SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI MORMON.
Đạo Mormon chỉ mới thành lập khoảng bốn mươi năm, nhưng chặng đường lịch sử của giáo hội này từ thuở ban đầu đã đầy rẫy sóng gió và phiêu lưu, và có lẽ sẽ tiếp tục như vậy cho đến tận cùng. Các tín đồ của đạo này từng bị săn lùng và truy đuổi từ đầu này đến đầu kia đất nước, dẫn đến hậu quả là trong suốt nhiều năm, họ căm thù tất cả những kẻ “Ngoại giáo” một cách vô điều kiện và bằng tất cả sức mạnh của mình. Joseph Smith, người tìm ra cuốn Kinh Mặc-môn (Book of Mormon) và là đấng sáng lập tôn giáo ấy, đã bị xua đuổi từ bang này sang bang khác cùng với những tấm đồng kỳ bí và những viên đá thần kỳ mà ông dùng để đọc các ký tự khắc trên đó. Cuối cùng, ông đã thiết lập “giáo hội” của mình ở Ohio và Brigham Young gia nhập đạo. Những người hàng xóm bắt đầu bắt bớ, và làn sóng ly giáo liền khởi sự. Brigham vẫn kiên định với đức tin và làm việc cật lực. Ông chặn đứng sự đào ngũ. Ông còn làm được nhiều hơn thế—ông thu phục thêm nhiều cải đạo giữa muôn vàn khốn đốn. Ông ngày càng chiếm được thiện cảm và lòng kính trọng của các huynh đệ. Ông được phong làm một trong Mười Hai Tông đồ của Giáo hội. Chẳng bao lâu sau, ông tự mở đường vươn lên một chức vị cao hơn và có quyền lực hơn—Chủ tịch của nhóm Mười Hai. Những người hàng xóm nổi dậy trục xuất người Mormon khỏi Ohio, và họ dời đến lập nghiệp ở Missouri. Brigham cùng đi với họ. Người Missouri lại tiếp tục đuổi đánh họ và họ phải rút lui về Nauvoo, Illinois. Họ phồn thịnh tại đó, xây dựng một ngôi đền phảng phất nét kiến trúc duyên dáng và đạt được chút tiếng tăm ở một vùng đất mà nơi đó một tòa án gạch với mái vòm bằng thiếc và một lầu vọng canh đã đủ khiến người ta trầm trồ kính sợ. Thế nhưng, người Mormon lại một lần nữa bị láng giềng quấy nhiễu và bức bách. Mọi tuyên cáo mà Joseph Smith có thể ban hành nhằm lên án chế độ đa thê và bác bỏ nó như một điều hoàn toàn đi ngược lại tinh thần Mormon đều vô ích; cư dân quanh vùng, ở cả hai bờ sông Mississippi, vẫn đinh ninh rằng người Mormon thực hành chế độ đa thê, không chỉ đa thê mà còn đủ mọi thói hư tật xấu trên đời. Brigham trở về từ sứ mệnh ở Anh, nơi ông đã lập nên một tờ báo của người Mormon, mang theo vài trăm người cải đạo theo lời giảng của ông. Ảnh hưởng của ông trong hàng ngũ huynh đệ ngày một lớn sau mỗi bước đi. Cuối cùng, Nauvoo bị ngoại kiều từ Missouri và Illinois tràn vào xâm chiếm, còn Joseph Smith thì bị sát hại. Một tín đồ Mormon tên là Rigdon liền tự xưng lên thay thế Smith nắm giữ chức Chủ tịch giáo hội và chính quyền Mormon, thậm chí còn thử tài dự ngôn vài ba câu. Nhưng xuất hiện một nhân vật còn vĩ đại hơn thế. Brigham chớp lấy thời cơ, chẳng cần dựa vào quyền uy nào ngoài bộ óc xuất chúng, gan dạ và ý chí sắt đá, đã hất cẳng Rigdon khỏi chiếc ghế cao quý để tự mình ngự trị. Ông chưa dừng lại ở đó. Ông giáng một lời nguyền rủa cay độc lên đầu Rigdon cùng các môn đồ của y; ông tuyên bố những “lời tiên tri” của Rigdon chỉ là sản phẩm của quỷ dữ, và kết thúc bằng việc “giao nợ tên tiên tri giả cho Sa-tăng dày vò trong suốt một ngàn năm”—có lẽ là bản án dài nhất từng được tuyên tại Illinois. Người dân nhận ra vị chúa tể của họ. Họ lập tức bầu Brigham Young làm Chủ tịch với một số phiếu áp đảo, và chưa từng lung lay lòng trung thành đối với ông từ ngày đó cho đến tận bây giờ. Brigham có tầm nhìn xa trông rộng—một phẩm chất mà có lẽ chưa từng có nhà lãnh đạo Mormon nổi bật nào khác sở hữu. Ông nhận ra rằng việc di dời đến chốn hoang vu vẫn tốt hơn là bị kẻ khác xua đuổi đi. Theo lệnh của ông, người dân gom góp những tài sản nghèo nàn, quay lưng lại với quê hương, hướng mặt về chốn hoang dã, và vào một đêm tháng Hai buốt giá, họ nối đuôi nhau diễu hành đầy tang thương băng qua dòng sông Mississippi đóng băng, được soi đường bởi ánh lửa bập bùng từ ngôi đền đang cháy rực mà chính tay họ đã châm ngòi chôn vùi những vật thánh bên trong! Vài ngày sau, họ cắm trại ở rìa phía tây bang Iowa, nơi nghèo đói, khát khao, cơ hàn, lạnh giá, bệnh tật, đau thương và sự bức hại đã giáng những đòn chí mạng, khiến nhiều người gục ngã và bỏ mạng—những người tử đạo thực thụ, bất kể họ từng là ai. Nhóm người sót lại trụ lại đó suốt hai năm, trong khi Brigham cùng một nhóm nhỏ băng qua vùng đất hoang để thành lập Thành phố Hồ Salt Lake (Great Salt Lake City), có ý chọn một nơi nằm ngoài quyền sở hữu và tài phán của nước Mỹ đáng ghét. Hãy ghi nhớ điều đó. Đó là năm 1847. Brigham đưa thần dân đến đó và vừa kịp ổn định chỗ ở thì thảm họa lại ập xuống. Cuối cùng thì chiến tranh cũng kết thúc và Mexico nhượng lại chốn dung thân của Brigham cho kẻ thù—Hợp chủng quốc Hoa Kỳ! Năm 1849, người Mormon tổ chức một chính quyền “tự do và độc lập” rồi dựng nên “Bang Deseret,” với Brigham Young đứng đầu. Nhưng ngay năm sau, Quốc hội Mỹ đã thẳng thừng phớt lờ và thành lập “Lãnh thổ Utah” ngay trên vùng đất toàn núi non, cây ngải đắng, kiềm và sự hoang vu tột cùng ấy,—nhưng lại chỉ định Brigham làm Thống đốc. Suốt nhiều năm sau đó, dòng người di cư khổng lồ vượt đồng bằng hướng về California đổ tràn qua vùng đất của người Mormon, thế nhưng giáo hội vẫn kiên định và trung thành với vị lãnh chúa kiêm chủ nhân của họ. Không đói khát, nghèo túng, đau khổ, căm hờn, khinh miệt hay áp bức nào có thể lay chuyển được đức tin và lòng trung kiên của người Mormon; và ngay cả cơn khát vàng đã thu hút biết bao tinh hoa tuổi trẻ và sức mạnh từ nhiều quốc gia cũng chẳng thể cáM dỗ nổi họ! Đó chính là thử thách cuối cùng. Một cuộc thử nghiệm có thể vượt qua được ngần ấy chông gai chắc chắn phải mang trong mình một sức sống mãnh liệt ở đâu đó.
Thành phố Hồ Salt Lake ngày càng phát triển phồn thịnh, và Utah cũng vậy. Một trong những việc cuối cùng mà Brigham Young làm trước khi rời Iowa là xuất hiện trên bục giảng trong trang phục giả dạng vị tiên tri quá cố được tôn sùng Smith, rồi trao quyền kế vị tiên tri, cùng toàn bộ phẩm giá, bổng lộc và quyền lực cho “Chủ tịch Brigham Young!” Người dân chấp nhận trò lừa bịp mang danh tôn giáo ấy với sự hào hứng tột độ, và quyền lực của Brigham từ đó được củng cố vững chắc vĩnh viễn. Chỉ trong vòng năm năm sau, ông đường hoàng đưa chế độ đa thê vào giáo lý của giáo hội dựa trên thẩm quyền của một “khải thị” mà ông phao tin rằng đã được ban cho Joseph Smith từ chín năm trước, mặc dù ai cũng rõ Joseph từng kịch liệt lên án chế độ đa thê cho đến tận ngày ông qua đời.
Giờ đây, Brigham đã trở thành một Andrew Johnson thứ hai với sự khởi đầu nhỏ bé và bước tiến vững chắc trên con đường quyền lực chính trị. Ông lần lượt kinh qua các chức vụ: từ một môn đồ bình thường trong hàng ngũ; nhà truyền giáo trong nước; nhà truyền giáo hải ngoại; chủ bút kiêm nhà xuất bản; Tông đồ; Chủ tịch Hội đồng Tông đồ; Chủ tịch toàn cõi đạo Mormon, cả về mặt thế tục lẫn giáo quyền; người kế nhiệm vị đại Joseph theo ý trời; “tiên tri,” “thầy bói,” “nhà khải thị.” Chỉ còn đúng một bậc danh giá nữa mà ông có thể vươn tới, và ông đã khiêm tốn với tay lấy luôn điều đó—ông tự phong mình là Chúa Trời!
Ông tự xưng rằng mai sau mình sẽ có một thiên đường riêng, rằng ông sẽ là Chúa Trời của chốn ấy, còn các bà vợ cùng con cái ông sẽ là các nữ thần, vương tử và công chúa. Mọi tín đồ Mormon trung thành sẽ được đón vào đó cùng gia đình họ, và sẽ có địa vị cùng tầm vóc tương ứng với số lượng vợ con mà họ có. Nếu một tín đồ qua đời trước khi kịp tích lũy đủ số vợ con để có được một vị thế đáng kính ở thế giới bên kia, bất kỳ người bạn nào cũng có thể cưới thêm vài người vợ và sinh thêm vài đứa con thay cho anh ta sau khi anh ta đã khuất, và những người đó sẽ được ghi công đàng hoàng vào tài khoản của anh ta, nhờ đó địa vị thiên đường của anh ta sẽ được nâng lên tương ứng.
