Khi Abel Gay trả cho Valancy tháng lương đầu tiên—ông đưa rất sòng phẳng, bằng những tờ giấy bạc nồng nặc mùi thuốc lá và rượu whisky—cô liền đi thẳng tới Deerwood và tiêu sạch từng xu. Cô mua được một chiếc váy vải crêpe màu xanh lục tuyệt đẹp với dải thắt lưng kết hạt cườm đỏ thắm trong một đợt giảm giá, một đôi tất lụa tiệp màu, cùng chiếc mũ vải gợn sóng nhỏ nhắn màu xanh cài một đóa hồng thắm. Cô thậm chí còn mua cả một chiếc áo ngủ ngớ ngẩn điểm xuyết đầy ruy băng và viền ren.
Cô đi ngang qua ngôi nhà trên phố Elm hai lần—Valancy thậm chí chẳng còn nghĩ về nơi đó như là "nhà" nữa—nhưng không thấy bóng dáng ai. Chắc chắn mẹ cô đang ngồi trong phòng vào buổi tối tháng Sáu êm ả này để chơi trò xếp bài lá—và gian lận. Valancy thừa biết bà Frederick lúc nào cũng ăn gian. Bà chưa từng thua một ván nào bao giờ. Hầu hết những người Valancy gặp trên đường đều nhìn cô với vẻ nghiêm nghị rồi lướt qua bằng một cái gật đầu lạnh nhạt. Chẳng ai buồn dừng lại để bắt chuyện với cô.
Về đến nhà, Valancy mặc thử chiếc váy xanh vào người. Thế rồi cô lại cởi nó ra ngay. Chiếc cổ khoét sâu cùng phần tay cộc khiến cô cảm thấy hở hang một cách khốn khổ. Còn dải thắt lưng đỏ thắm trễ ngang hông trông lại càng khiếm nhã làm sao. Cô treo nó vào tủ quần áo, trong lòng trào dâng cảm giác chán chường cay đắng rằng mình đã ném tiền qua cửa sổ. Cô sẽ chẳng bao giờ có đủ can đảm để diện bộ váy ấy. Lời luận tội của John Foster về nỗi sợ hãi cũng không đủ sức giúp cô cứng rắn trước điều này. Riêng trong chuyện này, lề thói và thói quen xưa cũ vẫn nắm quyền lực tuyệt đối. Dẫu vậy, cô vẫn thở dài khi bước xuống nhà để gặp Barney Snaith trong bộ váy lụa màu nâu thuốc hít cũ kỹ. Bộ đồ màu xanh kia thật sự rất tôn dáng—chỉ một cái liếc nhìn đầy ngượng ngùng trong gương cũng đủ cho cô thấy điều đó. Bên trên chiếc váy, đôi mắt cô sáng ngời như những viên ngọc màu nâu kỳ ảo, và dải thắt lưng đã khiến thân hình phẳng lặng của cô mang một diện mạo hoàn toàn khác biệt. Cô ước gì mình có thể cứ mặc nó trên người. Nhưng có những điều mà John Foster đâu thể nào hiểu thấu.
