Ngày hôm sau đối với Valancy trôi qua như một giấc mơ. Cô không tài nào khiến bản thân hay bất cứ việc gì mình làm trở nên thực tế được. Cô chẳng nhìn thấy bóng dáng Barney đâu, dù cô đinh ninh thế nào thì anh cũng phải phóng xe rần rần qua đây để tới cảng lấy giấy phép kết hôn.
Có lẽ anh đã đổi ý.
Nhưng khi trời chập choạng tối, đèn xe của chiếc Lady Jane bỗng rọi qua đỉnh ngọn đồi rậm rạp phía bên kia con đường nhỏ. Valancy đang đứng đợi chú rể của mình ở cổng. Cô mặc chiếc váy xanh lá và đội chiếc vì cô chẳng có gì khác để mặc nữa. Trông cô chẳng ra dáng một cô dâu tẹo nào, cảm giác cũng hoàn toàn không phải vậy—thực sự cô trông giống như một nàng yêu tinh hoang dã lạc bước từ chốn rừng sâu. Nhưng điều đó chẳng hề gì. Chẳng có gì quan trọng ngoài việc Barney đang đến đón cô.
“Sẵn sàng chưa?” Barney lên tiếng, cho chiếc Lady Jane dừng lại với dăm tiếng động mới mẻ và kinh khủng.
“Rồi.” Valancy bước lên xe và ngồi xuống. Barney mặc áo sơ mi xanh và quần yếm. Nhưng đó là một chiếc quần yếm sạch sẽ. Anh đang ngậm một chiếc tẩu trông có vẻ hiểm ác và đầu để trần. Thế nhưng, bên dưới chiếc quần yếm sờn cũ, anh lại đi một đôi bốt lịch lãm một cách kỳ lạ. Hơn nữa, anh đã cạo râu. Họ lộc cộc lái xe vào Deerwood, phóng qua Deerwood rồi lao vào con đường dài rợp bóng cây dẫn tới cảng.
“Em không đổi ý chứ?” Barney hỏi.
“Không. Còn anh?”
“Không.”
Đó là toàn bộ cuộc trò chuyện của họ trên quãng đường mười lăm dặm. Mọi thứ càng lúc càng mang cảm giác như mơ hơn bao giờ hết. Valancy không biết mình có cảm thấy hạnh phúc hay không. Hay hoảng sợ. Hoặc đơn giản chỉ là một kẻ ngốc.
Rồi ánh đèn của Port Lawrence hiện ra xung quanh họ. Valancy có cảm giác như mình đang bị bao vây bởi hàng trăm đôi mắt sáng rực, thèm thuồng của những con báo lớn đầy rình rập. Barney cộc lốc hỏi nhà ông Towers ở đâu, và Valancy cũng vắn tắt đáp lại. Họ dừng lại trước ngôi nhà nhỏ cũ kỹ trên một con phố không mấy sang trọng. Họ bước vào phòng khách nhỏ xíu, xập xệ. Barney lấy ra tờ giấy phép kết hôn. Thế là anh đã lấy được nó. Cả một chiếc nhẫn nữa. Mọi chuyện này là thật. Cô, Valancy Stirling, thực sự chuẩn bị kết hôn.
Họ đứng cạnh nhau trước mặt ông Towers. Valancy nghe thấy ông Towers và Barney nói những lời làm lễ. Cô nghe thấy có tiếng ai đó nói những lời khác. Bản thân cô lại đang nghĩ về cách mà cô từng vẽ ra cho đám cưới của mình—từ hồi đầu tuổi thiếu niên, khi chuyện đó hãy còn vẻ như không thể xảy ra. Lụa trắng, khăn voan tuyn và hoa cam; không có phù dâu. Chỉ có một bé gái rải hoa, mặc chiếc váy ren mờ màu kem trên nền hồng nhạt, đầu đội vòng hoa, tay cầm một giỏ hoa hồng và hoa linh lan chuông. Và chú rể, một sinh thể trông thật đường hoàng, mặc trang phục hoàn hảo không chê vào đâu được theo đúng mốt thời bấy giờ. Valancy ngước mắt lên và nhìn thấy cô cùng Barney trong chiếc gương nhỏ méo mó treo trên lò sưởi. Cô với chiếc váy và chiếc mũ màu xanh lá kỳ quặc, chẳng giống cô dâu chút nào; Barney trong chiếc áo sơ mi và quần yếm. Nhưng đó chính là Barney. Chỉ điều đó là quan trọng. Không khăn voan—không hoa—không khách mời—không quà cáp—không bánh cưới—mà chỉ có Barney. Suốt quãng đời còn lại của cô sẽ chỉ có Barney.
“Bà Snaith, tôi hy vọng cô sẽ rất hạnh phúc,” ông Towers đang nói.