Xin hãy ghi nhớ rằng phần lớn người Mormon từ trước đến nay vốn dốt nát, chất phác, có trình độ nhận thức thấp kém, không hiểu biết gì về thế giới và sự đời; và hãy nhớ rằng những người vợ của họ dĩ nhiên cũng theo khuôn mẫu đó và con cái họ ắt hẳn sẽ là những đại diện phù hợp cho một sự kết hợp như vậy; rồi hãy nhớ rằng trong suốt bốn mươi năm qua, những con người này đã bị xua đuổi, xua đuổi, xua đuổi một cách tàn nhẫn! Bị hành hung, đánh đập, bắn hạ; bị nguyền rủa, khinh miệt, lưu vong; bị đày ải đến chốn hoang mạc hẻo lánh, nơi họ phải lê bước trong đói khát và bệnh tật, phá vỡ sự tĩnh mịch ngàn đời bằng những tiếng khóc than và đánh dấu con đường dài dằng dặc bằng những ngôi mộ của người thân đã khuất—và tất cả chỉ vì họ đơn thuần đang cố gắng sống và thờ phụng Chúa theo con đường mà họ tin tưởng bằng cả trái tim và tâm hồn mình là con đường chân chính. Hãy ghi nhớ tất cả những điều đó, và khi ấy ta sẽ không còn thấy khó hiểu cho căn nguyên của mối hận thù không bao giờ nguôi ngoai mà người Mormon dành cho dân tộc và chính phủ của chúng ta.
Mối hận thù đó vẫn luôn “nuôi dưỡng mối thâm thù từ thuở trước” kể từ khi Utah của người Mormon phát triển thành một vương tước tự cung tự cấp và giáo hội trở nên giàu có, hùng mạnh. Khi làm Thống đốc Lãnh thổ, Brigham đã tuyên bố rõ ràng rằng xứ sở Mormon là dành riêng cho người Mormon. Hoa Kỳ đã cố gắng chấn chỉnh điều đó bằng cách bổ nhiệm các quan chức lãnh thổ đến từ New England và các địa phương chống Mormon khác, nhưng Brigham đã chuẩn bị sẵn sàng để gây khó khăn cho bước chân họ vào lãnh thổ của ông. Ba ngàn binh lính Mỹ đã phải băng qua các đồng bằng để đưa những vị quý ông này nhậm chức. Và khi đã nhậm chức rồi, họ lại bất lực chẳng khác nào những pho tượng đá. Họ ban hành những luật lệ chẳng màng ai tuân thủ và cũng chẳng thể thi hành nổi. Các thẩm phán liên bang mở phiên tòa giữa một vùng đất ngập tràn tội ác và bạo lực, chỉ để ngồi làm trò hề cho đám đông ngạo mạn há hốc mồm nhìn ngó—bởi vì chẳng có gì để xét xử, chẳng có việc gì để làm, chẳng có vụ án nào nằm trong hồ sơ cả! Và nếu một kẻ Ngoại giáo đứng đơn kiện, bồi thẩm đoàn người Mormon sẽ toàn quyền hành xử theo ý thích của họ khi đưa ra phán quyết, và khi phán quyết của tòa được tuyên thì chẳng một người Mormon nào thèm bận tâm và cũng chẳng viên chức nào đủ sức thi hành nó. Các đời Tổng thống của chúng ta đã lần lượt cử hết đoàn quan chức này đến đoàn quan chức khác đến Utah, nhưng kết quả vẫn luôn y một giuộc—họ phải chịu đựng bầu không khí tàn lụi trong một thời gian, ngày ngày phải nuốt chửng những ánh nhìn gầm ghè và lăng mạ, chứng kiến mọi nỗ lực thực hiện nghĩa vụ công vụ của mình đều nhận lại những ánh mắt ngày càng đằng đằng sát khí cùng những lời đe dọa, cảnh báo bí mật với mức độ ngày càng ảm đạm hơn—và cuối cùng, hoặc là họ gục ngã rồi biến thành những công cụ và món đồ chơi bị người Mormon khinh rẻ, hoặc là họ hoảng sợ, chán chường đến mức không thể chịu nổi rồi rời khỏi Lãnh thổ. Nếu có một viên chức dũng cảm kiên trì làm việc cho đến khi chứng minh được bản lĩnh của mình, thì một tên Buchanan hay Pierce dễ dỗ dành nào đó sẽ lập tức bãi nhiệm ông ta và thay vào đó bằng một kẻ bù nhìn. Năm 1857, Tướng Harney suýt chút nữa đã được bổ nhiệm làm Thống đốc Utah. Và vì thế suýt chút nữa chúng ta đã có một Thống đốc Harney và một Thẩm phán Cradlebaugh!—hai con người chưa từng biết sợ là gì, ngoại trừ chút ít khái niệm lờ mờ về sự sợ hãi mà họ có thể rút ra từ trong từ điển. Chỉ tính riêng (nếu không vì lý do nào khác) sự đổi gió mà họ có thể mang lại cho một trang sử có phần đơn điệu về sự luồn cúi và bất lực của Liên bang, thật đáng tiếc làm sao khi họ lại không có duyên cùng nhau nắm giữ chức vụ ở Utah.
Cho đến tận thời điểm chúng ta ghé thăm Utah, lịch sử cai trị tại Lãnh thổ này vẫn diễn ra như vậy. Chính quyền Lãnh thổ được thiết lập ở đó là một thất bại thảm hại, và Brigham Young là thế lực thực sự duy nhất trên mảnh đất này. Ông ta là một vị quân chủ chuyên chế—một vị quân chủ dám thách thức Tổng thống của chúng ta—một vị quân chủ cười trừ trước các đạo quân của chúng ta khi họ đóng trại quanh thủ phủ của ông ta—một vị quân chủ điềm nhiên đón nhận tin tức rằng Quốc hội đáng kính của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã ban hành một đạo luật nghiêm cấm chế độ đa thê, để rồi sau đó bình thản bước đi và cưới thêm hai lăm hoặc ba mươi người vợ nữa.
B. VỤ THẢM SÁT MOUNTAIN MEADOWS.
Những cuộc bức hại mà người Mormon phải chịu đựng trong suốt thời gian dài—và mà họ vẫn coi là mình đang phải gánh chịu khi không được phép tự trị—đã và đang được họ tìm mọi cách trả đĩa. Vụ “thảm sát Mountain Meadows” giờ đây đã gần như chìm vào quên lãng chính là tác phẩm của họ. Vào thời của nó, vụ việc này vô cùng nổi tiếng. Khắp nước Mỹ vang dội những nỗi kinh hoàng từ đó. Vài chi tiết sau đây sẽ giúp độc giả gợi lại ký ức. Một đoàn người di cư lớn đến từ Missouri và Arkansas đã đi qua Thành phố Hồ Salt Lake và một số ít tín đồ Mormon bất mãn đã nhập đoàn để tìm kiếm sự bảo vệ vững chắc cho cuộc trốn chạy của họ. Chính điều đó đã tạo ra nguyên cớ đầy đủ để các thủ lĩnh Mormon tiến hành một cuộc trả thù đẫm máu. Thêm vào đó, một trăm bốn mươi lăm hay một trăm năm mươi người di cư không hoài nghi gì này lại có một phần đến từ Arkansas, nơi một nhà truyền giáo nổi tiếng của phái Mormon vừa bị sát hại trước đó, và một phần đến từ Missouri, bang từng bị phái đoàn các thánh nam nhớ đời với lòng căm phẫn như một kẻ bức bách cay nghiệt khi họ còn ít ỏi, nghèo hèn và không tấc sắt trong tay, thì đây lại là những lý do bổ sung vững chắc cho việc thiếu vắng thiện cảm dành cho những lữ khách qua đường này. Và cuối cùng, đoàn xe này rất giàu có, vô cùng giàu có với gia súc, ngựa, la và nhiều tài sản khác—làm sao người Mormon có thể kiên định duy trì sự tương đồng đáng thèm muốn của họ với các bộ tộc Y-sơ-ra-ên mà lại không cướp đoạt “chiến lợi phẩm” của kẻ thù khi Đức Giê-hô-va đã rõ ràng “phó chúng vào tay họ” cơ chứ?
Vì thế, theo cuốn sách vô cùng thú vị của bà C. V. Waite, “Nhà tiên tri Mormon,” sự việc đã diễn ra như sau:
“Một ‘khải thị’ từ Brigham Young, trong vai trò Đại Trưởng lão hoặc Thượng đế, đã được phái đến chỗ Chủ tịch J. C. Haight, Giám mục Higbee và J. D. Lee (con nuôi của Brigham), ra lệnh cho họ huy động toàn bộ lực lượng có thể tập hợp và tin tưởng được, bám theo lũ Ngoại giáo đáng nguyền rủa đó (lời trong khải thị), tấn công chúng dưới vỏ bọc những người da đỏ, và bằng những mũi tên của Đấng Toàn Năng quét sạch chúng không để lại một ai làm chứng; và nếu cần bất kỳ sự trợ giúp nào, họ được lệnh thuê người da đỏ làm đồng minh, hứa chia cho chúng một phần chiến lợi phẩm. Họ không được phép lười biếng hay chểnh mảng trong nhiệm vụ của mình, và phải đúng hẹn trong việc đưa các cỗ xe ngựa trở về cho ông trước khi mùa đông bắt đầu, bởi đó là mệnh lệnh của Đức Chúa Trời Toàn Năng.”
Mệnh lệnh của “khải thị” đã được tuân thủ tuyệt đối. Một nhóm lớn người Mormon, tô vẽ và trang điểm giả dạng người da đỏ, đã đuổi kịp đoàn xe của những người di cư cách khoảng ba trăm dặm về phía nam Thành phố Hồ Salt Lake, và mở một cuộc tấn công. Nhưng những người di cư đã dựng lên các chiến lũy đất, biến những chiếc xe ngựa thành pháo đài và anh dũng chống trả thành công suốt năm ngày liền! Những quý ông đến từ Missouri hay Arkansas của các vị không hề dễ sợ trước những dạng “người da đỏ” nửa mùa rởm đời mà miền nam Utah bày ra. Họ sẵn sàng đứng lên chiến đấu sòng phẳng với năm trăm tên như thế.
Đến cuối ngày thứ năm, người Mormon bèn giở chiến lược quân sự. Họ rút về phía đầu trên của thung lũng “Meadows,” mặc lại trang phục văn minh, kỳ cọ sạch lớp ngụy trang, rồi mang theo vũ khí đầy đủ, đánh xe ngựa tiến thẳng về phía những người di cư đang bị vây hãm, giương cao lá cờ hòa bình! Khi những người di cư nhìn thấy bóng dáng người da trắng tiến đến, họ liền quăng súng xuống đất và hò reo chào đón nồng nhiệt hết lời! Và chắc chắn là chẳng hề mảy may ý thức được vẻ đẹp thơ mộng đầy bi thảm của khoảnh khắc ấy, họ đã giơ cao một đứa trẻ nhỏ mặc đồ trắng để đáp lại lá cờ hòa bình!
