Trong nhóm có hai kẻ khiến tôi vô cùng khó chịu. Một người là một thanh niên người Thụy Điển nhỏ thó, độ chừng hai mươi lăm tuổi, chỉ thuộc lòng đúng một bài hát và cứ nhai đi nhai lại mãi không thôi. Suốt cả ngày, tất cả chúng tôi bị dồn n ngột ngạt trong một căn phòng quán rượu nhỏ hẹp, thế nên chẳng tài nào tránh né được thứ âm thanh của kẻ này. Giữa những tiếng chửi thề, những màn nốc whisky, những ván bài "old sledge" và những trận cãi vã, khúc hát đơn điệu của hắn cứ vang lên đều đều chẳng một chút đổi thay hay bớt đi vẻ nhàm chán tẻ nhạt, đến mức cuối cùng tôi thà chết đi còn hơn để được thoát khỏi cái cực hình ấy. Người thứ hai là một tên côn đồ lực lưỡng có biệt danh là “Arkansas,” kẻ giắt hai khẩu súng lục ở thắt lưng và giắt một con dao găm dài lòi ra khỏi cổ ống giày, lúc nào cũng say xỉn và luôn chực chờ sinh sự đánh nhau. Nhưng hắn lại quá đáng sợ đến mức chẳng ai buồn tiếp chiêu. Hắn luôn tìm đủ mọi mưu mẹo ranh mãnh để gài bẫy ai đó thốt lên một câu xúc phạm, và gương mặt hắn thỉnh thoảng lại bừng sáng lên khi tưởng chừng đã đánh hơi thấy mùi chiến trận, thế nhưng nạn nhân của hắn lại luôn khéo léo lách tránh, để rồi sau đó hắn lại tỏ ra thất vọng đến độ gần như đáng thương. Lão chủ quán, Johnson, là một con người hiền lành, có thiện chí, và Arkansas đã nhắm vào lão từ sớm như một đối tượng đầy hứa hẹn, không để cho lão được yên thân dù ngày hay đêm trong suốt một thời gian. Đến buổi sáng thứ tư, Arkansas lại say mèm và ngồi chờ sẵn thời cơ. Chẳng mấy chốc Johnson bước vào, ngà ngày say hơi men và vui vẻ cất lời:
– Ta đoán rằng cuộc bầu cử ở Pennsylvania——
Arkansas liền giơ ngón tay ra hiệu đầy vẻ uy nghiêm và Johnson khựng lại. Arkansas lảo đảo đứng dậy đối đầu với lão. Hắn gầm lên:
– Th... thứ mày biết v... về Pennsylvania là gì? Trả lời tao xem nào. Th... thứ mày biết về Pennsylvania là cái quái gì?
– Tôi chỉ định nói là——
– Mày chỉ định nói là. Mày định thế đấy! Mày chỉ định nói là... mày định nói cái gì cơ chứ? Đó! Đó mới là điều tao muốn biết. Tao muốn biết th... thứ mày (nấc) thứ mày biết về Pennsylvania là gì, từ khi mà mày tỏ ra xấc xược đến thế hả. Trả lời tao mau!
– Thưa ngài Arkansas, nếu ngài chịu để cho tôi——

– Ai đang cản trở mày hả? Đừng có mà ám chỉ gì tao nhé!—đừng có hòng làm thế. Đừng có xông vào đây làm phách, chửi bới và làm rùm beng lên như một kẻ tâm thần—đừng có dại mà làm thế. Vì tao sẽ không để yên đâu. Nếu đánh nhau là điều mày muốn, thì phơi bày ra đi! Tao là đối thủ của mày đây! Phơi bày ra xem nào!
Johnson lùi phắt vào một góc, còn Arkansas thì lăm lăm tiến tới đầy đe dọa:
– Ơ hay, tôi có nói gì đâu, ngài Arkansas. Ngài chẳng cho người ta lấy một cơ hội nào cả. Tôi chỉ định nói rằng bang Pennsylvania chuẩn bị có cuộc bầu cử vào tuần tới—có thế thôi—đó là tất cả những gì tôi định nói—chẳng may tôi có mệnh hệ nào thì cứ coi như tôi nói dối.
– Ồ thế sao lúc nãy mày không nói ra đi? Mày xông xáo vênh váo kiểu đó để làm gì, và định gây sự à?