Cứ mỗi chiều Chủ nhật, Valancy lại đến nhà thờ Giám lý Tự do nhỏ bé nằm trong thung lũng ven ranh giới "vùng hẻo lánh"—đó là một tòa nhà nhỏ màu xám không có tháp chuông nép mình giữa rặng thông, với vài ngôi mộ sụt lún cùng những tấm bia phủ đầy rêu phong nằm trong khoảng sân vuông vắn mọc đầy cỏ dại, bao quanh bởi hàng rào cọc gỗ. Cô mến vị mục sư thuyết giảng nơi đây. Ông cụ thật giản dị và chân thành. Cụ sống ở Port Lawrence, cứ chèo chiếc thuyền máy nhỏ giấu chân vịt băng qua hồ để đến làm lễ miễn phí cho những người dân nghèo khó trên các trang trại sỏi đá sau rặng đồi, những người mà nếu không có cụ thì sẽ chẳng bao giờ được nghe lời Phúc Âm. Cô yêu thích buổi lễ mộc mạc cùng những tiếng hát thánh ca tha thiết. Cô thích ngồi bên khung cửa sổ mở toang mà ngắm nhìn rừng thông ngút ngàn. Giáo đoàn lúc nào cũng thưa thớt. Tín đồ Giám lý Tự do chỉ có vài mống, vừa nghèo lại đa phần mù chữ. Thế nhưng Valancy lại tha thiết yêu những buổi tối Chủ nhật ấy. Lần đầu tiên trong đời, cô thấy thích đi nhà thờ. Tin đồn cô "theo đạo Giám lý Tự do" truyền về tận Deerwood khiến bà Frederick phải ngã bệnh nằm liệt giường mất một ngày. Nhưng Valancy chẳng theo cái gì cả. Cô đến nhà thờ chỉ vì cô thích, và vì bằng một cách khó hiểu nào đó, nơi đây mang lại sự thanh thản cho tâm hồn cô. Cụ Towers già thực lòng tin vào chính những điều mình thuyết giảng, và điều ấy tạo nên một sự khác biệt to lớn đến lạ kỳ.
Kỳ lạ thay, Abel Gầm Rú cũng phản đối kịch liệt việc cô đi nhà thờ trên đồi, chẳng kém gì bà Frederick. Ông "chẳng thèm dính dáng gì tới lũ Giám lý Tự do. Ông là người theo Trưởng Lão giáo." Nhưng mặc kệ ông, Valancy vẫn cứ đi.
"Chẳng mấy chốc chúng ta lại nghe thấy những chuyện tồi tệ hơn về nó cho mà xem," bác Benjamin u ám tiên đoán.
Và đúng như lời bác nói.
Đến chính Valancy cũng không thể giải thích nổi vì sao mình lại muốn đi dự buổi tiệc ấy. Đó là một buổi khiêu vũ ở "vùng hẻo lánh" tại Chidley Corners; mà những buổi khiêu vũ ở Chidley Corners thì thường không phải là nơi chốn dành cho những cô gái con nhà gia giáo. Valancy biết tin về buổi tiệc vì Abel Gầm Rú được thuê làm một trong những nhạc công kéo vĩ cầm.
Thế nhưng cô chưa từng mảy may nghĩ đến việc đi cho đến khi chính Abel Gầm Rú gợi chuyện trong bữa tối.
"Mày đi khiêu vũ với tao đi," ông bảo. "Đi cho khuây khỏa—cho mặt mũi có chút huyết sắc. Trông mày xanh xao hốc hác quá—phải có cái gì đó cho mày phấn chấn lên."
Valancy bỗng thấy lòng rạo rực muốn đi. Cô hoàn toàn chẳng biết những buổi khiêu vũ ở Chidley Corners thường diễn ra như thế nào. Ý niệm của cô về khiêu vũ xưa nay chỉ đóng khung trong những buổi tiệc tùng đúng mực ở Deerwood và Port Lawrence. Dĩ nhiên cô biết buổi tiệc ở Corners sẽ không thể giống như vậy. Chắc chắn là xuề xòa, phóng túng hơn nhiều. Nhưng thế thì lại càng thú vị hơn. Cớ sao cô lại không đi chứ? Tuần này sức khỏe Cissy có vẻ tiến triển tốt và khỏe khoắn hẳn lên. Con bé chẳng ngại ở nhà một mình chút nào. Thậm chí nó còn nài nỉ Valancy hãy đi nếu cô muốn. Và quả thực là Valancy đang rất muốn đi.
Cô về phòng để sửa soạn. Một cơn phẫn nộ bỗng bốc lên nhắm vào bộ váy lụa màu nâu thuốc hít. Mặc bộ đồ ấy đi dự tiệc ư? Không đời nào. Cô giật chiếc váy crêpe màu xanh xuống khỏi móc rồi cuống cuồng mặc vào. Cảm giác thấy mình như... như trần như nhộng thế này thật là ngớ ngẩn—chỉ vì để lộ cổ và hai cánh tay thôi mà. Đó thuần túy chỉ là thói cổ hủ của một bà cô già. Cô quyết không để nó trói buộc mình nữa. Chiếc váy đã xong—rồi đến đôi hài.
