Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với hình ảnh người phụ nữ khao khát tự kiếm sống bằng sức lao động của mình, không cần đến sự bảo bọc của người chồng. Trong vở kịch này, tôi đã chỉ ra xu hướng của vấn đề nan giải đó cùng những hệ lụy mà các nền văn minh lâu đời sẽ tự gây ra cho mình khi địa vị của người phụ nữ với tư cách là một người lao động được thừa nhận rộng rãi. Theo tôi thấy, kết luận của tôi—rằng mọi rắc rối và phức tạp này, ít nhất là vào thời điểm hiện tại, đều bắt nguồn từ sự giáo dục của nam giới—đã chỉ ra hướng giải quyết cho vấn đề.
Tôi phải thông báo với bạn đọc rằng bản thảo của tác phẩm La Femme Seule, bản dịch đang được ấn hành trong tập sách này, cho đến nay vẫn chưa từng xuất hiện tại Pháp và hoàn toàn xa lạ với công chúng nước này; ít nhất là đối với phần lớn nội dung của hồi thứ ba. Nếu thấy thích hợp, tôi hoàn toàn có thể tái bản trọn vẹn một văn bản mà trước đây, do một vài sự e dè nào đó, tôi đã phải lược bớt.
Xét giữa nam giới và phụ nữ, tình trạng lý tưởng nhất không gì khác ngoài việc khôi phục phong tục xưa—người đàn ông làm việc tại xưởng, người phụ nữ tề gia nội trợ; qua đó dành riêng cho nàng sứ mệnh thiêng liêng và quan trọng nhất—sứ mệnh bảo đảm tương lai cho giống nòi thông qua sự chăm sóc đầy hiểu biết của nàng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của con trẻ.
Đáng tiếc thay, tiền công của người lao động nam lại không đủ để trang trải cho cả gia đình, thế là người phụ nữ nghèo đành ngậm ngùi bước vào nhà máy. Hệ quả để lại thật đáng buồn. Những đứa trẻ hoặc bị bỏ mặc hoàn toàn, hoặc được giao phó cho nhà nước, và tình đoàn kết trong gia đình vì thế mà rạn nứt.
Mặt khác, một thế hệ phụ nữ mang tư tưởng mới đã trỗi dậy; họ cho rằng bản thân có quyền, nếu muốn, được sống độc lập một mình mà không cần sự chở che của chồng. Dù một số người trong chúng ta có tiếc nuối thái độ này đến đâu đi nữa, thì chúng ta vẫn phải chấp nhận nó, bởi tôi không thể tin rằng những bạo chúa tàn ác nhất lại dám biến hôn nhân thành điều luật bắt buộc. Những người phụ nữ ấy có quyền mưu sinh, và đồng thời cũng có quyền lao động. Chưa kể đến những góa phụ và những người phụ nữ bị bỏ rơi.
Ban đầu, phụ nữ chọn những công việc phù hợp nhất với họ, những công việc mà đàn ông nhường lại vì thấy chúng thích hợp với bản tính phái nữ. Thế nhưng, người phụ nữ hiện đại đã chán ngấy đồng lương chết đói kiếm được từ việc thêu thùa may vá, nên họ đã tràn vào các cửa tiệm, văn phòng, bàn giấy của các ngân hàng và bưu điện. Trong lĩnh vực công nghiệp, họ cũng đã chen chân đứng cạnh những nam công nhân—những người ban đầu nhường chỗ cho họ với nụ cười đầy mỉa mai, rồi đến cằn nhằn, và đôi khi là cả sự tức giận. Tôi tin rằng, ít nhất là tại châu Âu, chúng ta sẽ còn phải đối mặt với dạng khó khăn này trong tương lai.
Còn về những người phụ nữ giàu có (và trong tác phẩm La Femme Seule, tôi chỉ đề cập thoáng qua chủ đề này vì tôi dự định sẽ quay lại sau), họ đã bị đẩy ra khỏi tổ ấm nơi tiến trình phát triển của khoa học gia đình đã để lại cho họ quá ít việc để làm. Chúng ta đã chạm đến một hình thức chủ nghĩa xã hội nhà nước mang tính đạo đức giả, hay nói cách khác là chủ nghĩa tập thể, và điều này sẽ làm thay đổi sâu sắc diện mạo luân lý. Toàn bộ, hoặc gần như toàn bộ, công việc nội trợ dường như đều do người ngoài lo liệu—từ việc lau cửa sổ cho đến giáo dục con cái. Ngôi nhà hiện đại chẳng khác nào một lò sưởi quạnh quẽ nơi người ta hiếm khi thấy các thành viên quây quần để trò chuyện thân mật.