– Ơ hay tôi có vênh váo gì đâu, ngài Arkansas—tôi chỉ——
– Tao là thằng nói dối đấy phỏng? Ôi cái hồn của Đại đế Caesar——
– Ôi, xin ngài Arkansas, tôi nào có ý tứ gì như thế, nếu tôi dối trá thì xin cho tôi chết ngay đi. Tất cả mấy anh em ở đây đều có thể làm chứng rằng tôi vẫn luôn ca ngợi ngài, và kính trọng ngài hơn bất cứ ai trong cái quán này. Hãy hỏi Smith mà xem. Có phải thế không, hở Smith? Chẳng phải ngay từ tối hôm qua thôi, tôi đã nói rằng nếu xét về một kẻ luôn là quý ông trong mọi hoàn cảnh thì hãy cứ chọn Arkansas cho tôi đó sao? Tôi xin cam đoan với bất kỳ vị quý ông nào ở đây rằng đó chính là những từ ngữ mà tôi đã thốt ra. Nào, ngài Arkansas, chúng ta hãy cùng làm một ly—nào hãy bắt tay nhau và làm một ly đi. Lại đây nào—tất cả mọi người! Tôi mời đấy. Lại đây, Bill, Tom, Bob, Scotty—lại đây cả đi. Tôi muốn tất cả các anh em cùng nâng ly với tôi và Arkansas—Arkansas già, tôi vẫn gọi hắn thế đấy—gã Arkansas già tuyệt vời. Lại đây đưa tay cho tôi nào. Hãy nhìn hắn đi hỡi anh em—cứ nhìn kỹ hắn mà xem. Kìa đứng đó là người trong sạch nhất nước Mỹ!—và kẻ nào dám chối cãi điều đó thì cứ bước ra đấu với tôi, chỉ vậy thôi. Nào hãy đưa lại cho tôi cái tay kỳ cựu ấy xem nào!
Họ ôm chầm lấy nhau, với vẻ quấn quýt say sưa từ phía lão chủ quán và sự chịu đựng dửng dưng từ phía Arkansas; kẻ bị mua chuộc bởi một ly rượu nên một lần nữa lại đành ngậm ngùi bỏ lỡ con mồi. Thế nhưng gã chủ quán ngốc nghếch lại quá đỗi vui mừng vì thoát nạn đồ tể, nên cứ huyên thuyên mãi trong lúc lẽ ra lão phải chuồn đi chỗ khác để tránh hiểm họa. Hậu quả là chẳng mấy chốc Arkansas lại bắt đầu trừng trừng nhìn lão đầy nguy hiểm, rồi chẳng mấy chốc cất giọng:
– Này chủ quán, nếu được thì phiền mày nhắc lại câu nói khi nãy được không?
– Tôi đang nói với Scotty rằng bố tôi năm nay đã trên tám mươi tuổi khi ông qua đời.
– Chỉ có thế thôi à?
– Vâng, chỉ có thế thôi.
– Không nói gì khác nữa à?
– Không—chẳng nói gì nữa.
Thế rồi một sự im lặng khó chịu bao trùm.
Arkansas nghịch ly nước trong chốc lát, tì khuỷu tay lên quầy bar. Sau đó, trong lúc sự im lặng ngượng ngùng vẫn tiếp diễn, hắn trầm ngâm dùng chiếc bốt bên phải gãi gãi ống chân bên trái. Nhưng chẳng mấy chốc hắn lững thững đi về phía lò sưởi với vẻ mặt bất mãn; thô bạo húc vai đẩy hai ba người ra khỏi một chỗ ngồi ấm cúng; tự mình chiếm lấy chỗ đó, tung một cú đá vào con chó đang ngủ khiến nó rên hừ hừ chui tót xuống gầm băng ghế, rồi dạng rộng đôi chân dài cùng vạt áo khoác dày của mình ra để sưởi ấm phần lưng. Chẳng bao lâu sau hắn bắt đầu lẩm bẩm càu nhàu với chính mình, và chẳng mấy chốc lại lê bước trở lại quầy bar rồi cất giọng:
– Này chủ quán, ý mày là gì khi cứ khơi lại chuyện cá nhân cũ và khoác lác về ông bố của mày hả? Bộ đám đông ở đây không vừa mắt mày lắm sao? Có phải thế không? Nếu đám đông này không vừa mắt mày, thì có lẽ chúng tao nên biến cho rồi. Đó là ý mày à? Mày đang định giở trò gì đấy hả?