Đây là lần đầu tiên cô được mặc một chiếc váy đẹp đẽ kể từ thời còn mặc những bộ váy voan organdy thuở mới lớn. Mà ngày ấy, chúng cũng chưa từng khiến cô trông rạng ngời đến thế này.
Giá mà có một chiếc vòng cổ hay thứ gì đó tương tự thì tốt biết bao. Khi ấy cô sẽ bớt cảm thấy trống trải. Cô chạy vội xuống vườn. Ngoài ấy có những đóa cỏ ba lá—những bông hoa đỏ thắm to bản mọc giữa đám cỏ rậm rạp. Valancy hái đầy một vốc tay rồi xâu chúng vào một sợi dây. Buộc quanh cổ, chúng mang lại cho cô cảm giác dễ chịu hệt như một chiếc cổ áo và tôn lên vẻ đẹp kỳ lạ. Một vòng hoa khác được cài lên mái tóc búi thấp bồng bềnh rất hợp với gương mặt cô. Sự hồi hộp khiến đôi gò má cô ửng lên những vệt hồng e ấp. Cô khoác vội chiếc áo khoác ngoài rồi kéo chiếc mũ vải gợn sóng chụp lên mái tóc.
"Chị trông xinh đẹp và... và... khác lạ quá, chị thân yêu," Cissy nói. "Cứ như một tia sáng trăng màu xanh biếc điểm xuyết chút ánh đỏ, nếu trên đời thực sự có thứ như thế."
Valancy cúi xuống hôn cô bé.
"Chị cứ thấy áy náy thế nào khi để em ở nhà một mình, Cissy à."
"Ồ, em sẽ ổn thôi mà. Tối nay em thấy khỏe hơn bao ngày qua nhiều. Em vẫn luôn thấy áy náy khi thấy chị cứ phải ru rú ở nhà vì em. Em mong chị sẽ có một buổi tối vui vẻ. Em chưa bao giờ dự tiệc ở Corners, nhưng ngày xưa thỉnh thoảng em cũng có đi khiêu vũ ở vùng hẻo lánh. Vui lắm chị ạ. Mà tối nay chị không phải lo chuyện bố say xỉn đâu. Cứ hễ nhận lời chơi đàn cho buổi tiệc nào là ông không bao giờ đụng vào một giọt rượu. Nhưng... ở đó có thể sẽ có... rượu chè. Chị sẽ làm sao nếu người ta trở nên cộc cằn, thô lỗ?"
"Sẽ chẳng ai quấy rầy chị đâu."
"Em nghĩ là không đến mức tệ hại đâu. Bố em sẽ trông chừng chuyện đó. Nhưng có thể sẽ ồn ào và... và khó chịu đấy."
"Chị không bận tâm đâu. Chị chỉ đến xem cho biết thôi mà. Chị đâu có định khiêu vũ. Chị chỉ muốn tận mắt thấy một buổi tiệc ở vùng hẻo lánh ra làm sao. Cả đời chị chẳng biết gì ngoài thị trấn Deerwood nghiêm cẩn này."
Cissy mỉm cười đầy hoài nghi. Con bé hiểu rõ hơn Valancy nhiều về việc một buổi tiệc "vùng hẻo lánh" có thể biến tướng thành thế nào một khi có hơi men. Nhưng biết đâu lần này lại chẳng có rượu thì sao.
"Em chúc chị đi chơi vui vẻ nhé, chị yêu," cô bé nhắc lại.
Chuyến đi tới đó khiến Valancy vô cùng thích thú. Hai người khởi hành sớm, bởi Chidley Corners cách đó mười hai dặm, và họ phải đi trên cỗ xe ngựa mui trần rách nát tàn tạ của Abel. Con đường gập ghềnh đầy sỏi đá, giống như hầu hết những con đường ở Muskoka, nhưng lại ngập tràn vẻ quyến rũ trầm mặc của những cánh rừng phương bắc. Đường uốn lượn qua những rặng thông vi vu tuyệt đẹp, đứng thành từng hàng đầy mê hoặc dưới ánh hoàng hôn tháng Sáu, rồi bắc qua những dòng sông màu xanh ngọc bích kỳ lạ của xứ Muskoka, viền quanh bởi những rặng cây dương lá rung lúc nào cũng xao xác như đang run rẩy trước một niềm hân hoan siêu phàm thoát tục.