Những kẻ cầm đầu của đoàn “cứu viện” da trắng đúng lúc ấy chính là Chủ tịch Haight và Giám mục John D. Lee thuộc Giáo hội Mormon. Ông Cradlebaugh, người từng đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán Liên bang tại Utah và sau đó được cử vào Quốc hội đại diện cho Nevada, đã kể lại trong một bài phát biểu tại Quốc hội về cách thức mà những kẻ cầm đầu này tiếp tục hành động:
“Chúng giả vờ có quan hệ tốt với người da đỏ, và mô phỏng rằng bọn họ đang vô cùng tức giận. Chúng cũng đề nghị đứng ra làm trung gian hòa giải và dàn xếp ổn thỏa mọi chuyện với người da đỏ. Sau vài giờ điều đình, chúng (có vẻ như) đã đi gặp người da đỏ và mang về tối hậu thư của bọn ác ôn; theo đó, những người di cư phải diễu hành rời khỏi khu cạm trại của họ, để lại tất cả mọi thứ phía sau, kể cả súng ống. Các giám mục Mormon hứa hẹn rằng họ sẽ mang một lực lượng đến hộ tống và bảo vệ những người di cư quay trở lại các khu định cư. Các điều khoản đã được chấp thuận, bởi những người di cư vô cùng khao khát bảo toàn sinh mạng cho gia đình họ. Người Mormon rút lui, rồi sau đó xuất hiện trở lại cùng ba bốn mươi tay súng. Những người di cư được lệnh diễu hành ra ngoài, phụ nữ và trẻ em đi ở phía trước còn đàn ông đi phía sau, lực lượng bảo vệ của người Mormon khóa đuôi ở hậu phương. Khi họ di chuyển theo đội hình đó được khoảng một dặm, theo một tín hiệu cho trước, cuộc tàn sát liền bắt đầu. Đàn ông hầu như bị bắn hạ sạch sẽ ngay loạt đạn đầu tiên từ phía lực lượng bảo vệ. Chỉ có hai kẻ trốn thoát được, tháo chạy vào hoang mạc và bị truy đuổi suốt một trăm năm mươi dặm trước khi bị đuổi kịp rồi tước đoạt sinh mạng. Phụ nữ và trẻ em chạy tháo thân thêm hai ba trăm thước nữa thì bị đuổi kịp, và với sự trợ giúp của người da đỏ, họ cũng bị tàn sát nốt. Chỉ có mười bảy cá nhân trong toàn bộ phái đoàn di cư được tha mạng, và tất cả đều là những đứa trẻ nhỏ, đứa lớn nhất cũng chưa quá bảy tuổi. Cứ như thế, vào ngày 10 tháng 9 năm 1857, một trong những vụ án mạng tàn nhẫn, hèn nhát và đẫm máu nhất từng được ghi nhận trong lịch sử nước ta đã được hoàn tất.”
Số người bị người Mormon tàn sát trong dịp này là một trăm hai mươi người.
Với sự gan lỳ chưa từng thấy, Thẩm phán Cradlebaugh đã mở phiên tòa của mình và tiến hành buộc xứ sở Mormon phải đền tội cho vụ thảm sát ấy. Thật là một cảnh tượng ấn tượng biết bao khi chứng kiến vị lão tướng khắc khổ này, đơn độc giữa niềm kiêu hãnh và sự can trường của mình, trừng trừng nhìn xuống bồi thẩm đoàn và thính giả người Mormon, khi thì chế nhạo họ, khi thì “thốt ra những lời đe dọa cùng chém giết!”
Một bài xã luận trên tờ Territorial Enterprise thời điểm đó đã viết về ông và sự kiện này:
“Ông ấy nói năng và hành động với sự không sợ hãi và quyết đoán của một Jackson; nhưng bồi thẩm đoàn đã từ chối truy tố, thậm chí chẳng thèm đưa ra báo cáo nào về các cáo buộc, trong khi những lời đe dọa bạo lực vang lên ở mọi ngóc ngách, và bóng gió về một cuộc tấn công nhằm vào lực lượng quân đội Hoa Kỳ nếu ông ấy cứ khăng khăng bám theo con đường đó.
Nhận thấy chẳng thể làm gì được đám bồi thẩm đoàn, ông liền giải tán họ kèm theo một lời quở trách cay đắng từ phía tòa án. Và rồi, trong tư cách một thẩm phán sơ thẩm, ông bắt đầu sứ mệnh của mình một mình. Ông thẩm vấn nhân chứng, tiến hành bắt giữ ở khắp mọi nơi, gây ra một sự hoảng loạn trong các trại của các thánh nam lớn chưa từng thấy kể từ khi xứ sở Mormon ra đời. Theo những tin tức mới nhất, các trưởng lão và giám mục hoảng sợ đang phải tháo chạy để giữ lấy cái đầu trên cổ; và những diễn biến vô cùng chấn động đang dần lộ diện, liên đới trực tiếp đến những nhân vật chóp bu của Giáo hội trong hàng loạt vụ án mạng và cướp bóc nhắm vào những kẻ Ngoại giáo suốt tám năm qua.”
Nếu Harney làm Thống đốc, Cradlebaugh đã được hậu thuẫn vững chắc trong công việc của mình, và những bằng chứng không thể chối cãi do ông đưa ra về tội ác của người Mormon trong vụ thảm sát này cùng hàng loạt vụ án mạng trước đó sẽ mang lại những cỗ quan tài miễn phí cho một số công dân nhất định, đi kèm với cơ hội được sử dụng chúng. Nhưng Cumming lại là Thống đốc Liên bang, và dưới một cái cớ giả tạo đầy kỳ quặc về sự vô tư, ông ta đã tìm cách che chở cho người Mormon trước các đòi hỏi của công lý. Thậm chí có lần ông ta còn đi xa đến mức cho đăng tải lời phản đối của mình đối với việc sử dụng quân đội Mỹ hỗ trợ cho các tiến trình tố tụng của Cradlebaugh.
Bà C. V. Waite kết thúc bản tường thuật thú vị của mình về vụ đại thảm sát bằng nhận xét kèm theo phần tóm tắt các lời khai dưới đây—và bản tóm tắt này thật súc tích, chính xác và đáng tin cậy:
“Vì lợi ích của những ai vẫn còn hoài nghi về tội lỗi của Young cùng những kẻ thuộc hạ Mormon trong vụ việc này, các bằng chứng và tình tiết liên quan xin được tập hợp lại tại đây, không chỉ nhằm ám chỉ mà còn đóng đinh tội lỗi lên đầu họ bằng những ‘bằng chứng hùng hồn chẳng khác nào thánh thư:’
1. Lời khai của chính những kẻ thuộc phái Mormon trực tiếp tham gia vào vụ việc, được thể hiện qua các tuyên bố của Thẩm phán Cradlebaugh và Phó Nguyên soái U.S. Rodgers.
2. Việc Brigham Young phớt lờ, không đưa bất kỳ tường thuật nào về vụ việc vào Báo cáo của ông với tư cách là Giám đốc Sự vụ Người da đỏ. Đồng thời là việc ông tuyệt đối không hề đả động gì đến nó từ trên bục giảng cho đến tận vài năm sau khi sự việc xảy ra.
3. Cuộc trốn chạy lên núi của những nhân vật giữ quyền lực tối cao trong Giáo hội và Chính quyền Mormon, khi vụ việc này được đưa ra ánh sáng của một cuộc điều tra tư pháp.
4. Việc tờ Deseret News, cơ quan ngôn luận của Giáo hội và cũng là tờ báo duy nhất được xuất bản tại Lãnh thổ khi đó, đã phớt lờ vụ thảm sát cho đến tận vài tháng sau, và khi nhắc đến thì chỉ để phủ nhận việc người Mormon tham gia vào đó.
5. Lời khai của những đứa trẻ may mắn sống sót sau vụ thảm sát.
6. Những đứa trẻ và tài sản của những người di cư được tìm thấy đang nằm trong tay người Mormon, và quyền sở hữu ấy được truy nguyên ngược lại cho thấy đã xuất hiện ngay vào ngày hôm sau của vụ thảm sát.
7. Lời khai của những người da đỏ ở vùng lân cận hiện trường vụ thảm sát: những lời khai này không chỉ được ghi nhận bởi Cradlebaugh và Rodgers, mà còn bởi một số sĩ quan quân đội, và bởi J. Forney, người từng giữ chức Giám đốc Sự vụ Người da đỏ tại Lãnh thổ vào năm 1859. Những lời khai như vậy đã được người da đỏ tự do và thường xuyên thổ lộ với tất cả những người này.
8. Lời khai của R. P. Campbell, Đại úy Trung đoàn Long kỵ binh số 2, người được cử đến Santa Clara vào mùa xuân năm 1859 nhằm bảo vệ lữ khách trên tuyến đường đi California và điều tra các vụ phá hoại của người da đỏ.”
C. VỀ MỘT VỤ ÁM SÁT KINH HOÀNG CHƯA TỪNG ĐƯỢC HOÀN TẤT
[Nếu trên đời có một con người vô hại, thì đó chính là Conrad Wiegand, ở Gold Hill, Nevada. Nếu có một tâm hồn dịu dàng nào tự tưởng tượng mình là thuốc súng chưa khai hỏa cùng sự tàn phá tiềm ẩn, thì đó chính là Conrad Wiegand. Nếu có một con hàu nào ảo tưởng mình là cá voi; hay một ngọn đèn trời bị nhốt trong đầm lầy lại tưởng mình là một hành tinh có quỹ đạo rộng cả tỷ dặm; hay một làn gió nhẹ mùa hè tự nhận mình là một trận cuồng phong, thì đó chính là Conrad Wiegand. Thế nên, có gì là lạ khi anh ta cất lời thì tưởng rằng cả thế giới đang lắng nghe; khi anh ta làm một việc gì đó thì thiên hạ phải đứng trân trân ngắm nhìn; và khi anh ta chịu đựng đau khổ thì tự nhiên sẽ xảy ra một trận cuồng phong địa chấn? Khi tôi gặp Conrad, anh ta đang giữ chức “Giám đốc Văn phòng Định giá Gold Hill”—và anh ta không chỉ là Giám đốc, mà còn là toàn bộ nhân sự của cái văn phòng ấy. Hơn nữa, anh ta cũng là một kẻ đi rao giảng đường phố, với một thứ tôn giáo pha tạp do chính anh ta tự nghĩ ra nhằm mục đích tái sinh vũ trụ. Đó là chuyện của nhiều năm về trước. Gần đây, anh ta dấn thân vào làng báo chí; và con đường báo chí của anh ta đúng như người ta có thể đoán trước: to tát ở cái tiếng nhưng tí hon ở cái tầm. Đó là sự khoa trương phóng đại thái quá bị kìm hãm trong một tờ báo có kích thước cỡ một tờ giấy viết thư đôi. Chắc hẳn anh ta tự mình biên tập, sắp chữ và in ấn tờ báo ấy, thế nhưng anh ta rất thích khoe khoang về cơ nghiệp của mình như thể nó chiếm trọn một dãy phố và thuê mướn tới một ngàn nhân công.
[Cách đây chưa đầy hai năm, Conrad đã không nương tay công kích xối xả một số người trên tờ “People’s Tribune” nhỏ bé của mình, và tự rước họa vào thân. Ngay lập tức, anh ta đem vụ việc lên bêu rếu trên tờ “Territorial Enterprise,” thông qua một bức thư mang chính chữ ký của mình, và tôi dự định sẽ tái hiện lại nó ở đây, với tất cả sự mộc mạc nguyên bản cùng sự thành thật vượt ngưỡng con người của nó. Dù dài dòng, nhưng nó rất đáng đọc, bởi đây có lẽ là mẫu văn chương báo chí đặc sắc nhất mà lịch sử nước Mỹ từng sản sinh:]
Trích từ tờ Territorial Enterprise, ngày 20 tháng 1 năm 1870.
ÂM MƯU ÁM SÁT RAU MÙI ĐÃ BỊ SẢY CHÂN.