– Ơ kìa Chúa phù hộ ngài, Arkansas, tôi nào có nghĩ ngợi gì đến chuyện đó. Bố tôi và mẹ tôi——
– Này chủ quán, đừng có ép người quá đáng nhé! Đừng có làm thế. Nếu mày chỉ muốn gây sự mới chịu thôi thì hãy bày tỏ ra như một thằng đàn ông (nấc)—chứ đừng có khơi lại chuyện cũ rích rồi ném thẳng vào mặt một đám người vốn chỉ muốn sống yên lành nếu bọn họ có cơ hội. Mệnh hệ gì với mày vào sáng nay thế hả? Tao chưa từng thấy kẻ nào giở thói hành xử như vậy.
– Arkansas, thực tình tôi không hề có ý xấu, và tôi sẽ không nói tiếp nữa nếu điều đó làm ngài khó chịu. Tôi đoán là hơi men đã bốc lên đầu, lại thêm chuyện lụt lội cùng việc phải lo ăn uống cho ngần ấy con người...
– Hóa ra đó là điều đang gặm nhấm trong lòng mày đấy phỏng? Mày muốn bọn tao xéo đi chứ gì? Có đông quá không hả. Mày muốn bọn tao gói ghém rồi bơi đi chỗ khác chứ gì? Nào, nói xem!
– Xin ngài hãy lý trí một chút đi, Arkansas. Ngài thừa biết tôi không phải là kẻ kiểu như——
– Mày đang đe dọa tao đấy à? Có thật thế không? Có trời đất chứng giám, trên đời này chưa sinh ra kẻ nào hù dọa được tao! Đừng có giở cái trò đó ra với tao, chú em ạ—vì tao có thể chịu đựng được khối thứ, nhưng riêng chuyện đó thì không. Bước ra khỏi đằng sau cái quầy bar kia để tao dạy cho mày một bài học xem nào! Mày muốn đuổi cổ bọn tao đi chứ gì, cái đồ tiểu nhân lén lút bỉ ổ này! Bước ra khỏi đằng sau quầy bar mau! Tao sẽ cho mày biết thế nào là thói hách dịch, bắt nạt và uy hiếp một người quân tử vẫn luôn tìm cách đối xử tử tế và che chở cho mày khỏi rắc rối!
– Xin ngài, Arkansas, xin ngài đừng nổ súng! Nếu nhất thiết phải có cảnh đổ máu——
– Các người có nghe thấy không hỡi các vị bằng hữu? Các người có nghe hắn nói về chuyện đổ máu đó không? Hóa ra thứ mày thèm khát chính là máu me đấy phỏng, hỡi tên du thủ du thực điên rồ kia! Mày đã sớm hạ quyết tâm sáng nay sẽ sát hại ai đó rồi—tao thừa biết điều đó. Tao là kẻ xấu số đấy phỏng? Chính là tao kẻ mà mày định ra tay sát hại chứ gì? Nhưng mày đừng hòng làm được điều đó nếu tao không giành được cho mình một cơ hội trước đã, cái đồ con hoang trộm cắp, đen tối, hèn nhát như loài chó mửa! Rút vũ khí ra mau!
Dứt lời, Arkansas bắt đầu nổ súng, còn lão chủ quán thì cuống cuồng trèo qua các băng ghế, qua người khách và đủ mọi vật cản với niềm khao khát tột độ được chạy trốn. Giữa khung cảnh hỗn loạn điên cuồng ấy, lão chủ quán lao sầm qua một cánh cửa kính, và khi Arkansas gầm rú lao theo sau thì vợ lão bỗng xuất hiện ngay ngưỡng cửa, đối đầu với tên du côn bằng một cây kéo! Cơn thịnh nộ của mụ thật lẫy lừng. Với cái đầu ngẩng cao và đôi mắt sắc lẹm, mụ đứng sững lại trong giây lát rồi tiến thẳng tới với thứ vũ khí giơ cao. Tên côn đồ ngạc nhiên khựng lại, rồi lùi lại một bước. Mụ tiến lên. Mụ ép hắn lùi từng bước một ra giữa căn phòng quán rượu, và rồi, trong lúc đám đông đang ngạc nhiên xúm lại ngắm nhìn, mụ đã trút lên đầu hắn một trận mắng mỏ xối xả mà có lẽ chưa một gã khoác lác hèn nhát nào từng phải hứng chịu trước đó! Khi mụ dứt lời và lùi bước trong vinh quang, một tràng pháo tay vang dội làm rung chuyển cả căn nhà, và mọi người đàn ông đều đồng thanh cất lời kêu gọi “mỗi người một ly thết đãi cả quán.”

