung.

Sở Tuyên Vương đang nhíu mày híp mắt, phơi thân hình to béo nằm ườn trên chiếc sập gỗ lớn kê sát đất chế tác riêng, lắng nghe mấy ả vũ nữ uốn éo theo điệu múa hỗn độn không tên tuổi. Nghe tiếng xướng báo Giang Ất yết kiến, ông ta bỗng ngồi phắt dậy, khiến hai thị nữ quạt mát sợ đến mức hét toáng một tiếng đánh rơi chiếc quạt lớn. Sở Tuyên Vương giận dữ mắng: "Lũ ngu xuẩn! Lui ra!" Hai thị nữ dập đầu rồi vội vã rảo bước lùi đi. Sở Tuyên Vương phá lệ vẫy tay gọi Giang Ất, cười hề hề vỗ vỗ lên sập gỗ nói: "Thượng khanh, qua đây, ngồi xuống đây." Giang Ất bước tới ngồi xuống bên cạnh Sở Tuyên Vương. Dẫu chiếc sập gỗ này vừa dài vừa rộng, Giang Ất cách Sở Tuyên Vương chừng hai ba thước, song cũng lập tức ngửi thấy mùi mồ hôi nồng nặc bốc lên phả vào mặt, nếu không phải trong lòng đang phấn khích căng thẳng thì thực tình khó lòng chịu nổi.

"Ái chà Thượng khanh, lại gần đây nữa, đây là đại kế mật đàm. Phải, đúng rồi đúng rồi, nghe ta nói..." Giọng Sở Tuyên Vương bỗng trầm hẳn xuống. Càng nghe, lòng Giang Ất lại càng nguội ngắt, chẳng thốt nên lời, chỉ thấy lồng ngực tức tối nghẹn ứ, rồi mềm nhũn ngã gục lên bàn chân to bè của Sở Tuyên Vương...

Ba ngày sau, một đội giáp sĩ vây quanh cỗ xe dao bằng đồng lăn bánh ra khỏi Dĩnh Đô, vị sứ giả đội mũ ngọc ngồi dưới lọng xe sáu thước chính là Giang Ất. Chuyến đi sứ đặc biệt này ông thực sự chẳng muốn đi chút nào, nhưng lại không thể không đi.

Sở Tuyên Vương Mị Lương Phu lại vừa có một kỳ sách trời ban!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.