GỬI TỔNG BIÊN TẬP TỜ ENTERPRISE: Cách đây nhiều tháng, khi ông Sutro vô tình phơi bày cách quản lý mỏ trên vùng Comstock, và trong số những người khác đã khơi dậy sự phẫn nộ trong tôi để phản đối việc tiếp tục tình trạng đó, ông đã rất tử tế cảnh báo tôi rằng bất kỳ nỗ lực nào thông qua các ấn phẩm, các cuộc họp công khai và hành động lập pháp nhằm mục đích chấn chỉnh những tệ nạn khai mỏ mãn tính ở Hạt Storey, chắc chắn sẽ giáng xuống đầu tôi (a) sự phá sản trong kinh doanh, (b) gánh nặng toàn bộ chi phí, (c) bạo lực cá nhân, và nếu tôi vẫn ngoan cố theo đuổi mục đích của mình thì sẽ là (d) ám sát, và suy cho cùng thì chẳng có gì được giải quyết cả.
LỜI TIÊN TRI CỦA ÔNG ĐANG DẦN ỨNG NGHIỆM. Ít nhất thì phần lớn những lời tiên tri của ông đã trở thành hiện thực, bởi vì (a) công việc định giá, vốn từng rất đắt khách tại Văn phòng Định giá Gold Hill (nơi tôi làm giám đốc), nay do các bài báo của tôi đã bị chuyển đi nơi khác, theo lời đảm bảo của Chủ tịch một trong các công ty. Không một lý do nào được đưa ra, các công việc khác cũng bị tước đoạt nốt. Ngoại trừ một hoặc hai trường hợp ngoại lệ quan trọng, công việc định giá của chúng tôi giờ đây chỉ đơn thuần là lượm lặt những thứ vụn vặt quanh vùng. (b) Mặc dù các khoản đóng góp cá nhân của chính tôi cho Hiệp hội Báo People’s Tribune đã vượt quá 1.500 đô la, thế nhưng ngoài các thành viên trong hội ra, chúng tôi chỉ nhận được (bằng tiền mặt) chưa đầy 300 đô la tiền đóng góp và đặt mua cho tờ báo. (c) Vào thứ Năm tuần trước, ngay trên con phố chính ở Gold Hill, gần buổi trưa, chẳng có lấy một lời cảnh báo hay lý do nào được đưa ra, tôi đã bị một cú đấm uy lực hạ gục xuống đất, và khi tôi đang nằm dưới, tôi còn bị đá bởi một kẻ dường như đã bị nhồi sọ tin rằng tôi từng nói xấu hắn. Kẻ nào đã xúi giục hắn tin như vậy thì đến nay tôi vẫn chưa thể nói rõ được. Vào thứ Bảy tuần trước, tôi lại một lần nữa bị tấn công và hành hung bởi một kẻ đã chủ động thông báo cho tôi lý do tại sao hắn làm vậy, và kẻ đó vẫn cố tình giáng đòn ngay cả sau khi những ấn tượng sai lầm mà hắn ban đầu mắc phải đã được chỉ ra một cách rõ ràng và nhiều lần. Chính kẻ này, sau khi dùng chiêu trò đe dọa không moi được từ miệng tôi tên của những cộng tác viên viết bài—điều mà hắn thừa biết tôi đã thề giữ kín—đã đánh đến mức mệt nhoài lên người tôi bằng một dải da bò, trong khi tôi hoàn toàn không chống cự, rồi thở hồng hộc đe dọa sẽ hủy dung vĩnh viễn tôi bằng những thương tích trầm trọng nếu tôi còn dám nhắc đến tên hắn trên mặt báo, thế mà chỉ vài phút trước khi lao vào tấn công tôi, hắn còn quả quyết rằng lý do duy nhất tôi được “phép” lết về nhà còn sống vào tối thứ Tư tuần trước (thời điểm tờ PEOPLE’S TRIBUNE được phát hành) là vì hắn cho rằng tôi chỉ là một kẻ nửa dở nửa tỉnh, thế mà hãy nhớ lấy điều đó, ngay sáng hôm sau tôi lại bị đánh gục và đá bởi một kẻ dường như đã chuẩn bị sẵn sàng để tẩu thoát. [Hắn thấy tai họa đang đến gần:]
BAO GIỜ VÒNG TRÒN MỚI KHÉP LẠI? Tôi không thể nói trước bao lâu nữa thì toàn bộ lời tiên tri của ông mới ứng nghiệm hoàn toàn, nhưng dưới cái bóng của chừng ấy sự ứng nghiệm trong một thời gian quá ngắn, cùng những lời đe dọa từ một kẻ vốn là một trong những đại diện nổi bật nhất của tập đoàn khai mỏ San Francisco cứ trơ trẽn chường ra trước mắt tôi lẫn toàn thể cộng đồng này và chỉ tay về phía sự hoàn thành lời tiên tri của ông, thử hỏi tôi có đáng bị trách cứ khi cảm thấy bức thư này sẽ là bài viết cuối cùng tôi từng viết cho Báo chí hay không, nhất là khi ý thức về lòng tự trọng cá nhân, về trách nhiệm đối với cộng đồng đang bị đồng tiền áp bức và nỗi sợ hãi bao trùm này, cùng lòng trung thành kiểu Mỹ đối với tinh thần Tự do đích thực đều đang ra lệnh cho tôi, và mỗi tiếng thét của chúng còn vang dội hơn cả tình yêu với sự sống, buộc tôi phải công khai danh tính của nhân vật cộm cán đó chính là JOHN B. WINTERS, Chủ tịch Công ty Yellow Jacket, một kẻ đầy tham vọng chính trị và là một vị Tướng quân đội? Danh tính kẻ tòng phạm và đồng lõa bị lừa phỉnh một phần của hắn trong vụ tấn công kỳ lạ vừa rồi không ai khác chính là PHILIP LYNCH, Chủ bút kiêm Chủ sở hữu tờ Gold Hill News.
Bất chấp sự lăng mạ và bất công mà John B. Winters đã giáng lên đầu tôi vào chiều thứ Bảy, mà tôi chỉ có thể kể lại một góc nhỏ cho độc giả của ông nghe, nhưng vì tôi quá đỗi xót xa khi phải khép chặt (bằng cách công khai) một sai lầm nghiêm trọng của bất kỳ ai, dù là nam hay nữ, được thực hiện trong cơn phẫn nộ tự nhiên chứ không phải do tự mình chuốc lấy, xét đến sự kích động tột độ của hắn ta vào thời điểm đó và xét đến tính chất gần như hoàn toàn riêng tư của vụ tấn công, tôi hoàn toàn không chắc rằng mình đáng lẽ không nên chừa cho hắn một khoảng không gian để hối cải trước khi vạch mặt hắn, nếu như chính bản thân hắn không tự phơi bày mọi chuyện ra ánh sáng khiến nó trở thành chủ đề bàn tán khắp thị trấn rằng hắn đã quất roi ngựa lên người tôi. Khi sự thật đó đã bị phơi bày công khai, toàn bộ các chi tiết liên quan cũng cần phải được hé lộ, bằng không sự im lặng từ phía tôi sẽ trở nên kỳ lạ hơn mức bình thường, và trong mắt nhiều người, nó sẽ trở thành bằng chứng chứng minh hoặc là tôi có ý đồ bất chính nào đó khi cho đăng bài báo, hoặc là những nguyên tắc “bất bạo động” của tôi chẳng qua chỉ là một chiếc áo choàng thuận tiện che đậy sự hèn nhát cả về thể xác lẫn đạo đức. Do đó, tôi sẽ cố gắng phác họa một bức tranh sinh động nhưng chân thực về toàn bộ vụ việc này, nhưng sẽ kiềm chế không đưa ra bất kỳ bình luận nào, với phỏng đoán rằng các biên tập viên của tờ báo chúng ta, nếu những người khác không làm, sẽ lên tiếng một cách tự do và thỏa đáng về chủ đề này trong số báo tiếp theo của chúng ta, dù lúc đó tôi đã chết hay vẫn còn sống, bởi cái chết của tôi sẽ không thể ngăn chặn, dù có thể làm chậm lại, việc xuất bản tờ PEOPLE’S TRIBUNE. [Kẻ “bất bạo động” vẫn giữ vững nguyên tắc, nhưng dắt theo một hoặc hai người bạn có máu mặt thuận tiện nào đó:]
CÁC CẠM BẪY ĐÃ ĐƯỢC GIĂNG SẴN. Vào sáng thứ Bảy, John B. Winters đã gửi lời nhắn trực tiếp tới Văn phòng Định giá Gold Hill rằng hắn muốn gặp tôi tại văn phòng của công ty Yellow Jacket. Dù một yêu cầu như vậy nghe có vẻ vô cùng trơ trẽn xét trên những hành vi thiếu lịch sự gần đây của hắn đối với tôi ở đó, vừa với tư cách là một nhà xuất bản vừa là một cổ đông trong mỏ Yellow Jacket, và dù nó mang màu sắc của một trát đòi hầu tòa nhiều hơn là một yêu cầu lịch sự của một quý ông này dành cho quý ông khác để xin một ân huệ, nhưng với hy vọng rằng một cuộc hội đàm nào đó với Sharon nhằm cải thiện các vấn đề khai mỏ ở Nevada có thể nảy sinh từ đó, tôi vẫn vô cùng nghiêng về phía việc bỏ qua điều mà rất có thể chỉ là một sự sơ suất về phép lịch sự. Nhưng vì lúc đó mới chỉ vỏn vẹn hai ngày kể từ khi tôi bị thâm tím và đánh đập dưới một nhận thức vội vàng và sai lầm về các sự kiện, sự thận trọng trong tôi phần nào trỗi dậy. Hơn nữa, tôi vẫn nhớ như in thái độ khinh miệt của hắn đối với tôi trong buổi gặp mặt lần cuối tại văn phòng của hắn. Do đó, tôi thấy cần thiết, nếu có đi đi chăng nữa, thì phải đi cùng một người bạn mà hắn không dám đối xử bất lịch sự, và sự hiện diện của người đó đi cùng tôi có thể đảm bảo tôi được miễn nhiễm với những lời lăng mạ. Theo đó, tôi đã nhờ một người hàng xóm đi cùng mình.
CẠM BẪY SUÝT BỊ PHÁT HIỆN. Mặc dù lúc đó tôi chưa hay biết điều này, nhưng có vẻ như trước khi tôi đưa ra lời thỉnh cầu, chính người hàng xóm này đã nghe Tiến sĩ Zabriskie tuyên bố công khai trong một tửu quán rằng ông Winters từng nói với ông ta rằng hắn đã quyết định hoặc là sẽ giết hoặc là sẽ quất roi ngựa tôi, nhưng chưa chốt hạ là sẽ chọn phương án nào. Do đó, người hàng xóm của tôi cảm thấy không đành lòng đi cùng tôi xuống dưới đó nếu chưa trực tiếp gặp riêng ông Winters trước. Vì vậy, anh ta đã đến thăm hắn. Sau cuộc gặp đó, anh ta đảm bảo với tôi rằng anh ta thu nhận được ấn tượng rằng anh ta không tin tôi sẽ gặp bất kỳ rắc rối nào với ông Winters, và rằng chính hắn (Winters) sẽ ghé qua văn phòng của tôi vào lúc bốn giờ.
