Những Năm Tháng Gian Khó

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 22

❊ ❊ ❊

Đã cuối tháng Tám, bầu trời không một gợn mây và thời tiết tuyệt đẹp. Chỉ trong vòng hai, ba tuần, tôi đã đâm ra say mê đến kỳ lạ vùng đất mới mẻ này và quyết định hoãn chuyến quay về “các Bang miền Đông” lại một thời gian. Tôi đã quen hẳn với việc đội một chiếc mũ sụp vành tả tơi, mặc áo sơ mi len xanh, nhét ống quần vào trong cổ bốt, và vô cùng tự hào vì không cần đến áo khoác, áo ghi-lê hay dây đeo quần. Tôi cảm thấy mình ngang tàng và “oai phong lẫm liệt” (như cách dùng từ của sử gia Josephus trong chương viết xuất sắc của ông về sự tàn phá Đền thờ). Đối với tôi, chẳng có gì tuyệt vời và lãng mạn hơn thế. Tôi đã trở thành một viên chức chính phủ, nhưng điều đó cốt chỉ để cho thêm phần oai vệ. Chức vụ ấy quả là một vị trí nhàn hạ có một không hai. Tôi chẳng có việc gì để làm và cũng chẳng có đồng lương nào. Tôi là Thư ký riêng cho ngài Bộ trưởng, mà lúc đó công việc viết lách thì chưa đủ cho cả hai chúng tôi cùng làm. Thế là cậu Johnny K—— và tôi đành dành toàn bộ thời gian cho các trò tiêu khiển. Cậu là con trai út của một tay cự phú ở Ohio, đến đây để giải khuây. Và cậu đã đạt được điều đó. Chúng tôi đã nghe người ta bàn tán rất nhiều về vẻ đẹp kỳ diệu của hồ Tahoe, và cuối cùng sự tò mò đã thúc giục chúng tôi đến đó tận mắt chứng kiến. Ba hoặc bốn thành viên trong Lữ đoàn đã đến đó, khoanh vùng một số khu rừng gỗ trên bờ hồ và cất trữ một lượng lương thực tại trại của họ. Chúng tôi buộc mấy chiếc chăn lên vai, mỗi người cầm một chiếc rìu rồi lên đường — bởi chúng tôi định chiếm lấy một vài trại gỗ cho riêng mình và làm giàu. Chúng tôi đi bộ. Độc giả hẳn sẽ thấy đi ngựa lợi thế hơn nhiều. Người ta bảo khoảng cách ở đó là mười một dặm. Chúng tôi lê bước một hồi lâu trên mặt đất bằng phẳng, rồi lại vất vả leo lên một quả núi cao chừng một ngàn dặm và phóng tầm mắt nhìn sang bên kia. Chẳng có cái hồ nào cả. Chúng tôi bèn xuống sườn núi bên kia, băng qua thung lũng và lại lợp cập leo lên một quả núi khác có lẽ cao tới ba, bốn ngàn dặm, rồi lại ngó sang. Vẫn chẳng thấy hồ đâu. Chúng tôi mệt mỏi, mồ hôi nhễ nhại ngồi phịch xuống, thuê hai tên Trung Quốc nguyền rủa những kẻ đã lừa gạt chúng tôi. Nhờ được vực dậy tinh thần như thế, lát sau chúng tôi lại tiếp tục hành trình với sinh khí và quyết tâm mới. Chúng tôi lầm lũi bước thêm hai, ba tiếng đồng hồ nữa, và cuối cùng mặt Hồ hiện ra trước mắt — một dải nước xanh ngắt tuyệt đẹp nằm ở độ cao sáu ngàn ba trăm thước trên mặt nước biển, được bao bọc bởi một vành đai những đỉnh núi tuyết phủ sừng sững cao hơn tận ba ngàn thước nữa! Đó là một vùng hồ rộng lớn hình bầu dục, và người ta sẽ phải đi mất tám mươi hoặc một trăm dặm đường đàng hoàng mới giáp một vòng quanh nó. Khi nó nằm trải dài ở đó với bóng những ngọn núi được khắc họa rực rỡ trên mặt nước phẳng lặng, tôi nghĩ rằng đây chắc chắn là bức tranh phong cảnh tuyệt mỹ nhất mà cả trái đất này có được.

