Lên đường tới Hawaii (cách đó một trăm năm mươi dặm) để thăm ngọn núi lửa vĩ đại và chiêm ngưỡng những thắng cảnh khác biệt làm nên tên tuổi của hòn đảo ấy so với phần còn lại trong quần đảo, chúng tôi nhổ neo rời Honolulu vào một chiều thứ Bảy nọ trên con tàu buồm tốt lành Boomerang.
Con tàu Boomerang dài chừng hai chiếc xe điện nối lại và rộng cỡ một chiếc. Nó nhỏ đến mức (dù vẫn lớn hơn đa số các tàu chạy ven các đảo) khi tôi đứng trên boong tàu, tôi cảm thấy mình chẳng nhỏ hơn bức tượng Colossus ở Rhodes là bao khi vị thần này đứng gác trên một chiến hạm. Tôi có thể với tay chạm tới mặt nước khi tàu nghiêng ngả dưới làn gió mạnh. Lúc Thuyền trưởng, người bạn đồng hành của tôi (ông Billings), bản thân tôi cùng bốn người khác cùng tụ tập trên khoảnh boong nhỏ xíu ở phía đuôi tàu – nơi dành riêng cho hành khách khoang trên – thì nó đã chật cứng, chẳng còn chỗ cho bất kỳ nhân vật quý phái nào khác. Một khu vực khác trên boong, rộng gấp đôi khoang chúng tôi, thì đặc nghịt người bản xứ cả nam lẫn nữ, kèm theo những thứ quen thuộc của họ như chó, chiếu, chăn, tẩu thuốc, bầu đựng poi, rận mu cùng vô số xa xỉ phẩm và hành lý vụn vặt khác. Ngay khi chúng tôi ra khơi, đám đông bản xứ liền nằm rạp xuống boong đông nghịt như nô lệ trong chuồng nhốt, họ hút thuốc, trò chuyện, khạc nhổ vào nhau và tỏ ra vô cùng niềm nở.
Cái khoang thấp lè tè bên dưới còn chật hơn một chiếc quan tài và tối như hầm mộ. Mỗi bên có hai chiếc "quan tài" – ý tôi là hai cái giường tầng. Một chiếc bàn nhỏ, vừa cho ba người ngồi ăn tối, kê sát vách ngăn phía mũi tàu, và phía trên treo một ngọn đèn dầu cá voi mờ mịt nhất từng đem những hình thù ma quái thả vào chốn tối tăm của ngục tối. Diện tích sàn trống không đáng kể. Người ta có thể quất một con mèo trong đó, có lẽ vậy, nhưng chắc chắn không phải là một con mèo dài. Hầm tàu phía trước vách ngăn có rất ít hàng hóa, và từ sáng đến tối, một con gà trống béo tròn với giọng gáy y hệt con lừa của Balaam cùng cái nết thích khoe giọng ấy, cứ đi đi lại lại ở khoang đó mà gáy. Nó thường ăn tối lúc sáu giờ, rồi sau một tiếng dành để trầm tư, nó leo lên một cái thùng phuy và gáy suốt một phần lớn thời gian ban đêm. Giọng nó ngày càng khàn đặc, nhưng nó khinh bỉ việc để những chuyện cá nhân làm ảnh hưởng đến nghĩa vụ của mình, và vẫn tiếp tục công cuộc lao động bất chấp căn bệnh bạch hầu đang đe dọa.

Nằm ngủ là điều không thể khi nó đang trực chiến. Nó thực sự là nguồn gốc của sự bực bội và khó chịu tột cùng. La mắng nó hay dùng những lời lẽ cay độc thóa mạ nó chẳng những vô ích mà còn tệ hơn – nó chỉ coi đó là những tràng pháo tay cổ vũ và càng cố gắng gân cổ lên để gây thêm tiếng ồn. Thỉnh thoảng trong ngày, tôi ném khoai tây vào nó qua ô cửa sổ trên vách ngăn, nhưng nó chỉ né đi rồi tiếp tục gáy.