NHỮNG BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA CỦA RIÊNG TÔI. Vì Cảnh sát trưởng Cummings có mặt ở Gold Hill vào chiều hôm đó, và vì tôi muốn trò chuyện với ông ấy về vụ tấn công trước đó, tôi đã mời ông ấy ghé văn phòng của mình, và ông ấy đã đến. Mặc dù đã quá bốn giờ nửa tiếng đồng hồ, ông Winters vẫn chưa ghé, và cả hai chúng tôi bắt đầu chuẩn bị ra về. Đúng lúc đó, Philip Lynch, Chủ sở hữu tờ Gold Hill News, bước vào và cất tiếng một cách ngọt ngào, vui vẻ như thể đang mang tin vui đến:
“Này, John B. Winters muốn gặp anh đấy.”
Tôi đáp lại, “Thế ư! Sao hắn lại nhắn tin với tôi là sẽ ghé văn phòng tôi vào lúc bốn giờ chiều nay cơ mà!”
“Ồ, chà, lúc này thì không cần phải câu nệ khách sáo quá đâu, hắn đang ở văn phòng tôi, và ở đó cũng tiện thôi—đi sang đó đi, Winters muốn bàn bạc riêng với anh đấy. Hắn có chuyện muốn nói với anh.”
Dù có chút hơi bất an trước sự thay đổi đột ngột trong kế hoạch này, nhưng với niềm tin rằng ở văn phòng của một chủ bút thì mình phải được an toàn, và dù sao đi nữa thì mình vẫn nằm trong tầm với của tiếng hô ra ngoài đường phố, tôi vội vã thầm thì một cách mơ hồ những lo lắng của mình với ông Cummings, đồng thời hỏi xem ông ấy có thể đứng ở cự ly đủ gần để nghe thấy tiếng tôi trong trường hợp tôi cất tiếng gọi hay không. Ông ấy đồng ý sẽ làm thế trong lúc chờ đợi một số vị khách khác, và sẽ bước vào nếu nghe thấy tiếng tôi hoặc nghĩ rằng tôi đang cần được bảo vệ.
Khi đến khu vực biên tập của tòa soạn News, nơi nhìn từ ngoài đường vào thì tối thui, tôi không thấy ông Winters đâu, và những mối nghi ngờ của tôi lại dâng lên. Giá như tôi dừng lại đủ lâu để suy xét tình hình, tôi đã mời Cảnh sát trưởng Cummings đi cùng vào trong, nhưng khi Lynch bước xuống cầu thang, hắn ta nói: “Lối này, Wiegand—tốt nhất là nên kín đáo,” hoặc một câu nói mang đại ý tương tự.
[Tôi không muốn làm căng thẳng trí tưởng tượng của độc giả một cách tổn hại, thế nhưng sẽ là một ân huệ lớn cho tôi nếu ngài ấy thử tưởng tượng ra hình ảnh con chiên này bước vào trận chiến, trên bãi đấu súng hoặc đứng đầu một ủy ban trị an—M. T.:]
Tôi bước theo, mà không có ông Cummings bên cạnh, cũng chẳng có vũ khí trong tay—thứ mà tôi không bao giờ và sẽ không bao giờ mang theo, trừ khi với tư cách là một người lính trong chiến tranh, hoặc nếu mai này tôi buộc phải cảm thấy mình phải đấu tay đôi, hay tham gia và hỗ trợ trong hàng ngũ của một Ủy ban Trị an cần thiết nào đó. Nhưng bằng hành động bước theo ấy, tôi đã phạm phải một sai lầm chết người. Đi theo đồng nghĩa với việc bước vào một chiếc bẫy, và bất kỳ con vật nào dại dột để sập bẫy đều phải chuẩn bị tinh thần đón nhận số phận chung của một con chuột trong lồng, như tôi e rằng những sự kiện sắp tới sẽ chứng minh.
Cạm bẫy vốn dĩ chẳng bao giờ được giăng ra vì lòng nhân đạo. [Cận vệ của anh ta bị nhốt bên ngoài:]
CẠM BẪY BÊN TRONG. Tôi đi theo Lynch xuống dưới tầng. Ngay chân cầu thang, một cánh cửa bên trái mở ra một căn phòng nhỏ. Từ căn phòng đó, một cánh cửa nữa lại dẫn vào một căn phòng khác, và một khi đã bước vào, tôi nhận ra mình đã bị dụ dỗ lừa phỉnh vào thứ mà từ nay về sau nhiều người sẽ mãi coi là một cái hang ngầm bí mật ở Gold Hill, cực kỳ thích hợp trong tay những kẻ thích hợp cho các mục đích sát nhân, dù là lộ thiên hay ngụy trang, bởi vì từ đó, với cả hai hoặc thậm chí chỉ một cánh cửa khép lại, khi mọi chuyện đã quá muộn, tôi nhận ra mình không thể được nghe thấy bởi Cảnh sát trưởng Cummings, và từ đó, BẰNG BẠO LỰC VÀ VŨ LỰC, tôi đã bị ngăn cản không cho bước ra ngoài một cách ôn hòa, khi tôi nhận ra mục đích có tính toán của “cuộc bàn bạc” này không gì khác ngoài việc nhắm đến việc tước đoạt sinh mạng tôi, ngay trước mặt Philip Lynch trong vai trò nhân chứng, ngay khi một kẻ vốn nổi tiếng dễ nổi nóng bị khiêu khích đến mức lao vào tấn công ông Winters, để rồi ông Lynch, bằng lương tâm và sự dịu dàng vốn có đối với tầng lớp giàu có và quyền thế, sẽ bị buộc phải làm chứng rằng ông ta đã tận mắt chứng kiến Tướng John B. Winters tiêu diệt Conrad Wiegand trong tình trạng “tự vệ chính đáng.” Nhưng tôi đang đi quá đà rồi.
CHỦ NHÀ CỦA CHÚNG TA. Ông Lynch có mặt trong suốt phần lớn thời gian (giả sử là hơi kém một tiếng đồng hồ), nhưng có ba lần ông ta rời khỏi phòng. Do đó, lời khai của ông ta sẽ chỉ có giá trị đối với phần lớn những gì đã diễn ra. Khi bước vào cái hang được trải thảm này, tôi được mời ngồi vào một chiếc ghế gần một góc phòng. Ông Lynch chọn một vị trí ngồi gần cửa sổ. J. B. Winters ngồi (ban đầu) gần cửa ra vào, và bắt đầu những lời phát biểu của mình đại ý như sau:
“Ta đến đây để đòi ở ngươi một bản cải chính, rành mạch trắng đen rõ ràng, về những cáo buộc sai lệch chết tiệt mà ngươi đã gieo rắc chống lại ta trong cái tờ báo bẩn thỉu rác rưởi đê tiện của ngươi, và ngươi phải tự nhận mình là tác giả của chúng, rằng ngươi đã đăng tải chúng dẫu thừa biết chúng là sai sự thật, và rằng động cơ của ngươi mang đầy tính ác ý.”
“Khoan đã, ông Winters. Ngôn từ của ông mang tính lăng mạ và đòi hỏi của ông thật quá quắt. Tôi tin rằng mình không được mời đến đây để bị lăng mạ hay ép buộc. Tôi tưởng mình có mặt ở đây theo lời mời của ông Lynch, theo yêu cầu của chính ông.”
“Và ta cũng đâu có đến đây để lăng mạ ngươi. Ta đã nói với ngươi rồi, ta có mặt ở đây vì một mục đích hoàn toàn khác.”
“Thế nhưng ngôn từ của ông vừa rồi rất khó nghe, và ngay lúc này đây nó vẫn đang thể hiện sự kích động mạnh mẽ. Nếu những lời lăng mạ còn lặp lại, tôi sẽ hoặc rời khỏi phòng hoặc gọi Cảnh sát trưởng Cummings, người mà tôi vừa để đứng chờ tôi bên ngoài cánh cửa kia.”
“Không, ngươi sẽ không làm thế đâu, đồ khốn. Ngươi tốt nhất nên hiểu điều đó ngay và luôn đi cho rồi. Ở đây ngươi là con mồi của ta, và ta sẽ cho ngươi biết lý do tại sao! Nhiều tháng trước, ngươi đã tẩu tán tài sản của mình đi nơi khác, huênh hoang rằng làm thế để tránh bị mất trắng vì các vụ kiện phỉ báng.”
“Đúng là tôi đã chuyển đổi toàn bộ tài sản cố định của mình thành tài sản động sản, những thứ tôi có thể yên tâm giao phó cho người khác, và chủ yếu là để thoát khỏi sự phá sản từ các vụ kiện phỉ báng có thể xảy ra.”
“Rất tốt, thưa ngài. Một khi đã tự đẩy mình ra khỏi vòng pháp luật, thì xin Chúa phù hộ cho linh hồn ngươi nếu ngươi KHÔNG chịu đưa ra chính xác một bản cải chính như những gì ta đã đòi hỏi. Giờ thì ta tóm được ngươi rồi, và thề có—trước khi ngươi bước ra khỏi căn phòng này, ngươi sẽ phải tự tay viết và ký chính xác bản cải chính mà ta đã đòi hỏi, và trước khi ngươi đi, dù thế nào đi nữa—ngươi cái đồ—đê tiện—nói dối —, ta sẽ dạy cho ngươi biết thế nào là trách nhiệm cá nhân nằm ngoài vòng pháp luật; và, thề có—, Cảnh sát trưởng Cummings cùng tất cả những kẻ gọi là bạn bè của ngươi trên cõi đời này gộp lại, cũng chẳng thể cứu nổi ngươi đâu, cái đồ—, v.v.! Không, ngài ạ. Giờ thì ta chỉ có một mình, và ta thà bị bắn hạ ngay tại đây và ngay lúc này còn hơn là bị ngươi bôi nhọ như những gì đã làm, rồi để ngươi nhởn nhơ thoát thân sau khi đã cho đăng tải những cáo buộc đó, không chỉ ở nơi ta được mọi người biết đến và kính trọng rộng rãi, mà còn ở những nơi ta không được biết đến và có thể bị tổn hại.”
Tôi thú nhận rằng bài phát biểu này, đi kèm với lời đe dọa tột cùng rõ mồn một về việc sẽ tước đoạt sinh mạng tôi nếu tôi không chịu ký vào tờ giấy mà hắn đòi hỏi, đã khiến tôi hoảng sợ, đặc biệt khi tôi thấy hắn đang tự kích động bản thân lên đến đỉnh điểm của cơn phẫn nộ, và bản năng mách bảo tôi rằng bất kỳ câu trả lời nào khác ngoài thái độ ra chiều nhượng bộ trước các yêu cầu của hắn sẽ chỉ là đổ thêm dầu vào ngọn lửa đang bùng cháy dữ dội, thế nên tôi đáp lại:
“Chà, nếu tôi bắt buộc phải ký—,” và rồi tôi ngưng lại một lát. Lên tiếng trở lại, tôi nói tiếp, “Nhưng, ông Winters, ông đang quá kích động. Hơn nữa, tôi thấy ông đang vướng vào một sự hiểu lầm hoàn toàn. Trách nhiệm của ông lúc này không phải là thổi bùng mà là tự bình tĩnh lại. Tôi sẵn sàng cho ông thấy, nếu ông chịu chỉ ra bài viết mà ông đang ám chỉ, rằng những gì ông coi là ‘cáo buộc’ thực chất chẳng có một bộ óc bình tĩnh và logic nào có quyền coi là như vậy cả. Hãy chỉ cho tôi những cáo buộc đó, và dẫu sao tôi cũng sẽ cố gắng; và nếu trở nên rõ ràng rằng không có cáo buộc nào được đưa ra, thì hiển nhiên sẽ chẳng có gì để mà cải chính cả, và chẳng ai có thể đường đường chính chính thúc ép ông đòi cải chính được. Ông nên cẩn trọng để không vướng vào một sai lầm trầm trọng như vậy, bởi dẫu một người có trung thực đến đâu đi nữa, ai nấy cũng đều dễ bề hiểu lầm. Hơn thế nữa, ông đang mặc định rằng tôi là tác giả của một bài viết cụ thể nào đó mà ông vẫn chưa hề chỉ ra. Làm vậy là vội vàng đấy.”