Chúng tôi tìm thấy chiếc xuồng nhỏ của mấy cậu thanh niên trong Lữ đoàn, liền lập tức chèo qua một khúc quanh sâu của hồ hướng về những cột mốc chỉ vị trí khu trại. Tôi bảo Johnny chèo — không phải vì bản thân tôi ngại vận động, mà là vì tôi cứ bị buồn nôn khi phải ngồi quay lưng về phía trước lúc đang làm việc. Nhưng tôi là người cầm lái. Chèo suốt ba dặm đường thì chúng tôi tới trại vừa lúc trời sập tối, bước lên bờ trong trạng thái vô cùng mệt mỏi và đói ngấu như sói. Trong một cái “kho ngầm” giữa đám đá vách, chúng tôi tìm thấy lương thực và dụng cụ nấu nướng, rồi dẫu mệt lử cả người, tôi vẫn ngồi phịch lên một tảng đá để giám sát trong khi Johnny đi kiếm củi và nấu bữa tối. Khối kẻ từng trải qua những gì tôi vừa chịu đựng chắc chắn sẽ chỉ muốn nằm dài ra nghỉ ngơi.

Đó là một bữa tối ngon tuyệt — bánh mì nóng, thịt xông khói rán, và cà phê đen. Không gian tịch mịch xung quanh chúng tôi cũng tuyệt vời làm sao. Cách đó ba dặm có một xưởng cưa và vài công nhân, nhưng tính trên cả một vùng chu vi rộng lớn quanh hồ thì chẳng còn lấy mười lăm con người nào khác. Khi bóng đêm buông xuống và những vì sao xuất hiện thắp sáng tấm gương lớn bằng muôn vàn viên ngọc quý, chúng tôi vừa trầm ngâm hút thuốc trong sự tĩnh lặng trang nghiêm vừa quên đi mọi phiền muộn và đau đớn. Chẳng mấy chốc, chúng tôi trải chăn trên lớp cát ấm áp giữa hai tảng đá lớn và chìm ngay vào giấc ngủ, chẳng màng chi đến đoàn quân kiến bò qua những chỗ rách trên quần áo để thám hiểm cơ thể chúng tôi. Chẳng thứ gì có thể phá vỡ giấc ngủ đã trói buộc chúng tôi lại, bởi đó là thành quả hoàn toàn xứng đáng, và nếu lương tâm chúng tôi có vướng bận chút tội lỗi nào đi nữa thì đêm nay chúng cũng buộc phải hoãn phiên tòa lại mà thôi. Gió thổi lồng lộng ngay lúc chúng tôi sắp chìm vào vô thức, và chúng tôi được ru ngủ bởi tiếng sóng vỗ rì rào vào bờ cát.

Về đêm, bờ hồ lúc nào cũng rất lạnh, nhưng chúng tôi có đủ chăn ấm nên không bị lạnh chút nào. Suốt đêm hôm đó chúng tôi nằm im ru không động đệ, thế rồi thức dậy vào lúc rạng sáng đúng ở tư thế ban đầu, vùng dậy ngay lập tức, tinh thần sảng khoái hoàn toàn, chẳng còn chút nhức mỏi nào và người ngợm thì tràn trề sức sống. Trải nghiệm kiểu ấy quả là một thứ thuốc tiên vô giá. Sáng hôm đó, chúng tôi đủ sức quật ngã mười kẻ giống như chúng tôi của ngày hôm qua — dẫu sao thì lúc ấy họ cũng đang ốm yếu. Thế mà thế gian này thật chậm hiểu, người ta cứ thích tìm đến các “liệu pháp thủy trị”, “liệu pháp vận động” hay cả những xứ sở xa xôi để tìm lại sức khỏe. Ba tháng sống đời cắm trại bên hồ Tahoe đủ sức hồi sinh một xác ướp Ai Cập trở lại vẻ cường tráng ban đầu, và ban cho hắn một cơn thèm ăn dữ dội như cá sấu. Dĩ nhiên là tôi không có ý nói đến những xác ướp lâu đời nhất và khô khốc nhất, mà là những xác ướp tươi tắn hơn cơ. Không khí trên mây cao ấy rất trong lành và tuyệt diệu, vừa sảng khoái lại vừa dễ chịu. Và sao lại không thể thế chứ? — đó chính là bầu không khí mà các thiên thần đang hít thở. Tôi nghĩ chẳng có mức độ mệt mỏi nào mà một người không thể rũ bỏ sạch sẽ chỉ sau một đêm ngủ trên bãi cát bên cạnh hồ nước ấy. Không phải ngủ dưới mái nhà, mà là dưới bầu trời; vào mùa hè, ở đó hiếm khi hoặc hầu như chẳng bao giờ mưa. Tôi biết có một kẻ đã đến đó để chết. Nhưng hắn đã thất bại toàn tập. Khi mới đến, hắn trơ xương như một bộ hài cốt và chỉ đứng chực ngã. Hắn chẳng có chút cảm giác thèm ăn nào, suốt ngày chỉ đọc các ấn phẩm truyền đạo và ngẫm nghĩ về tương lai. Ba tháng sau, hắn đều đặn ngủ ngoài trời, ăn bù lại tất cả những gì có thể nhét vào bụng ba bữa một ngày, và rượt đuổi thú rừng trên những ngọn núi cao ba ngàn thước để giải khuây. Và hắn chẳng còn là một bộ xương khô nữa, mà nặng tới cả tạ. Đây không phải là một bức tranh tưởng tượng, mà là sự thật. Căn bệnh của hắn là lao phổi. Tôi xin hết lòng ca ngợi trải nghiệm của hắn cho những bộ xương khô khác.