Bài học đó quả thực quá sức thấm thía. Triều đại khủng bố đã chấm dứt, và sự thống trị của Arkansas xem như tiêu đời vĩnh viễn. Suốt khoảng thời gian còn lại bị kẹt lại trên cù lao, có một kẻ đã ngồi lủi thủi một mình trong trạng thái nhục nhã ê chề, chẳng bao giờ tham gia vào bất kỳ cuộc cãi vã nào hay thốt ra một lời khoác lác, cũng chẳng hề tỏ ra bất bình trước những lời lăng mạ mà đám đông từng luồn cúi nay đang liên tục trút lên đầu hắn, và kẻ đó chính là “Arkansas.”
Đến sáng ngày thứ năm hoặc thứ sáu, nước lụt đã rút khỏi đất liền, nhưng dòng nước ở lòng sông cũ vẫn chảy xiết và dâng cao khiến việc sang sông là điều bất khả thi. Sang ngày thứ tám, nước vẫn còn quá lớn để có thể qua sông một cách hoàn toàn an toàn, thế nhưng cuộc sống trong quán trọ đã trở nên gần như không thể chịu đựng nổi vì cảnh rác rưởi, say xỉn, đánh nhau v.v., thế nên chúng tôi quyết định tìm cách rời đi. Giữa trận bão tuyết mịt mùng, chúng tôi bước lên một chiếc xuồng độc mộc, mang theo cả yên ngựa và dắt theo những con ngựa bơi ở phía sau bằng dây cương. Gã người Phổ, Ollendorff, ngồi ở mũi xuồng cầm một cây dầm, Ballou chèo ở giữa, còn tôi ngồi ở đuôi xuồng giữ chặt mấy sợi dây cương. Khi lũ ngựa bị hụt chân và bắt đầu bơi, Ollendorff bỗng hoảng hốt, bởi vì có nguy cơ lớn là đám ngựa sẽ làm hướng đi của chúng tôi chệch choạc, và rõ ràng là nếu chúng tôi không cập bờ đúng một địa điểm nhất định thì dòng nước xiết sẽ cuốn trôi và hầu như chắc chắn ném chúng tôi xuống dòng sông Carson chính, vốn lúc bấy giờ đang là một cơn hồng thủy cuồn cuộn. Thảm họa như vậy rất có thể sẽ dẫn đến cái chết, bởi vì chúng tôi sẽ bị cuốn ra biển ở vùng “Sink” hoặc bị lật úp rồi dìm chết. Chúng tôi đã cảnh báo Ollendorff phải giữ vững tinh thần và cẩn trọng tay chèo, nhưng vô ích; ngay khoảnh khắc mũi xuồng vừa chạm bờ, hắn liền chồm lên nhảy vọt khiến chiếc xuồng lật nhào ngửa bụng giữa vùng nước sâu mười thước.

Ollendorff túm lấy một nhành cây bụi rồi tự kéo mình lên bờ, nhưng Ballou và tôi thì buộc phải bơi vào, vướng víu trong những chiếc áo khoác dày. Dù vậy chúng tôi vẫn bám chặt lấy chiếc xuồng, và mặc dù bị dòng nước cuốn trôi tuột xuống gần sông Carson, chúng tôi vẫn cố gắng đẩy được chiếc thuyền vào bờ và cập bến an toàn. Người chúng tôi lạnh cóng và ướt sũng, nhưng vẫn bình an vô sự. Lũ ngựa cũng đã bơi được vào bờ, nhưng dĩ nhiên là những chiếc yên ngựa của chúng tôi thì đã mất sạch. Chúng tôi buộc lũ thú vào khóm cây ngải đắng và chúng đành phải ở lại đó suốt hai mươi bốn giờ đồng hồ. Chúng tôi tát cạn nước trong xuồng rồi chèo sang sông mang ít thức ăn cùng chăn mền cho chúng, nhưng chúng tôi vẫn phải ngủ lại quán trọ thêm một đêm nữa trước khi mạo hiểm dấn thân vào hành trình một lần nữa.