Ông có vẻ không ngạc nhiên trước vẻ bề ngoài của họ—thậm chí chẳng mảy may để ý đến bộ quần yếm của Barney. Ông đã chứng kiến không biết bao nhiêu đám cưới kỳ lạ “trên vùng thâm sơn cùng cốc.” Ông không hề biết Valancy là một người trong gia đình Stirlings ở Deerwood—ông thậm chí còn chẳng biết có dòng họ Stirlings nào ở Deerwood nữa là. Ông cũng chẳng hề hay biết Barney Snaith là một kẻ đang trốn chạy pháp luật. Thực sự, ông là một lão ông mù tịt đến khó tin. Thế nên ông đã làm lễ kết hôn cho họ, ban cho họ lời chúc phúc thật dịu dàng và trang nghiêm, rồi cầu nguyện cho họ vào đêm hôm đó sau khi họ đã rời đi. Lương tâm ông hoàn toàn không mảy may bận tâm.
“Quả là một cách kết hôn tuyệt làm sao!” Barney vừa nói vừa cài số cho chiếc Lady Jane. “Chẳng rườm rà khách sáo. Tôi chưa từng nghĩ mọi chuyện lại dễ dàng đến thế.”
“Lạy Chúa,” Valancy thốt lên đột ngột, “chúng ta hãy quên đi việc mình đã kết hôn đi và nói chuyện như thể chưa từng đi. Em không thể chịu nổi thêm một cú xóc nào nữa giống như lúc ngồi xe vào đây đâu.”
Barney gào lên và đẩy chiếc Lady Jane vào số cao với một tiếng động kinh hồn.
“Và anh cứ ngỡ mình đang làm cho mọi chuyện dễ dàng hơn với em đấy chứ,” anh nói. “Em có vẻ chẳng muốn nói chuyện gì cả.”
“Em không muốn. Nhưng em muốn anh nói chuyện. Em không cần anh phải âu yếm mình, nhưng em muốn anh cư xử như một con người bình thường. Kể cho em nghe về cái hòn đảo của anh đi. Nó là loại chỗ quái nào thế?”
“Nơi tuyệt vời nhất trên đời. Em sẽ yêu nó cho mà xem. Ngay lần đầu tiên nhìn thấy nó, anh đã yêu rồi. Lão già Tom MacMurray từng sở hữu nó đấy. Lão đã cất cái chòi nhỏ trên đó, sống ở đấy vào mùa đông và cho người Toronto thuê vào mùa hè. Anh đã mua lại nó từ lão—bằng một giao dịch đơn giản duy nhất đó, anh trở thành một địa chủ sở hữu cả nhà lẫn đảo. Có điều gì đó thật mãn nguyện làm sao khi sở hữu cả một hòn đảo. Và một hòn đảo không người ở chẳng phải là một ý tưởng vô cùng quyến rũ sao? Anh đã khao khát sở hữu một hòn đảo kể từ khi đọc cuốn Robinson Crusoe. Mọi thứ cứ như thể quá đẹp để có thật vậy. Và cảnh quan nữa chứ! Hầu hết phong cảnh thuộc về chính quyền, nhưng họ không đánh thuế em vì tội ngắm nhìn nó, và ánh trăng thì thuộc về tất cả mọi người. Em sẽ không thấy cái chòi của anh ngăn nắp lắm đâu. Chắc em sẽ lại muốn dọn dẹp nó cho ngăn nắp nhỉ.”
“Vâng,” Valancy thật thà đáp. “Em buộc phải ngăn nắp. Thực tình em chẳng thích thế đâu. Nhưng sự bừa bộn cứ làm em nhức nhối. Vâng, em sẽ phải dọn dẹp cái chòi của anh cho ngăn nắp.”
“Anh đã chuẩn bị sẵn tinh thần cho chuyện đó rồi,” Barney nói với một tiếng rên rỉ rỗng tuếch.
“Nhưng,” Valancy nói tiếp với giọng nhân nhượng hơn, “em sẽ không bắt anh phải chùi chân mỗi khi bước vào nhà đâu.”
“Không, em sẽ chỉ quét dọn theo sau anh với cái vẻ mặt của một vị thánh tử đạo thôi,” Barney bảo. “Thôi thì dù sao đi nữa, em cũng không thể dọn cái gian lều phụ đâu. Em thậm chí còn không bước vào được cơ. Cửa sẽ bị khóa và anh sẽ giữ chìa khóa.”
“Căn phòng của Râu Xanh,” Valancy nói. “Em thèm vào mà nghĩ tới nó ấy chứ. Em mặc kệ anh treo bao nhiêu cô vợ trong đó. Miễn là bọn họ đã chết hẳn rồi.”