Hắn liền chỉ tay vào một số đoạn văn được đánh số trong một bài báo trên tờ TRIBUNE, mang tiêu đề “Chuyện gì xảy ra với Yellow Jacket vậy?” và nói “Đó là cái mà tôi đang ám chỉ.”
Để kéo dài thời gian suy ngẫm và đưa ra quyết định chung, tôi cầm tờ báo lên và đọc lướt qua một lúc, còn hắn giữ im lặng và hy vọng là đang bình tĩnh lại. Tôi bồi hồi tiếp lời, “Đúng như tôi dự đoán. Tôi không thừa nhận mình đã viết bài báo đó, và ông cũng chẳng có quyền gì để mặc định một điểm quan trọng nhường ấy, rồi dựa trên phỏng đoán đó để tiến hành những hành động hệ trọng. Sau này ông sẽ phải hối hận sâu sắc đấy. Trong bài Phát biểu gửi Toàn thể Quốc dân đã được công bố của mình, tôi đã thông báo cho thiên hạ biết rằng bất kỳ thông tin nào về tác giả của bất kỳ bài viết nào cũng sẽ không được tiết lộ nếu không có sự đồng thuận từ chính tác giả đó. Do đó, tôi không thể đường hoàng nói cho ông biết ai đã viết bài báo đó, và ông cũng chẳng thể đòi hỏi điều đó.”
“Nếu ngươi không phải là tác giả, vậy thì ta yêu cầu phải biết ai là tác giả!”
“Tôi buộc phải từ chối trả lời.”
“Vậy thì, thề có—, ta đóng mác ngươi là tác giả của nó, và sẽ đối xử với ngươi tương ứng.”
“Gác lại điểm đó sang một bên, sự hiểu lầm quan trọng nhất mà tôi nhận thấy là việc ông coi chúng là những ‘cáo buộc’, trong khi phần ngữ cảnh đi kèm của chúng, ở cả phần mở đầu lẫn phần kết thúc, đều chứng minh rằng chúng không phải như vậy. Những từ ngữ này mở đầu cho chúng: ‘Một cuộc điều tra như vậy [vừa mới được chỉ ra trước đó], chúng tôi nghĩ CÓ THỂ dẫn đến việc phơi bày một số điểm sau đây.’ Tiếp theo là mười một điều khoản chi tiết, và đoạn văn tiếp theo cho thấy cuộc điều tra được đề xuất đó ‘có thể GIẢI OAN cho những kẻ vốn đang bị tin là có tội.’ Như vậy, ông thấy đấy, ngữ cảnh đã chứng minh chúng không hề được đưa ra dưới dạng các cáo buộc, và điều này hình như ông đã bỏ sót.”
Trong lúc tôi đưa ra những lời bình phẩm đó, ông Winters liên tục ngắt lời tôi theo kiểu khiến tôi đinh ninh rằng hắn đã hạ quyết tâm không thèm cân nhắc một cách thấu đáo những tư tưởng được gửi gắm trong lời nói của tôi. Hắn cứ khăng khăng rằng đó là những cáo buộc, và “Thề có—,” hắn sẽ buộc tôi phải rút lại chúng với tư cách là những cáo buộc, rồi hắn đem câu hỏi đó phó mặc cho Philip Lynch—người mà tôi lúc bấy giờ hướng đến như một nhà văn, một nhà logic học, và một chủ bút—bằng cách kêu gọi sự chú ý đặc biệt của ông ta vào đoạn văn mở đầu vừa được trích dẫn trước đó. Hắn ta đáp lại, “nếu chúng không phải là cáo buộc, thì chúng chắc chắn là những lời bóng gió,” nhân cơ hội đó ông Winters lại tiếp tục dồn dập đòi hỏi bản cải chính y hệt như những gì hắn đã nêu trước đó, chỉ có điều hắn sẽ cho phép tôi khai ra kẻ nào đã viết bài báo nếu không phải do chính tôi chấp bút, và lần này hắn vừa đe dọa vừa khua khoắng nắm đấm vào mặt tôi kèm theo những tràng chửi rủa cùng biệt hiệu cay độc.
Khi hắn đe dọa tôi bằng nắm đấm siết chặt, theo bản năng, tôi cố gắng chồm dậy khỏi chiếc ghế ngồi, nhưng Winters lúc đó đã dùng vũ lực ấn mạnh tôi xuống, y như mọi lần khác (ít nhất là bảy hay tám lần), khi đối mặt với hiểm họa cận kề sắp bị hắn nện cho bầm dập bằng nắm đấm (hoặc tệ hơn thế nữa mà tôi không tài nào biết được sau cú đấm choáng váng đầu tiên), thứ mà hắn có thể dễ dàng và an toàn giáng xuống người tôi chừng nào hắn còn đè tôi ngồi xuống và đứng lừng lững phía trên.
Chính thực tế này, hơn bất cứ điều gì khác, đã thuyết phục tôi rằng bằng một kế hoạch và mưu đồ được sắp đặt từ trước, tôi đã cố ý bị tước đoạt hoàn toàn khả năng kháng cự trong tay ông Winters, và rằng hắn không hề có ý định nhường cho tôi lợi thế được đứng trên đôi chân của mình giống như cái đặc quyền mà hắn đang nắm giữ. Hơn thế nữa, tôi lúc đó đã bị thuyết phục rằng Philip Lynch (và với lý do gì thì tôi tự hỏi) sẽ tuyệt đối không làm gì để bảo vệ tôi ngay trong chính ngôi nhà của ông ta. Lúc đó tôi mới nhận thức rõ ràng toàn bộ tình hình. Tôi nhận ra việc phản kháng hay tranh luận đều vô nghĩa như nhau, và tôi sẽ không đưa ra bất kỳ lời cầu xin thương hại hèn nhát nào, lại càng không thèm ngỏ lời xin lỗi. Tuy thế, sinh mạng của tôi đã bị đe dọa bằng những ẩn ý rõ ràng nhất có thể. Tôi là một kẻ yếu đuối. Tôi không tấc sắt trong tay. Tôi đang bất lực nằm dưới, còn Winters thì đứng cao hơn và rất có khả năng là đang mang theo vũ khí. Lynch chính là “nhân chứng” duy nhất. Những tuyên bố bị đòi hỏi kia, nếu được thốt ra mà không có sự giải thích kèm theo, sẽ vĩnh viễn nhấn chìm tôi xuống bùn đen của lòng tự trọng, trong mắt gia đình tôi, và trong mắt cộng đồng. Mặt khác, nếu tôi khai ra danh tính của tác giả thực sự, liệu tôi có thể trông đợi vào niềm tin yêu của Nhân dân—thứ mà tôi sẽ không còn xứng đáng nhận được nữa—và liệu sinh mạng của tôi có trở nên đáng giá hơn đối với tôi và gia đình hơn là sinh mạng của tác giả thực sự đối với bạn bè của anh ta hay không. Dẫu vậy, sự sống vẫn vô cùng trân quý và từng phút giây ngắn ngủi còn lại dường như thật quý giá, nếu không muốn nói là thiêng liêng. Tôi thành tâm hy vọng rằng ngài hay bất kỳ độc giả nào của ngài, và đặc biệt là những ai đã có gia đình, sẽ không bao giờ bị đặt vào tình thế có vẻ như cận kề cái chết đến thế trong lúc buộc phải đưa ra quyết định duy nhất mà tôi bị ép phải chọn, đó là: Tôi phải làm gì đây—tôi, một người đàn ông có gia đình, chứ không phải như ông Winters, một kẻ “độc thân.” [Độc giả được đề nghị không bỏ qua đoạn sau đây.—M. T.:]
CHIẾN LƯỢC VÀ THÔI MIÊN. Để tranh thủ thời gian suy ngẫm thêm, và với hy vọng rằng bằng một sự thuận tình ngoài mặt, tôi có thể lấy lại được quyền tự do cá nhân của mình, ít nhất cho đến khi tôi có thể tạo ra một tiếng báo động, hoặc tận dụng một phút sơ hở nào đó của Winters, rồi tẩu thoát mà không cần phải bỏ chạy hèn nhát, tôi đã quyết định viết một dạng cải chính nào đó, nhưng trước đó đã tự nhủ thầm trong lòng:
Thứ nhất.—Tôi sẽ cẩn trọng tránh né mọi hành động có thể bị diễn giải thành việc rút vũ khí ra, ngay cả bởi một kẻ đang tự nổi giận với chính mình, bất kể lượng lăng mạ có đổ lên đầu tôi nhiều đến đâu chăng nữa, bởi vì đối với tôi, lượng lớn những lời tục tĩu bậy bạ và chửi rủa gộp lại này chắc chắn không đơn thuần chỉ là một sự xả giận thái quá, và do đó nó phải nhắm đến một mục đích nào đó. “Chắc chắn cái lưới được giăng ra uổng công trước mặt bất kỳ con chim nào.” Do đó, giống như trước đó hành động hoàn toàn vô thức, sau đó tôi đã chủ ý giữ hai tay của mình tránh xa các túi áo, và nhìn chung là đặt trong tầm nhìn rõ ràng rồi xòe ra trên đầu gối.
Thứ hai.—Tôi tự quyết định sẽ không thực hiện bất kỳ cử động nào bằng tay chân có thể bị diễn giải thành hành vi gây hấn.
Thứ ba.—Tôi quyết định sẽ kiểm soát hoàn toàn phong thái bên ngoài và kìm nén cơn phẫn nộ. Để làm được điều đó, tôi phải làm chủ tinh thần của chính mình. Để đạt được mục đích đó, bằng sức mạnh của trí tưởng tượng, tôi buộc phải ép bản thân bước vào một trạng thái tâm lý phi tự nhiên giống như những người diễn viên trên sân khấu, nhìn nhận mọi thứ qua lăng kính của một nhân vật giả định.
Thứ tư.—Tôi quyết định sẽ thử nghiệm lên Winters, một cách âm thầm và hoàn toàn vô thức đối với hắn, thứ sức mạnh thôi miên mà tôi sở hữu đối với một số kiểu người nhất định, và đôi khi tôi nhận thấy nó vẫn phát huy tác dụng ngay cả trong bóng tối đối với các loài động vật bậc thấp.