Sáng hôm sau, tuyết vẫn rơi tầm tã khi chúng tôi lên đường với số yên ngựa và trang bị mới toanh. Chúng tôi leo lên lưng ngựa và khởi hành. Tuyết phủ dày đặc trên mặt đất đến mức chẳng còn lấy một dấu vết nào của con đường, và trận bão tuyết dày đặc đến độ chúng tôi chẳng thể nhìn xa quá một trăm thước phía trước, bằng không chúng tôi đã có thể định hướng dựa vào các dãy núi. Mọi chuyện xem chừng vô cùng mờ mịt, nhưng Ollendorff tuyên bố rằng trực giác của hắn nhạy bén chẳng kém gì la bàn, và hắn có thể “đi thẳng một mạch” tới thành phố Carson mà không hề chệch hướng chút nào. Hắn quả quyết rằng nếu hắn có đi chệch dù chỉ một ly khỏi đường đi chính xác thì trực giác của hắn sẽ cắn rứt hắn như một lương tâm đầy tội lỗi. Thế là chúng tôi vui vẻ và an tâm nối đuôi theo sau hắn. Suốt nửa giờ đồng hồ, chúng tôi cứ thế dò dẫm tiến bước khá cẩn trọng, nhưng khi hết khoảng thời gian đó thì chúng tôi bắt đầu bắt gặp một dấu vết hãy còn mới tinh, và Ollendorff kiêu hãnh hô lên:
– Tao đã bảo mà, tao chắc chắn chuẩn xác như một chiếc la bàn đấy hỡi các cậu! Chúng ta đây rồi, ngay trên vết chân của một tốp người nào đó, họ sẽ dẫn đường cho chúng ta đi mà chẳng chút nhọc nhằn gì. Nào hãy mau mau bắt kịp và gia nhập đoàn với họ thôi.
Thế là chúng tôi giục ngựa bước vào một nhịp nước kiệu hết mức có thể trong lớp tuyết dày, và chẳng mấy chốc ai nấy đều thấy rõ rằng chúng tôi đang bắt kịp những kẻ đi trước, bởi những dấu vết ngày càng trở nên rõ nét hơn. Chúng tôi vội vã tiến bước, và sau một giờ đồng hồ thì những dấu vết trông lại càng mới mẻ hơn nữa—nhưng điều khiến chúng tôi ngạc nhiên là số lượng lữ khách đi trước dường như cứ liên tục tăng lên đều đặn. Chúng tôi tự hỏi làm thế nào mà một nhóm đông đảo đến thế lại có thể di chuyển trong một thời tiết và chốn hoang vu thế này. Ai đó gợi ý rằng đó hẳn phải là một đại đội binh lính xuất phát từ phồn đài, thế là chúng tôi chấp nhận lời giải thích đó và tiếp tục lúp xúp tiến nhanh hơn một chút nữa, bởi vì họ chắc chắn không thể ở quá xa lúc này. Thế nhưng những dấu vết vẫn cứ nhân lên mãi, và chúng tôi bắt đầu nghĩ rằng tiểu đội binh lính ấy đang kỳ diệu phình to thành cả một trung đoàn—Ballou còn bảo rằng chúng đã tăng lên tới năm trăm tên rồi đấy! Bỗng hắn dừng ngựa lại và cất giọng:
– Này các cậu, đây chính là dấu chân của chúng ta, và chúng ta thực chất đã lượn lờ đi vòng vo tam quốc suốt hơn hai tiếng đồng hồ qua, ngay giữa chốn sa mạc mờ mịt này đây! Có trời đất quỷ thần ơi, chuyện này quả là kỳ quặc đến khó tin!

Thế rồi ông cụ nổi giận đùng đùng và tuôn ra đủ lời mắng chửi. Ông gọi Ollendorff bằng đủ thứ biệt danh nặng nề—bảo rằng chưa từng thấy một tên ngốc nào ngu ngốc đến thế, và kết lại bằng một nhận xét đầy cay độc rằng hắn “còn chẳng thông minh bằng một con logarit!”
Quả thực chúng tôi đã đi theo chính những dấu vết của mình. Ollendorff và cái “la bàn tinh thần” của hắn từ khoảnh khắc đó chính thức rơi vào cảnh thất sủng.
Sau bao chặng đường gian lao vất vả, chúng tôi nay lại đứng ngay bên bờ suối, với khung cảnh quán trọ phía bên kia thấp thoáng ẩn hiện qua màn bão tuyết mịt mù. Trong lúc chúng tôi đang băn khoăn không biết phải làm gì, chàng thanh niên người Thụy Điển từ trên xuồng bước lên bờ và cất bước đi bộ về hướng Carson, miệng vẫn nghêu ngao bài hát nhàm chán quen thuộc về “người chị và người em trai” cùng “đứa trẻ nằm dưới mồ cùng với người mẹ,” rồi chỉ trong chớp mắt mờ dần và biến mất vào màn sương trắng xóa. Chẳng ai còn nghe tin tức gì về hắn nữa. Hắn chắc chắn đã bị bối rối mất phương hướng và Sự Kiệt Qu sức đã giao nộp hắn cho Giấc Ngủ, còn Giấc Ngủ lại phản bội hắn trao cho Tử Thần. Rất có thể hắn đã đi theo những dấu vết đầy phỉnh gạt của chúng tôi cho đến khi kiệt sức rồi gục xuống.