“Chết khô chết cứng như đinh đóng cột ấy chứ. Em muốn làm gì ở phần còn lại của ngôi nhà thì tùy. Nhà chẳng rộng lắm đâu—chỉ có một phòng khách lớn và một phòng ngủ nhỏ. Dù sao thì cũng được xây cất rất chắc chắn. Lão Tom rất có tâm với nghề. Xà nhà của chúng ta làm bằng gỗ tuyết tùng và rui mè làm bằng gỗ linh sam. Cửa sổ phòng khách nhà mình hướng về phía tây và phía đông. Thật tuyệt vời khi có một căn phòng mà em có thể ngắm cả cảnh mặt trời mọc lẫn mặt trời lặn. Anh có hai con mèo ở trển. Banjo và Good Luck. Những con vật đáng yêu hết sẩy. Banjo là một con mèo quỷ màu xám to lớn, đầy mê hoặc. Tất nhiên là có vẫn có vằn. Anh chẳng mảy bận tâm đến con mèo nào không có vằn cả. Anh chưa từng thấy con mèo nào biết chì chiết một cách thanh tao và hiệu quả như Banjo. Điểm yếu duy nhất của nó là ngáy như sấm khi ngủ. Luck là một con mèo nhỏ nhắn, xinh xắn. Lúc nào cũng nhìn em đầy vẻ tha thiết, như thể nó muốn nói với em điều gì đó. Biết đâu có ngày nó làm được thật ấy chứ. Em biết đấy, cứ một ngàn năm mới có một con mèo được phép cất tiếng nói. Môn đệ của anh đều là triết gia cả—chẳng đứa nào trong số chúng tiếc rẻ giọt sữa đổ đâu.”
“Hai con quạ già sống trên cây thông ở mỏm đất thì tỏ ra khá thân thiện với hàng xóm. Đặt tên chúng là Nip và Tuck. Và anh có một chú cú kiểng nhỏ nhắn, điềm đạm. Tên là Leander. Anh nuôi nó từ hồi còn bé xíu và nó sống ở tít bên đất liền, cứ đến tối là lại lẩm bẩm cười một mình. Còn dơi nữa—đó là một nơi tuyệt vời cho loài dơi vào ban đêm. Em có sợ dơi không?”
“Không; em thích chúng.”
“Anh cũng vậy. Những sinh vật thật đẹp đẽ, kỳ quặc, kỳ bí và đầy bí ẩn. Đến từ hư vô—rồi đi về hư vô. Vút một cái! Banjo cũng thích chúng nữa. Nó ăn thịt luôn. Anh có một chiếc xuồng độc mộc và một chiếc thuyền máy gắn chân vịt có thể thu gọn. Hôm nay anh đã chèo thuyền tới cảng để lấy giấy phép đấy. Êm ru hơn chiếc Lady Jane.”
“Em cứ tưởng anh không đi chút nào—rằng anh đã đổi ý rồi cơ,” Valancy thừa nhận.
Barney cười—nụ cười mà Valancy không thích chút nào—nụ cười nhỏ, cay đắng và đầy vẻ yếm thế.
“Anh chẳng bao giờ đổi ý cả,” anh cộc lốc đáp.
Họ quay trở lại qua Deerwood. Đi lên con đường Muskoka. Qua nhà Roaring Abel. Vượt qua con đường nhỏ gập ghềnh đầy hoa cúc dại. Những khu rừng thông tối thum thủm nuốt chửng lấy họ. Xuyên qua khu rừng thông, nơi bầu không khí thơm ngát mùi hương trầm tỏa ra từ những bông hoa chuông mỏng manh vô hình phủ kín hai bên lối mòn. Ra tới bờ hồ Mistawis. Chiếc Lady Jane đành phải bỏ lại đây. Họ bước xuống xe. Barney dẫn đường đi xuống một lối mòn nhỏ dẫn ra mép hồ.
“Hòn đảo của chúng ta kìa,” anh mãn nguyện nói.
Valancy ngước nhìn—rồi nhìn—và lại nhìn. Có một làn sương mỏng manh màu tử đinh hương phủ trên mặt hồ, bao bọc lấy hòn đảo. Xuyên qua lớp sương ấy, hai thân cây thông khổng lồ đang chụm đầu vào nhau phía trên mái chòi của Barney hiện lên sừng sững như những tòa tháp tối màu. Phía sau chúng là bầu trời hãy còn ánh hồng trong ánh chiều tà, và một vầng trăng non nhợt nhạt.
Valancy rùng mình như cái cây bị gió thổi đột ngột. Có thứ gì đó như tràn ngập tâm hồn cô.
“Lâu Đài Xanh của tôi!” cô thốt lên. “Ôi, Lâu Đài Xanh của tôi!”
Họ bước lên xuồng và chèo ra đảo. Họ bỏ lại phía sau vương quốc của đời thường và những điều quen thuộc để đặt chân lên một cõi bí ẩn và ma mị, nơi bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra—bất cứ điều gì cũng có thể thành sự thật. Barney bồng Valancy ra khỏi chiếc xuồng và đặt cô lên một tảng đá phủ đầy địa y dưới gốc một cây thông non. Vòng tay anh ôm siết lấy cô và bất ngờ đôi môi anh áp lên môi cô. Valancy bàng hoàng nhận ra mình đang run lên vì niềm hạnh phúc ngất ngây của nụ hôn đầu đời.
“Chào mừng em về nhà, mình ơi,” Barney dị dàng cất lời.