Tôi lại tiếp tục vai trò giám sát, và ngay sau khi ăn sáng xong, chúng tôi bước lên thuyền dọc theo bờ hồ chừng ba dặm rồi lên bờ. Chúng tôi rất ưng ý với cảnh trí nơi này, thế là liền chiếm lấy chừng ba trăm mẫu đất và cắm những “tờ thông báo” của mình lên một thân cây. Đó là vùng rừng thông vàng — một khu rừng rậm rạp với những thân cây cao tới một trăm thước và đường kính gốc từ một đến năm thước. Chúng tôi buộc phải rào lại khu đất của mình nếu không thì chẳng giữ được nó. Ý tôi là, chúng tôi phải đốn hạ cây cối ở đây đó sao cho chúng đổ rạp xuống theo cách tạo thành một thứ hàng rào (với những khoảng trống khá rộng ở giữa). Mỗi đứa chúng tôi đốn được ba cây, và thấy công việc này làm nản lòng đến mức chúng tôi quyết định “gác lại vụ này” với bấy nhiêu đó thôi; nếu chúng giữ được khu đất thì tốt, còn nếu không thì cứ để mặc khu đất lọt qua các khoảng trống mà trôi đi; chẳng việc gì phải vắt kiệt sức mình đến chết chỉ để giữ lấy vài mẫu đất. Hôm sau, chúng tôi quay lại để dựng một ngôi nhà — bởi một ngôi nhà cũng là điều kiện bắt buộc để giữ lấy khu đất.

Chúng tôi quyết định dựng một ngôi nhà gỗ súc vật thật vững chắc để khiến đám thanh niên Lữ đoàn phải ghen tị; nhưng đến khi chúng tôi đốn và gọt giũa xong súc gỗ đầu tiên thì lại thấy việc làm cầu kỳ ấy là thừa thãi, thế là chúng tôi kết luận nên cất nhà bằng thân cây non. Tuy nhiên, chỉ hai thân cây non được đốn và gọt cẩn thận cũng đủ buộc chúng tôi phải thừa nhận rằng một kiến trúc khiêm tốn hơn nữa vẫn đủ đáp ứng yêu cầu luật pháp, và thế là chúng tôi lại quyết định dựng một ngôi nhà bằng “cành cây bụi”. Chúng tôi dành toàn bộ ngày hôm sau cho công việc này, nhưng vì mải “ngồi chơi xơi nước” và bàn tán quá nhiều nên mãi đến giữa buổi chiều chúng tôi mới làm xong một công trình nửa mùa mà một đứa trong chúng tôi phải đứng canh trong lúc đứa kia đi chặt cành cây, kẻo nếu cả hai cùng quay lưng đi thì sẽ chẳng tài nào tìm lại được nó nữa, vì trông nó có họ hàng gần gũi quá mức với thảm thực vật xung quanh. Dù vậy, chúng tôi vẫn rất hài lòng với nó.

Giờ đây chúng tôi đã là những chủ đất, đã chính thức được giao đất và sở hữu hợp pháp, nằm dưới sự bảo vệ của pháp luật. Do đó, chúng tôi quyết định dọn đến cư ngụ trên lãnh địa của riêng mình để tận hưởng cái cảm giác độc lập to lớn mà chỉ có trải nghiệm như vậy mới mang lại được. Vào lúc muộn hơn của chiều hôm sau, sau một giấc ngủ dài thỏa thích, chúng tôi chèo thuyền rời khỏi khu trại của Lữ đoàn mang theo tất cả lương thực và dụng cụ nấu nướng mà chúng tôi có thể vác đi — từ “mượn” có lẽ chính xác hơn — và vừa lúc đêm buông xuống, chúng tôi cho thuyền cập bến tại bãi đáp của chính mình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.