Đêm đầu tiên, khi tôi đang nằm trong chiếc quan tài của mình, thẫn thờ nhìn ngọn đèn mờ ảo lắc lư theo nhịp tròng cành của con tàu và hít hà mùi hôi thối khó chịu của nước đọng dưới đáy tàu, tôi cảm thấy có cái gì đó phi nước đại qua người mình. Tôi vùng dậy ngay lập tức. Tuy nhiên, tôi lại ngả mình xuống khi nhận ra đó chỉ là một con chuột. Chẳng mấy chốc, thứ gì đó lại phi qua người tôi một lần nữa. Lần này tôi biết chắc không phải chuột, và tôi đoán có thể là một con rết, bởi buổi chiều Thuyền trưởng vừa đập chết một con trên boong. Tôi chồm dậy. Cái nhìn đầu tiên vào chiếc gối lộ diện cho tôi thấy những tên lính gác gớm ghiếc đậu ở mỗi đầu gối – những con gián to bằng lá đào – lũ ác ôn với chiếc râu dài rung rẩy và đôi mắt đỏ ngầu, hung ác. Chúng đang nghiến răng kèn kẹt như sâu ăn lá thuốc lá và có vẻ bất mãn điều gì đó. Tôi từng nghe nói lũ quái vật này có thói quen gặm nhấm móng chân của các thủy thủ đang ngủ cho đến tận thịt non, và tôi quyết định không thèm bén mảng lên giường nữa. Tôi nằm xuống sàn. Nhưng một con chuột lại tới quấy rầy, và ngay sau đó một binh đoàn gián kéo đến cắm trại trên mái tóc tôi. Chỉ ít phút sau, con gà trống lại gáy vang với tinh thần phơi phới và một bầy bọ chét đang nhào lộn vòng cầu quanh người tôi trong cơn điên cuồng tột độ, cứ đụng vào đâu là cắn ở đó. Tôi bắt đầu cảm thấy thực sự cáu tiết. Tôi đứng dậy, mặc quần áo rồi bước lên boong.
Những điều trên không hề phóng đại; đó là một bức tranh chân thực về cuộc sống trên những con tàu buồm chạy giữa các đảo. Chẳng thể nào giữ cho một con tàu ở trạng thái lịch lãm khi nó chở theo mật mía và người Kanaka.
Đó là sự đền bù cho những khổ sở của tôi khi bất ngờ bắt gặp một khung cảnh quá đỗi nên thơ – khi bước phắt khỏi bóng tối u ám như địa ngục của khoang tàu để đứng dưới thứ ánh sáng mạnh mẽ của vầng trăng, như thể chễm chệ giữa một vùng biển lấp lánh bạc lỏng; để nhìn thấy những cánh buồm rộng căng phồng trong cơn gió bão, con tàu nghiêng hẳn sang một bên, bọt sóng giận dữ gầm rít lướt qua mạn khuất gió của nó, và những luồng nước bắn tung tóe lên cao qua mũi tàu rồi trút mưa xuống các boong; để gồng mình bám chặt lấy bất kỳ vật gì vừa tầm với, chiếc mũ sụp xuống và vạt áo bay phần phật trong gió, để cảm nhận sự phấn khích chạy dọc sống lưng và râm ran tận chân tóc khi biết rằng từng thớ vải đều đang căng gió và con tàu đang xé sóng lao đi với tốc độ tối đa. Ở đó không có bóng tối, không có sự mờ mịt hay u ám. Mọi thứ đều sáng rực, mọi vật thể hiện lên vô cùng sắc nét. Từng người Kanaka nằm rạp; từng cuộn thừng; từng chiếc bầu đựng poi; từng chú chó con; từng đường nối trên sàn tàu; từng con bu-lông; mọi vật dù nhỏ nhặt nhất đều hiện lên sắc sảo và rõ mồn một từng đường nét; và cái bóng của chiếc buồm chính trải dài đen kịt như tấm khăn tang trên boong, làm nổi bật khuôn mặt ngẩng cao trắng bệch của Billings trong vầng hào quang còn thân hình hắn thì chìm nghỉm trong bóng tối toàn phần.

Sáng thứ Hai, chúng tôi đã ở sát đảo Hawaii. Hai ngọn núi cao của nó hiện ra trước mắt – Mauna Loa và Hualaiai. Ngọn sau là một đỉnh núi uy nghi, nhưng vì chỉ cao mười nghìn feet nên hiếm khi được nhắc tới hay nghe tên. Mauna Loa được cho là cao mười sáu nghìn feet. Những tia sáng lấp lánh của băng tuyết ôm chặt lấy đỉnh núi như móng vuốt trông thật mát mắt khi nhìn từ cái khí hậu hầm hập mà chúng tôi đang trải qua. Người ta có thể đứng trên ngọn núi đó (quấn khăn chăn và đồ lông để giữ ấm), và trong khi nhâm nhi một nắm tuyết hoặc một thẻ băng để giải khát, người ta có thể phóng tầm mắt nhìn xuống sườn núi dải dài để thấy những nơi thực vật chỉ mọc ở xứ lạnh giá quanh năm của Mùa Đông; thấp hơn nữa, người ta có thể thấy những khu vực chuyên canh chỉ phát triển ở ôn đới; và dưới chân núi là quê hương của những rặng dừa chù ụ cùng các loài thực vật chỉ sinh trưởng trong bầu không khí ngột ngạt của Mùa Hè vĩnh cửu. Người ta có thể thu gọn tất cả các vành đai khí hậu trên thế giới vào chỉ một cái liếc mắt, và cái liếc mắt ấy chỉ quét qua một khoảng cách chừng bốn hoặc năm dặm chim bay!