Abel Gầm Rú cũng là một người bạn đồng hành tuyệt vời. Ông thuộc nằm lòng mọi câu chuyện và truyền thuyết của "vùng hẻo lánh" hoang dã mà tuyệt mỹ này, và ông kể hết cho Valancy nghe trên suốt dọc đường. Valancy mấy phen phải phì cười thầm khi nghĩ đến việc bác Benjamin, bác Wellington cùng những người khác sẽ cảm thấy thế nào, nghĩ gì và nói gì nếu họ bắt gặp cô đang ngồi trên cỗ xe tồi tàn này cùng Abel Gầm Rú để đến một buổi khiêu vũ ở Chidley Corners.
Ban đầu, buổi tiệc diễn ra khá êm ả, Valancy thấy vô cùng thích thú và hào hứng. Cô thậm chí còn nhảy hai điệu với hai chàng trai trẻ tử tế ở "vùng hẻo lánh"; họ nhảy rất cừ và còn khen cô cũng nhảy khéo không kém.
Cô còn nhận được một lời khen khác nữa—dẫu không mấy tế nhị, nhưng cả đời Valancy có mấy khi được khen nên cô chẳng hơi đâu mà câu nệ. Cô tình cờ nghe lỏm được hai gã trai trẻ vùng này đang xì xào bàn tán về mình trong căn lều tối phía sau lưng.
"Biết con nhỏ mặc váy xanh là ai không?"
"Chịu. Chắc dân đằng ngoài tới. Dưới cảng Port cũng nên. Nhìn có vẻ sành điệu đấy."
"Không hẳn là sắc nước hương trời nhưng trông bén phết, tao nói thật. Mày đã thấy đôi mắt nào như thế bao giờ chưa?"
Căn phòng lớn được trang hoàng bằng những cành thông và cành linh sam, thắp sáng bởi những chiếc lồng đèn giấy. Sàn nhà được đánh sáp trơn bóng, còn tiếng đàn vĩ cầm của Abel Gầm Rú dưới ngón tay điêu luyện của ông réo rắt cất lên như có phép màu. Những cô gái vùng hẻo lánh đều xinh xắn và ăn mặc diện mạo tươm tất. Valancy thầm nghĩ đây là buổi tiệc tuyệt vời nhất mà cô từng tham dự.
Thế nhưng đến mười một giờ đêm, cô đã phải đổi ý. Một đám người mới ùa tới—một đám say khướt không thể chối cãi. Rượu whisky bắt đầu được chuyền tay nhau thoải mái. Chẳng mấy chốc, gần như toàn bộ cánh đàn ông đều đã ngà ngà say. Những kẻ đứng ngoài hiên và quanh cửa ra vào bắt đầu gào thét những bài ca dân dã ầm ĩ và cứ thế gào mãi không thôi. Căn phòng trở nên om sòm và sặc sụa mùi rượu. Những vụ cãi vã bùng lên đây đó. Những lời lẽ thô tục cùng các bài hát nhớp nhúa vang lên khắp nơi. Các cô gái, bị quay cuồng thô bạo trong các điệu nhảy, trở nên xốc xếch và nhếch nhác. Valancy ngồi trơ trọi một mình trong góc, cảm thấy ghê tởm và hối hận tột cùng. Sao cô lại có thể dại dột mò đến một nơi như thế này cơ chứ? Tự do và độc lập thì tốt đẹp đấy, nhưng đừng có biến mình thành một con ngốc. Đáng lẽ cô phải lường trước chuyện này sẽ xảy ra—đáng lẽ cô phải nghe theo những lời cảnh báo đầy ý tứ của Cissy. Đầu cô nhức như búa bổ—cô phát ngấy toàn bộ cái cảnh tượng này rồi. Nhưng cô biết làm sao bây giờ? Cô buộc phải ở lại cho đến tàn cuộc. Abel không thể rời đi trước lúc đó. Mà có lẽ phải đến ba, bốn giờ sáng tiệc mới tan.