Có ai đang mỉm cười trước những điểm cuối cùng này không? Xin Chúa phù hộ cho ngài khỏi bao giờ rơi vào cảnh ngộ buộc phải chơi một ván cờ mà phần thưởng cược chính là mạng sống của ngài, khi ngài chỉ còn lại vỏn vẹn bốn con tốt nghèo nàn cùng vài quân cờ yếu ớt trong tay đối thủ với toàn bộ binh hùng tướng mạnh đầy đủ nguyên vẹn. Nhưng nếu ngài có rơi vào hoàn cảnh đó, miễn là ngài còn chút sức lực cùng chiều sâu ý chí, xin đừng tuyệt vọng. Dẫu cho sức mạnh thôi miên có thể không cứu được ngài, nó ít nhiều sẽ giúp ích cho ngài; bằng mọi giá hãy cứ thử xem. Trong trường hợp này, tôi ý thức rõ sức mạnh đang dâng trào vào người mình, và theo một quy luật tự nhiên, tôi biết Winters cũng đang bị suy yếu tương ứng. Giá như tôi tranh thủ được thêm chút thời gian nữa, tôi chắc chắn hắn thậm chí sẽ chẳng thèm động thủ đánh tôi.
Cần phải có thời gian để vừa vạch ra những quyết định như vậy vừa nhẩm lại chúng. Tuy nhiên, tôi đã tranh thủ được khoảng thời gian đó trong lúc suy nghĩ về bản cải chính của mình, thứ mà tôi viết trước bằng bút chì, liên tục sửa đổi cho đến khi vừa ý, với mục đích làm sao để trông giống như một sự nhượng bộ trước các yêu cầu, nhưng thực chất bên trong nó lại súc tích truyền tải sự thật vào trong tâm trí ông Winters. Khi đã hoàn thành, tôi chép lại nó bằng mực, và nếu được chép lại chính xác từ bản thảo nháp đầu tiên của tôi, nó sẽ đọc được như sau. Trong quá trình chép lại, tôi không nghĩ mình đã thực hiện bất kỳ thay đổi quan trọng nào.
BẢN SAO. Gửi Philip Lynch, Chủ bút tờ Gold Hill News: Tôi được biết Tướng John B. Winters tin rằng đoạn trích dẫn (được dán kèm theo đây) lấy từ tờ PEOPLE’S TRIBUNE ra mắt vào tháng Một chứa đựng những cáo buộc rõ ràng của tôi nhắm trực tiếp vào cá nhân ông ta, và do đó ông ta mong muốn tôi phải vô điều kiện rút lại những cáo buộc đó.
Để đáp lại yêu cầu của ông ta, xin phép cho tôi được nói rằng, mặc dù ông Winters và tôi nhìn nhận vấn đề này theo những chiều hướng khác nhau, nhưng xét đến cảm xúc mãnh liệt của ông ta đối với tiền đề này, tôi xin tuyên bố tại đây rằng tôi không hề biết những “cáo buộc” đó (nếu thực sự chúng là vậy) có phải là sự thật hay không, và tôi hy vọng rằng một cuộc khảo sát kỹ lưỡng sẽ hoàn toàn bác bỏ chúng. CONRAD WIEGAND. Gold Hill, ngày 15 tháng 1 năm 1870.
Tôi đọc lại những gì mình vừa viết rồi đưa nó cho ông Lynch, ngay lập tức ông Winters liền lên tiếng:
“Thế này thì chưa thỏa đáng đâu, và không ổn chút nào cả;” rồi hướng ánh mắt về phía ông Lynch, hắn ta nói tiếp: “Anh thấy thế nào?”
“Chà, tôi thú nhận là tôi chẳng thấy có điểm nào gọi là rút lại lời ở đây cả.”
“Tôi cũng vậy,” Winters tiếp lời; “trên thực tế, tôi coi nó chẳng khác nào việc thêm dầu vào lửa, sỉ nhục người ta nhiều hơn. Này anh Wiegand, anh phải làm tốt hơn thế chứ. Anh không phải là kẻ có thể qua mặt được tôi đâu.”
“Thưa ngài, đó là bản cải chính duy nhất mà tôi có thể viết ra được.”
“Không, nó không phải vậy đâu, ngài ạ, và nếu anh còn dám hé môi nói lại câu đó một lần nữa, anh sẽ phải chịu lấy hậu quả đắt giá, bởi vì ta sẽ nện cho anh thân tàn ma dại gần kề cái chết, và, thề có—, ngài ạ, ta thậm chí chẳng hứa hẹn sẽ tha cho anh dù chỉ là một inch da thịt đó đâu. Ta muốn anh phải hiểu rõ rằng ta đã đòi hỏi anh một văn bản hoàn toàn khác, và anh buộc phải ký vào văn bản đó.”
“Ông Winters, tôi xin đảm bảo rằng bản thân tôi không hề muốn chọc giận ông, nhưng đồng thời, việc tôi viết ra một văn bản nào khác ngoài văn bản mà tôi đã viết là điều bất khả thi đối với tôi. Nếu ông kiên quyết bắt tôi phải ký kết một thứ gì đó, tay của Philip Lynch phải viết ra theo đúng bản đọc của ông, và nếu sau khi được viết ra, tôi có thể ký thì tôi sẽ ký, nhưng một tài liệu như ông nói là bắt buộc phải nhận từ tôi, thì đời nào tôi ký nổi. Tôi nói thật đấy.”
“Thưa ngài, chuyện gì phải làm thì phải làm cho nhanh chóng, bởi vì ta ở đây đã đủ lâu rồi. Ta sẽ đổi cách tiếp cận khác (rồi hắn chỉ tay về phía tờ giấy); bộ ngươi không biết rõ những cáo buộc đó là sai sự thật hay sao?”
“Tôi không biết.”
“Bộ ngươi biết chúng là sự thật à?”
“Theo kiến thức hiểu biết cá nhân của tôi thì tôi không biết.”
“Thế tại sao ngươi lại đem in chúng ra?”
“Bởi vì khi được đặt vào đúng ngữ cảnh liên kết của chúng một cách hợp lý, chúng không hề là cáo buộc, mà là những gợi ý thích đáng và hữu ích nhằm đáp lại các thắc mắc của một độc giả đã trình bày những sự kiện vốn dĩ không thể giải thích nổi.”
“Bộ ngươi không biết là ta biết chúng hoàn toàn sai sự thật ư?”
“Nếu ông biết, cách xử lý đúng đắn nhất đơn giản chỉ là phủ nhận chúng và yêu cầu một cuộc điều tra.”
“Và ngài tự cho mình quyền ép BUỘC TÔI phải lộ diện và phủ nhận bất cứ thứ gì ngài tùy tiện viết ra và đem in ấn hay sao?”
Đối với câu hỏi đó, tôi nghĩ mình đã không đưa ra câu trả lời nào, và sau đó hắn lại tiếp tục nói:
“Thôi nào, chúng ta đã nói chán chê về vấn đề này đủ lâu rồi. Ta muốn câu trả lời cuối cùng của ngươi—ngươi có viết bài báo đó hay không?”
“Tôi không thể vì danh dự mà nói cho ông biết ai là người đã viết nó.”
“Bộ ngươi không hề nhìn thấy nó trước khi nó được đem in sao?”
“Chắc chắn nhất là có rồi, thưa ngài.”
“Và ngươi có cho rằng đó là một việc làm thích hợp để đem công bố hay không?”
“Chắc chắn nhất là có rồi, thưa ngài, bằng không tôi đã chẳng đời nào đồng ý cho nó xuất hiện. Về quyền tác giả của nó thì tôi không thể nói bất cứ điều gì, nhưng về việc cho xuất bản nó thì tôi xin hoàn toàn gánh vác trách nhiệm cá nhân, đơn độc và toàn diện.”
“Và cuối cùng ngươi có chịu rút lại nó hay không?”
“Ông Winters, nếu việc tôi từ chối ký vào một văn bản như ông đã đòi hỏi lại kéo theo toàn bộ những hậu quả mà ngôn từ của ông trong căn phòng này đã ngầm ám chỉ một cách rõ ràng, vậy thì tôi xin được dành ra vài phút để cầu nguyện.”
Cầu nguyện!—ngươi kìa, đây đâu phải lúc để cầu nguyện—thời điểm để ngươi cầu nguyện là lúc ngươi đang hí hoáy viết những cái—cáo buộc dối trá đó cơ. Ngươi có chịu ký hay không?”
“Ông đã có câu trả lời của tôi rồi.”
“Cái gì! Ngươi vẫn dám từ chối sao?”
“Đúng vậy, thưa ngài.”
“Vậy thì đón lấy cái này đi,” và sự kinh ngạc lẫn niềm nhẹ nhõm khôn tả của tôi trào dâng khi hắn chỉ rút ra một dải da bò thay vì thứ mà tôi hằng đinh ninh—một cây gậy tày hoặc một khẩu súng lục. Vừa nói, hắn vừa vung roi quất xuống nhắm vào tai trái của tôi theo hướng từ trên xuống, như thể muốn xé rách nó ra khỏi đầu, và sau đó là quất thẳng vào bên mạng đầu. Khi hắn lùi lại để tạo đà cho một cú đánh hiểm hóc và hiệu quả hơn, lần đầu tiên tôi chớp lấy cơ hội đứng dậy giữa lúc hiểm nguy, và tôi đã làm thế trong niềm thương cảm tột cùng từ tận đáy tâm hồn dành cho hắn, khi nghĩ rằng một kẻ vốn có sẵn phẩm giá, quyền lực và sự cao thượng bẩm sinh lại có thể, bởi những cám dỗ của Bang này, và bởi những mối quan hệ cùng khát vọng bất hạnh, bị tha hóa sâu sắc đến mức tìm thấy ở chính hành động bạo lực thô thiển đó bất kỳ thứ gì mà hắn có thể gọi là sự thỏa mãn—nhưng niềm hy vọng lớn lao cho tất cả chúng ta nằm ở sự tiến bộ và trưởng thành, và John B. Winters, tôi tin rằng rồi mai đây cũng sẽ có thể thấu hiểu được cảm xúc của tôi.
Hắn tiếp tục trút những đòn roi lên người tôi bằng toàn bộ sức mạnh khổng lồ của mình, cho đến khi hoàn toàn mệt nhoài, kiệt sức và thở hổn hển không ra hơi. Tôi vẫn kiên định với mục đích phòng thủ phi bạo lực của mình, và không hề sử dụng đôi tay vào bất kỳ mục đích nào khác ngoài việc che chắn đầu và mặt khỏi những tổn thương tàn phá nặng nề hơn. Cảm giác đau đớn thuần túy phát sinh từ những cú đánh mà hắn giáng lên cơ thể tôi dĩ nhiên chỉ là thoáng qua, và y phục trên người phần nào đã làm giảm bớt sự khắc nghiệt của nó, y như cách chúng đang che giấu mọi dấu vết còn sót lại lúc này.