Chẳng mấy chốc, chúng tôi xuống xuồng vào bờ tại Kailua, dự tính cưỡi ngựa xuyên qua vùng cam và cà phê dễ chịu của Kona, rồi hội quân lại với tàu tại một địa điểm cách đó vài hải lý. Chuyến hành trình này rất đáng để trải nghiệm. Con đường mòn chạy qua vùng đất cao – khoảng một nghìn feet so với mực nước biển – và thường cách đại dương chừng một dặm. Biển luôn hiện trong tầm mắt, trừ những lúc bạn thấy mình ngập chìm trong khu rừng giữa một vùng thực vật nhiệt đới rậm rạp cùng những tán cây um tùm vắt ngang con đường, che khuất mặt trời, biển cả và vạn vật, để lại bạn trong một đường hầm mờ ảo, râm mát, văng vẳng tiếng chim ca không thấy bóng và thơm ngát hương hoa. Thật dễ chịu khi thỉnh thoảng được cưỡi ngựa dưới ánh nắng ấm áp, thỏa thuê ngắm nhìn bức tranh toàn cảnh thay đổi không ngừng của khu rừng (trải dài phía trước và bên dưới chúng tôi) với muôn vàn sắc thái, những khoảng sáng tối dịu dàng, những đợt sóng nhấp nhô thoai thoải trượt từ đỉnh núi xuống tận biển sâu. Cũng thật sảng khoái khi chốc chốc lại rời bỏ cái nắng oi ả để bước vào không gian xanh mát, tĩnh lặng của khu rừng này và đắm mình trong những suy ngẫm bâng khuâng dưới nguồn cảm hứng từ chạng vạng u hoài cùng những tán lá xào xạc. Chúng tôi đã cưỡi ngựa qua một vườn cam có tới mười vạn gốc! Cây nào cây nấy oằn trĩu quả.
Tại một trang trại nọ, chúng tôi kiếm được vài quả đào to có hương vị tuyệt hảo. Loại quả này nhìn chung không hợp với quần đảo Sandwich. Chúng thường có hình dạng giống quả hạnh nhân, nhỏ và chát. Người ta bảo chúng cần sương giá, và có lẽ đúng là vậy; nếu thế thì chúng sẽ có khối cơ hội để tiếp tục cần, bởi xem chừng chẳng dễ gì chúng có được thứ đó. Những cây sinh ra thứ quả ngon tuyệt mà tôi vừa nhắc tới đã được trồng và trồng lại đến mười sáu lần, và chính phương pháp chăm sóc ấy đã đem lại thành công cho chủ nhân khu vườn.
Chúng tôi đi qua vài đồn điền mía – những đồn điền mới và quy mô không lớn lắm. Hầu hết các vụ mùa đều là mía gốc thế hệ thứ ba. [CHÚ THÍCH.—Vụ đầu tiên gọi là “mía tơ;” các vụ tiếp theo mọc lên từ bộ rễ ban đầu mà không cần trồng lại thì gọi là “mía gốc.”] Hầu như ở khắp nơi trên đảo Hawaii, mía đều chín trong vòng mười hai tháng, cả mía gốc lẫn mía tơ, và mặc dù chắc chắn nên thu hoạch ngay khi nó trổ cờ, nhưng thực ra cũng không quá bắt buộc cho đến tận khoảng bốn tháng sau đó. Ở Kona, năng suất trung bình của một mẫu đất là hai tấn đường, theo lời họ kể. Đây chỉ là mức năng suất trung bình đối với các hòn đảo này, nhưng sẽ là một con số đáng kinh ngạc đối với Louisiana và phần lớn các xứ sở trồng mía khác. Do các đồn điền ở Kona nằm trên vùng đất khá cao – tít trên cao nơi có những cơn mưa nhẹ và thường xuyên – nên chẳng cần phải tưới tiêu chi cả.