Lượng đàn ông mới kéo đến đông đảo khiến phái nữ trở thành thiểu số áp đảo và bạn nhảy trở nên khan hiếm. Valancy liên tục bị quấy rầy bởi những lời mời khiêu vũ. Cô cộc lốc từ chối tất cả, và vài lời cự tuyệt của cô đã khiến người ta phật ý. Những tiếng chửi thề lầm bầm và những ánh mắt hậm hực bắt đầu xuất hiện. Phía bên kia phòng, cô nhìn thấy một nhóm người lạ mặt đang xì xào to nhỏ với nhau và liếc nhìn cô đầy ẩn ý. Bọn chúng đang toan tính điều gì đây?
Chính vào khoảnh khắc ấy, cô trông thấy Barney Snaith đang nhìn vào qua đầu đám đông đứng chen chúc ở ngưỡng cửa. Trong lòng Valancy dấy lên hai niềm tin chắc nịch—một là giờ đây cô đã hoàn toàn an toàn; hai là đây chính là lý do khiến cô muốn đến buổi khiêu vũ này. Đó từng là một hy vọng ngớ ngẩn đến mức trước đây cô không nhận ra, nhưng giờ thì cô biết mình đến đây chỉ vì có khả năng Barney cũng sẽ xuất hiện. Cô nghĩ có lẽ mình nên thấy xấu hổ vì ý nghĩ ấy, nhưng thực tình cô chẳng thấy hổ thẹn chút nào. Sau cảm giác nhẹ nhõm, điều tiếp theo trào lên trong cô là nỗi bực mình với Barney vì cái tội không cạo râu trước khi đến. Lẽ ra anh phải có chút tự trọng để chải chuốt cho đàng hoàng khi đi dự tiệc chứ. Anh đứng đó, đầu trần, cằm lởm chởm râu, mặc chiếc quần cũ mèm với chiếc áo sơ mi vải thô xanh dệt tay. Thậm chí còn chẳng thèm khoác một chiếc áo ngoài. Valancy giận đến mức chỉ muốn lắc cho anh một trận. Thảo nào mà thiên hạ lại tin răm rắp mọi điều tiếng xấu xa về anh.
Thế nhưng cô không còn sợ hãi nữa. Một gã trong nhóm đang thì thào lúc nãy tách khỏi đám bạn, băng qua căn phòng lèn chặt những cặp đôi đang quay cuồng để tiến thẳng về phía cô. Hắn là một gã cao lớn, vai rộng, ăn mặc không đến nỗi tồi tàn và diện mạo cũng chẳng xấu xí, nhưng rõ ràng là đã say mèm một nửa. Hắn mời Valancy khiêu vũ. Valancy lịch sự từ chối. Mặt hắn bỗng biến sắc, tái mét vì giận dữ. Hắn vòng tay ôm chầm lấy cô rồi kéo giật cô vào lòng. Hơi thở nóng hổi nồng nặc mùi rượu của hắn phả thẳng vào mặt cô.
"Ở đây bọn tao không chứa thói làm bộ làm tịch của mấy tiểu thư đài các đâu nhé, cô em. Đã không chê cái chốn này mà mò tới đây thì cũng đừng có làm như cao giá không thèm nhảy với bọn tao. Tao với mấy thằng bạn đã để mắt tới mày nãy giờ rồi. Mày phải nhảy với mỗi thằng bọn tao một lượt, lại còn phải khuyến mại thêm mỗi thằng một nụ hôn nữa đấy."