Cứ như vậy, người phụ nữ thấy mình không có việc làm mà lại vướng bận mấy đứa con nhỏ, liền phóng tầm mắt nhìn ra ngoài ô cửa sổ để tìm kiếm nơi tiêu thụ năng lượng cho các hoạt động của mình. Tương lai sẽ cho chúng ta câu trả lời liệu điều này là tốt hay xấu. Riêng tôi, tôi tin rằng nó tốt, và tôi tin rằng nam giới sẽ gặt hái được những lợi ích từ sự khôn ngoan mới mẻ này—hướng tới một cuộc sống rộng mở hơn mà phụ nữ đã vươn tới do chính nhu cầu bức thiết của họ. Chắc chắn là sẽ cần phải có một nền giáo dục mới, và điều đó rồi sẽ đến.
La Foi.—Trong số tất cả các vở kịch của tôi, đây chắc chắn là tác phẩm ngốn nhiều công sức nhất, đồng thời cũng là tác phẩm tôi đã đầu tư nhiều suy nghĩ và thời gian nhất. Động lực thôi thúc tôi viết nó đến với tôi tại Lourdes, khi tận mắt chứng kiến những đám đông đang quằn quại trong đau đớn, cầu nguyện và chìm đắm trong sự cuồng nhiệt. Khi ý định viết tác phẩm này xuất hiện, tôi đã do dự, nhưng trong suốt nhiều năm trời, tôi đã tích lũy hết ghi chú này đến ghi chú khác. Và chính trong chuyến đi đến Ai Cập, tôi đã nhìn thấy khả năng đưa những vấn đề như vậy lên sân khấu mà không làm tổn thương lương tâm của bất kỳ ai. Người bạn chân chính và lừng lẫy của tôi, Camille Saint-Saëns, đãân cần tô điểm cho phần văn xuôi của tôi bằng thứ âm nhạc tuyệt diệu của anh ấy. Nhờ vậy, La Foi đã được công diễn lần đầu tiên trên sân khấu Monte Carlo dưới sự bảo trợ của Hoàng thân Monaco, người mà giờ đây tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc.
Tôi nghĩ rằng các độc giả người Anh của tác phẩm La Robe Rouge sẽ có phần bối rối nếu họ không hiểu rõ sự khác biệt giữa thủ tục tố tụng hình sự tại Pháp và tại Vương quốc Anh. Mục đích của lời tựa này là tôi muốn cố gắng phác họa sự khác biệt ấy chỉ trong vài lời.
Ở đất nước các bạn, một phiên tòa hình sự được tiến hành công khai trước bồi thẩm đoàn; còn ở chỗ chúng tôi tại Pháp, nó diễn ra ngay trong phòng làm việc của Thẩm phán và chỉ có sự hiện diện của luật sư. Phương pháp sau đôi khi dẫn đến những bi kịch mà vở kịch La Robe Rouge của tôi là một minh chứng. Vị thẩm phán, vì quá gắn kết trực tiếp vào vụ án và không phải chịu những lời chỉ trích có thể giáng xuống từ công luận, rất dễ rơi vào cạm bẫy tự phán đoán tội trạng của bị cáo. Ông ta có thể làm điều này với thiện chí hoàn toàn trong sáng, nhưng đôi khi lại phải đối mặt với nguy cơ vấp phải những sai lầm nghiêm trọng. Do đó, thỉnh thoảng ông ta lại tỏ ra số sắng không phải để tìm ra sự thật, mà là để chứng minh rằng nhận định vốn dĩ thường vội vàng của bản thân là đúng.
La Robe Rouge là một lời chỉ trích đối với một số thủ tục tố tụng tư pháp đang tồn tại ở Pháp; nhưng đồng thời, nó cũng là một nghiên cứu về một trường hợp cụ thể của sự nhũng nhiễu nghề nghiệp. Chúng ta sẽ sai lầm lớn nếu rút ra kết luận nguy hiểm rằng tất cả các thẩm phán Pháp đều giống như Mouzon, và chúng ta cũng sẽ sai lầm không kém khi vội vã lên án bộ luật tố tụng hình sự của nước Pháp.
Trong cuộc chiến giữa xã hội và tội phạm, thật vô cùng khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả thi, để nhà lập pháp có thể cân đong đo đếm thật công bằng giữa quyền lợi của cá nhân và lợi ích của xã hội. Cân bằng đôi khi nghiêng về phía này, đôi khi lại lệch về phía khác; và giả sử tôi là một công dân Anh, thay vì viết một vở kịch chống lại sự lạm quyền tư pháp của một thẩm phán, có lẽ tôi đã phải minh họa chính sự lạm quyền đó qua hình ảnh của một luật sư.
Tôi vô cùng mong mỏi rằng ba vở kịch này sẽ khơi gợi được sự quan tâm từ nhân dân Anh và Mỹ. Tôi chắc chắn rằng mình vẫn chưa đưa ra được lời giải đáp trọn vẹn cho những vấn đề mà tôi đã nghiên cứu. Tham vọng của tôi chỉ là thu hút và duy trì sự chú ý của những người lương thiện đối với các vấn đề ấy thông qua sân khấu.
BRIEUX.