Chẳng mấy chốc, chiếc xe ngựa tuyến đường dài Overland đã lội qua dòng nước đang rút nhanh và khởi hành hướng về Carson trong chuyến hành trình đầu tiên kể từ khi trận lụt quét qua. Lúc này chúng tôi không còn chần chừ gì nữa, bèn bám theo sau xe và vui vẻ giục ngựa phi nước kiệu, bởi vì chúng tôi hoàn toàn đặt niềm tin vào khả năng định hướng của người đánh xe. Thế nhưng những con ngựa của chúng tôi làm sao sánh kịp với đàn ngựa kéo xe tươi tắn kia. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã bị bỏ lại khuất tầm mắt; nhưng chẳng hề gì, bởi vì chúng tôi đã có những rãnh bánh xe sâu hoắm để làm la bàn dẫn đường. Lúc này đã là ba giờ chiều, và do đó chẳng mấy chốc màn đêm sẽ buông xuống—không phải bằng một khoảng chạng vạng chần chừ, mà là sụp xuống đột ngột như cánh cửa hầm rượu, vốn là thói quen ở vùng đất đó. Trận bão tuyết vẫn dày đặc như mọi khi và dĩ nhiên chúng tôi chẳng thể nhìn xa quá mười lăm bước chân phía trước; thế nhưng bao quanh chúng tôi, ánh sáng trắng lóa của lớp nền tuyết đã giúp chúng tôi nhận ra những gò đất hình bánh đường láng mịn được tạo nên bởi những khóm ngải đ๊ก bị tuyết phủ kín, và ngay phía trước là hai rãnh bánh xe mờ nhạt mà chúng tôi biết rằng đang dần bị lấp đầy và xóa nhòa đi.
Giờ thì những khóm ngải đắng ấy đều có chiều cao xấp xỉ nhau—khoảng ba đến bốn thước; chúng mọc cách nhau chừng bảy thước khắp cả vùng sa mạc rộng lớn; giờ đây mỗi khóm chỉ là một gò tuyết đơn thuần; theo bất cứ hướng nào mà bạn bước đi (tựa như trong một khu vườn cây ăn quả được quy hoạch ngăn nắp), bạn sẽ thấy mình đang đi dọc theo một đại lộ được vạch ranh giới rõ mồn một, với một hàng gò tuyết ở mỗi bên—một đại lộ có bề rộng đúng bằng một con đường bình thường, phẳng lì và đẹp đẽ, nhô cao ở hai bên một cách vô cùng tự nhiên chính nhờ những gò tuyết ấy. Thế nhưng chúng tôi đã chẳng hề nghĩ đến điều này. Thế rồi hãy thử tưởng tượng cảm giác ớn lạnh buốt thấu xương chạy dọc sống lưng khi cuối cùng chúng tôi nhận ra, vào lúc đêm đã khuya, rằng kể từ khi dấu vết mờ nhạt cuối cùng của các vết bánh xe đã bị vùi lấp khỏi tầm nhìn từ lâu, rất có thể lúc này chúng tôi đang lang thang dọc theo một lối đi ngải đắng nào đó, cách xa con đường cái quan đến hàng dặm trời và càng lúc càng đi lệch ra xa hơn nữa. Cảm giác có một cục nước đá trượt tuột xuống sống lưng so với điều này còn dễ chịu chán. Tim chúng tôi bỗng đập thình thịch và dòng máu vốn đã ngưng trệ suốt cả tiếng đồng hồ bỗng chốc sục sôi, đánh thức mọi giác quan đang rũ ngủ trong tâm trí lẫn thể xác. Chúng tôi lập tức bỉnh tỉnh và hoàn toàn tỉnh táo—đồng thời cũng run lẩy bẩy vì kinh hoàng. Lập tức có lệnh dừng chân và xuống ngựa, rồi cúi rạp người xuống để dò dẫm quét mắt nhìn kỹ nền đường. Dĩ nhiên là vô ích; bởi vì nếu một vết lõm mờ nhạt mà người ta không thể nhận ra từ độ cao bốn hay năm thước phía trên, thì chắc chắn chẳng thể nào thấy được khi mũi đã gần như sát rạt xuống mặt đất.