Valancy vùng vẫy tuyệt vọng nhưng vô ích để thoát thân. Cô đang bị lôi tuột vào mớ bòng bong của những kẻ nhảy nhót đang la hét, giậm chân, gầm rú. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, gã đàn ông đang giữ chặt cô bỗng lảo đảo văng ngang qua phòng bởi một cú đấm chuẩn xác giáng thẳng vào quai hàm, đụng ngã dúi dụi những cặp đôi đang quay cuồng trên đường văng. Valancy cảm thấy cánh tay mình bị ai đó nắm chặt lấy.
"Lối này—mau lên," Barney Snaith nói. Anh nhấc bổng cô qua bậu cửa sổ đang mở toang phía sau lưng họ, thoăn thoắt phóng qua bậu cửa rồi nắm chặt lấy tay cô.
"Nhanh lên—chúng ta phải chạy thục mạng thôi—bọn chúng sắp đuổi theo rồi."
Valancy cắm đầu chạy như chưa từng được chạy trong đời, bàn tay nắm chặt lấy tay Barney, thầm tự hỏi sao mình chưa lăn đùng ra chết sau một màn chạy tháo thân điên cuồng đến thế. Giả sử cô chết thật thì sao nhỉ! Thật là một vụ tai tiếng tày trời cho gia đình tội nghiệp của cô. Lần đầu tiên Valancy cảm thấy hơi thương xót cho họ. Cô cũng thấy mừng vì mình đã thoát khỏi cái đám hỗn loạn kinh hoàng ấy. Và cũng mừng vì bàn tay mình đang được Barney nắm chặt. Cảm xúc trong cô rối bời hỗn độn, cả đời cô chưa bao giờ trải qua nhiều cảm xúc đến thế chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi nhường này.
Cuối cùng họ cũng đến được một góc khuất yên tĩnh giữa rừng thông. Đám người truy đuổi đã chạy sang hướng khác, những tiếng la hét, chửi bới sau lưng cứ nhỏ dần rồi xa hút. Valancy, thở không ra hơi, tim đập loạn xạ như muốn nhảy khỏi lồng ngực, ngã quỵ xuống thân một cây thông đổ.
"Cảm ơn anh," cô thều thào qua hơi thở dồn dập.
"Cô ngốc thật đấy, sao lại mò đến cái chốn như thế này cơ chứ!" Barney nói.
"Tôi... đâu... có... biết... nó... lại... ra nông nỗi này," Valancy thanh minh.
"Lẽ ra cô phải biết chứ. Chidley Corners cơ mà!"
"Nơi đó... đối với tôi... chỉ... là một cái tên."
Valancy biết Barney không thể nào hiểu được cô mù tịt về những khu "vùng hẻo lánh" đến mức nào. Cô sống ở Deerwood cả đời, lẽ dĩ nhiên là anh cứ ngỡ cô phải biết. Anh đâu có biết cô đã được nuôi dạy ra sao. Cố giải thích cũng bằng thừa.
"Tối nay lúc tạt qua nhà Abel, nghe Cissy bảo cô đã đến đây, tôi bàng hoàng cả người. Mà thực sự là sợ thót tim. Cissy bảo con bé lo cho cô lắm nhưng không dám nói gì để ngăn cản vì sợ cô lại nghĩ nó ích kỷ chỉ biết lo cho bản thân. Thế nên tôi mới chạy thẳng lên đây thay vì đến Deerwood."
Valancy cảm thấy một luồng hơi ấm ngập tràn niềm hân hoan bỗng bừng lên, sưởi ấm cả tâm hồn lẫn thể xác cô dưới bóng những rặng thông tối tăm. Hóa ra anh đã cất công lặn lội lên tận đây chỉ để trông chừng cô.
"Đợi khi nào bọn chúng thôi sục sạo tìm kiếm, chúng ta sẽ lẻn vòng ra đường Muskoka. Tôi để xe Lady Jane ở dưới đó. Tôi sẽ đưa cô về nhà. Chắc cô cũng ngấy đến tận cổ cái buổi tiệc tùng của cô rồi nhỉ."