Khi tôi đoán chắc là hắn đã đánh xong, hắn cầm phần chuôi của thứ vũ khí rồi khua khoắng trước mặt tôi, cảnh báo tôi, nếu tôi hiểu đúng ý hắn, rằng sẽ còn nhiều đòn đau hơn nữa chờ sẵn ở tương lai, và hơn thế nữa hắn tuyên bố, nếu tôi còn dám một lần nữa đưa tên tuổi hắn lên mặt báo, dù trên tờ báo của chính tôi hay bất kỳ ấn phẩm công cộng nào khác, hắn sẽ cắt đứt tai trái của tôi đi (và tôi không nghĩ hắn đang nói đùa đâu) rồi tống cổ tôi trở về với gia đình trong bộ dạng một kẻ bị tàn phế thấy rõ, nhằm làm gương sống cho tất cả những kẻ đê tiện chuyên đi tống tiền các quý ông và bôi nhọ danh tiếng của họ. Và khi hắn thực hiện cuộc phẫu thuật đó, hắn thông báo cho tôi hay công cụ của hắn sẽ không còn là roi vò nữa mà là dao găm.
Nói xong những lời đó, không có sự tháp tùng của ông Lynch theo như tôi nhớ, hắn bỏ ra khỏi phòng, còn tôi thì ngồi xuống cạnh ông Lynch và thốt lên: “Kẻ này điên rồi—hắn ta hoàn toàn phát điên rồi—bước đi này chính là sự tự sát của hắn—đó là một sai lầm—sẽ là thiếu độ lượng nếu tôi, bất chấp mọi đối xử tệ bạc mà tôi vừa phải gánh chịu tại đây, lại đem phơi bày hắn ra ánh sáng, ít nhất là cho đến khi hắn có cơ hội suy ngẫm lại về sự việc này. Tôi sẽ không việc gì phải vội vàng cả.”
“Winters lúc này đang vô cùng tức giận,” ông Lynch đáp lại, “nhưng khi lấy lại được bình tĩnh, hắn là một trong những người tuyệt vời nhất mà tôi từng gặp. Trên thực tế, hắn đã nói với tôi rằng lý do hắn không gặp anh ở trên lầu là để tha cho anh khỏi sự nhục nhã vì bị ăn đòn trước mặt nhiều người khác.”
Tôi xin trình bày rằng lời bộc lộ sơ hở đó của Philip Lynch đã kết tội ông ta là kẻ đã đồng lõa từ trước đối với những ý định của ông Winters bất kể chúng là gì đi nữa, hoặc ít nhất là ý định muốn thực hiện một cuộc tấn công nhằm vào tôi, nhưng tôi xin nhường lại cho người khác phán xét xem một chủ bút đáng phải chịu đựng mức độ khiển trách đến nhường nào khi dụ dỗ một kẻ yếu đuối, theo chủ nghĩa bấtbạo động, đồng thời cũng là một nhà xuất bản, bước vào xó xỉnh của riêng hắn để rồi bị quất roi ngựa, nếu không muốn nói là tệ hơn thế, chỉ vì tội đơn thuần in ra những điều mà chín trong số mười người, cả nam lẫn nữ, đang bàn tán xôn xao ngoài phố.
Trong lúc viết bản tường thuật này, hai giả thuyết đã nảy sinh trong đầu tôi về tính xác thực có thể xảy ra của vụ tấn công vô cùng kỳ lạ này: Thứ nhất—Mục đích có lẽ chỉ đơn thuần nhằm tống tiền những sự thừa nhận từ tôi để rồi qua bàn tay của tiền tài và thế lực, chúng sẽ đẩy tôi vào Túi Cải tạo vì tội phỉ báng. Tuy nhiên, điều này có vẻ khó xảy ra, bởi vì bất kỳ lời khai nào được moi móc bằng nỗi sợ hãi hay vũ lực đều không thể trở thành bằng chứng hợp pháp hoặc có thể được giải thích sao cho không có giá trị pháp lý nào. Những lời khai bị thèm khát đến vậy chắc chắn phải được dùng cho một mục đích khác. Thứ hai—Giả thuyết còn lại mang một màu sắc đen tối và cố ý sát nhân đến mức tôi chắp bút viết ra mà thấy rờn rợn, thế nhưng theo mọi xác suất thì cái chết của tôi tại thời điểm sớm nhất có thể đã được định đoạt từ trước, tôi cảm thấy mình nên làm tất cả những gì có thể trước khi thời khắc của mình điểm, ít nhất là để chỉ cho những người khác cách phá vỡ quy luật độc tài và liên minh ấy—thứ đã cướp đi của toàn bộ bang Nevada sự tự do thực sự, nếu không muốn nói là cả nhân cách con người. Mặc dù tôi không đưa ra giả thuyết này dưới dạng một “cáo buộc,” nhưng tôi cảm thấy với tư cách là một công dân Mỹ, tôi vẫn có quyền suy nghĩ và cất lên tiếng nói của suy nghĩ ngay cả trên vùng đất của Sharon và Winters, và cũng có quyền không kém khi nói về giả thuyết của một vụ tấn công bạo lực (đặc biệt khi tôi chính là nạn nhân của nó) cũng như bất kỳ sự tàn bạo hiển nhiên nào khác. Tôi xin đưa ra vấn đề này đơn thuần như một gợi ý có thể giải thích cho các cơ quan có thẩm quyền và cho người dân mà họ đại diện biết về một sự thật đã được xác minh rõ ràng nhưng lại mang màu sắc huyền bí đầy hăm dọa. Kịch bản của vụ tấn công có lẽ là:
Thứ nhất—Làm cho tôi khiếp sợ bằng cách khiến tôi nhận thức rõ sự bất lực của chính mình sau khi đưa ra những lời đe dọa thực tế tuy không mang tính pháp lý nhằm vào sinh mạng tôi.
Thứ hai—Ngầm ám chỉ rằng tôi chỉ có thể bảo toàn tính mạng bằng cách viết hoặc ký kết một số tuyên bố cụ thể nhất định, nếu không được giải thích rõ ràng sau đó, sẽ vĩnh viễn bêu riếu tôi như một kẻ ô danh và đẩy gia đình tôi vào cảnh nhục nhã nghèo đói, cùng với sự thương hại và bảo bọc đáng sợ của giới nhà giàu.
Thứ ba—Bắn nát óc tôi ngay khoảnh khắc tôi vừa ký xong, qua đó ngăn cản tôi thực hiện bất kỳ lời giải thích tiếp theo nào có thể xóa sạch tiếng nhơ.
Thứ tư—Buộc Philip Lynch phải làm chứng rằng tôi bị giết bởi John B. Winters trong một tình huống tự vệ chính đáng, bởi vì việc kết tội Winters sẽ kéo theo việc lôi cả hắn vào vòng đồng lõa. Nếu đó thực sự là kịch bản trong tâm trí John B. Winters, thì không có gì cứu mạng tôi ngoài sự từ chối kiên quyết không chịu ký kết của tôi, dẫu cho khoảnh khắc từ chối đó thoạt nhìn hiển nhiên chính là lựa chọn cái chết.
Tuyên bố đáng chú ý mà ông Winters đã thốt lên với tôi rằng lòng thương hại đã cứu mạng tôi vào tối thứ Tư tuần trước, suýt chút nữa đã ép tôi phải tin rằng ban đầu hắn không hề có ý định để tôi rời khỏi căn phòng đó khi còn sống; và lý do vì sao tôi được phép bước ra ngoài, nếu không phải nhờ vào uy lực thôi miên hay một thứ sức mạnh vô hình nào khác, thì tôi hoàn toàn không tài nào đoán nổi. Càng ngẫm nghĩ về vấn đề này, cách giải thích kinh hoàng này lại càng trở nên có cơ sở xác thực.
Lẽ ra tôi đã có thể tha cho cả ông Winters lẫn công chúng khỏi việc phải thuật lại những chuyện này nếu bản thân hắn chịu giữ im lặng, nhưng vì hắn vừa cất lời mở miệng vừa cho phép một bản tường thuật đã bị bóp méo hoàn toàn xuất hiện trên tờ Gold Hill News, tôi cảm thấy có trách nhiệm với chính mình cũng như với cộng đồng này, và với toàn bộ nền báo chí độc lập của Mỹ lẫn Anh quốc, phải đưa ra một câu trả lời chính xác về điều mà ngay cả tờ Gold Hill News cũng đã phải thốt lên là một vụ bê bối ô nhục, và là điều khiến họ vô cùng tiếc nuối vì một số sai sót về điện tín được cho là đã xảy ra trong bài thuật sự đó. [Ai là kẻ đã nhận được những bức điện tín sai lệch đó chứ?]
Dẫu cho hắn có thể thấy việc tước đoạt sinh mạng tôi lúc này là chưa khôn ngoan đi chăng nữa, thì việc cho đăng tải bài viết này tôi chắc chắn sẽ buộc Tướng Winters (với những quan điểm kỳ quặc của ông ta về quyền được miễn nhiễm trước mọi lời chỉ trích từ tôi) phải hạ quyết tâm tước đoạt mạng sống của tôi bằng vũ lực, dù có thể phải mất nhiều năm mới thực hiện được. Mặc dù vậy, tôi không hề mang lòng oán hận ông ta; và nếu W. C. Ralston cùng William Sharon, cùng các thành viên khác của Tập đoàn khai mỏ và luyện kim San Francisco cảm thấy rằng ông ta trên tất cả mọi người ở Bang này lẫn California là nhân vật thích hợp nhất để giám sát và kiểm soát các công việc của Yellow Jacket, thì cho đến khi tôi có đủ khả năng bỏ phiếu chiếm đa số cổ phần của họ, tôi phỏng đoán ông ta sẽ vẫn tiếp tục được lưu dụng để tô điểm cho chức vụ hiện tại của mình.
Trong lúc này, tôi nồng nhiệt mời gọi tất cả những ai biết về bất kỳ loại tội ác quan trọng nào mà chỉ có thể được chữa lành bằng việc phơi bày ra ánh sáng (và những ai sẵn sàng vạch trần nó nếu họ chắc chắn mình sẽ không bị phản bội dưới những lời đe dọa bắt nạt), hãy liên hệ với tờ PEOPLE’S TRIBUNE; bởi vì cho đến khi tôi bị sát hại, chừng nào tôi còn có thể gây quỹ để xuất bản, tôi vẫn dự định sẽ tiếp tục các nỗ lực của mình ít nhất là để hồi sinh các quyền tự do của Bang, kìm hãm sự áp bức, và mang lại lợi ích cho thế giới của loài người cùng mặt đất của Chúa Trời.
CONRAD WIEGAND.
[Thật là một điều đáng tiếc khi Cảnh sát trưởng bị gạt ra ngoài, bởi vì sự khôn ngoan của một vị tướng dân quân và của một chủ bút cộm cán đã không tài nào dạy cho họ hiểu rằng trận đòn roi xứng đáng dành cho đứa trẻ yếu đuối, nửa đần nửa độ này là một việc lẽ ra nên được thực hiện ngoài đường phố, nơi mà kẻ tội nghiệp ấy ít ra còn có cơ hội để tháo chạy. Khi một nhà báo phỉ báng một công dân, hoặc tấn công danh tiếng của người đó dựa trên bằng chứng nghe lỏm qua lời kể lại, hắn xứng đáng bị trừng phạt bằng roi vòn, ngay cả khi hắn chỉ là một kẻ yếu đuối “bất bạo động”; thế nhưng một đối thủ hào hiệp ít ra cũng phải cho phép một con chiên như thế được dùng đến đôi chân của mình vào những lúc như vậy.—M. T.:]