"Quá đủ rồi," Valancy ngoan ngoãn đáp. Suốt nửa chặng đường đầu về nhà, cả hai chẳng ai nói với ai câu nào. Mà có nói cũng chẳng ích gì. Chiếc Lady Jane gầm rú ầm ĩ đến mức họ chẳng thể nghe thấy tiếng nhau. Vả lại, Valancy cũng chẳng có tâm trạng nào để trò chuyện. Cô thấy xấu hổ về toàn bộ mớ bòng bong này—xấu hổ vì sự dại dột của mình khi đâm đầu đi dự tiệc—xấu hổ vì bị Barney Snaith bắt gặp ở một chốn nhơ nhớp như thế. Lại bị bắt gặp bởi chính Barney Snaith, kẻ mang danh vượt ngục, kẻ vô thần, kẻ làm giả giấy tờ và biển thủ công quỹ. Khóe môi Valancy giật giật trong bóng tối khi nghĩ đến điều đó. Nhưng cô vẫn thấy ngượng ngùng.
Thế nhưng cô lại đang tận hưởng chuyến đi này—lòng tràn ngập một nỗi hân hoan kỳ lạ—khi ngồi lắc lư nảy chồm chồm trên con đường gập ghềnh bên cạnh Barney Snaith. Những thân cây to lớn vút qua hai bên. Những cây thảo bản bông cao nghều đứng sừng sững dọc bên đường thành từng hàng ngay ngắn, cứng đờ như những trung đội lính. Những bụi kế gai trông như lũ tiên say xỉn hay những chú yêu tinh chuếnh choáng khi ánh đèn xe quét qua. Đây là lần đầu tiên cô được ngồi trên một chiếc ô tô. Rốt cuộc thì cô lại thấy thích nó. Cô chẳng hề thấy sợ hãi chút nào khi Barney cầm lái. Tâm trạng cô phấn chấn lên nhanh chóng khi chiếc xe lao vun vút trong đêm. Cô không còn cảm thấy xấu hổ nữa. Cô chẳng còn bận tâm đến điều gì khác, ngoại trừ cảm giác mình đang là một phần của ngôi sao chổi lao đi kiêu hãnh giữa màn đêm bao la của vũ trụ.
Bỗng nhiên, ngay tại nơi cánh rừng thông thưa dần nhường chỗ cho vùng đất hoang cằn cỗi toàn bụi rậm, chiếc Lady Jane bỗng trở nên êm ả—quá mức êm ả. Chiếc Lady Jane từ từ chậm lại trong im ắng—rồi chết máy hẳn.
Barney buột miệng thốt lên một tiếng bàng hoàng. Anh bước xuống xe. Kiểm tra. Rồi quay lại với vẻ đầy hối lỗi.
"Tôi đúng là một thằng ngốc lẩm cẩm. Hết xăng rồi. Lúc rời nhà tôi biết là sắp cạn, nhưng tính bụng sẽ đổ ở Deerwood. Thế rồi vội chạy đến Corners quá nên tôi quên khuấy mất."
"Giờ chúng ta làm gì được đây?" Valancy bình thản hỏi.
"Tôi chịu thôi. Chẳng có chỗ nào bán xăng gần hơn Deerwood đâu, cách đây tận chín dặm lận. Mà tôi thì không dám để cô ở lại đây một mình. Đường này lúc nào cũng có dân lang thang—rồi biết đâu mấy thằng điên ở Corners lát nữa lại lảo đảo mò qua đây. Ở đó có cả mấy thằng nhóc dưới cảng Port nữa. Theo tôi thấy, cách tốt nhất bây giờ là hai đứa mình cứ kiên nhẫn ngồi đây đợi cho đến khi có chiếc xe nào chạy ngang qua rồi xin họ nhượng lại cho chút xăng đủ để chạy về nhà Abel Gầm Rú."
"Thế thì có sao đâu nào?" Valancy nói.
"Có khi chúng ta phải ngồi đây cả đêm đấy," Barney bảo.
"Tôi không phiền đâu," Valancy đáp.
Barney bật cười một tiếng ngắn ngủi. "Nếu cô không ngại thì tôi việc gì phải lo. Tôi thì làm gì còn thanh danh nào để mà mất nữa."
"Tôi cũng thế thôi," Valancy ung dung đáp lời.