Mãi đến đầu giờ chiều ngày hôm sau, một chiếc ô tô cũ kỹ, ọp ẹp mới lộc cộc chạy lên phố Elm và dừng lại trước ngôi nhà gạch. Một người đàn ông đầu trần nhảy phắt xuống xe và lao lên bậc thềm. Tiếng chuông cửa vang lên dồn dập, gấp gáp chưa từng thấy. Người bấm chuông đang đòi mở cửa chứ không hề hỏi xin. Bác Benjamin khúc khích cười khi vội vã ra mở cửa. Bác Benjamin vừa “ghé qua” để hỏi thăm xem cô Doss—Valancy thân mến ra sao. Cô Doss—Valancy thân mến, theo như bác được thông báo, vẫn y như cũ. Con bé đã xuống ăn sáng—rồi chẳng đụng đũa—lại lên phòng, rồi xuống ăn tối—cũng chẳng ăn gì—lại quay về phòng. Chỉ có vậy thôi. Con bé chẳng nói năng gì cả. Và mọi người đã để con bé ở một mình một cách ân cần, chu đáo.
“Rất tốt. Hôm nay Redfern sẽ tới,” bác Benjamin nói. Và giờ đây danh tiếng nhà tiên tri của bác Benjamin đã được khẳng định. Redfern đã ở đây—điều đó là không thể nhầm lẫn.
“Vợ tôi có ở đây không?” anh hỏi bác Benjamin ngay mà không cần rào đón.
Bác Benjamin cười đầy vẻ thâm ý.
“Cậu Redfern phải không nhỉ? Rất vui được gặp cậu, thưa cậu. Vâng, cô con gái hư đốn của cậu đang ở đây. Chúng tôi đã——”
“Tôi phải gặp cô ấy,” Barney cắt ngang lời bác Benjamin một cách phũ phàng.
“Tất nhiên rồi, cậu Redfern. Mời cậu bước vào đây. Valancy sẽ xuống ngay thôi.”
Bác dẫn Barney vào phòng khách rồi lui ra phòng sinh hoạt chung để tìm bà Frederick.
“Lên bảo Valancy xuống đi. Chồng nó đến rồi kìa.”
Nhưng bác Benjamin vốn hoài nghi không biết Valancy có thực sự xuống ngay được không—hay liệu có xuống nổi không—nên bác đã nhón chân đi theo sau bà Frederick lên lầu và đứng nghe ngóng ngoài hành lang.
“Valancy con yêu,” bà Frederick dịu dàng gọi, “chồng con đang ở phòng khách, muốn gặp con đấy.”
“Ôi, Mẹ ơi.” Valancy đứng phắt dậy từ bên cửa sổ và vặn vặn hai bàn tay vào nhau. “Con không thể gặp anh ấy—không thể nào! Mẹ bảo anh ấy về đi—bảo anh ấy đi đi. Con không gặp anh ấy đâu!”
“Bảo nó rằng,” bác Benjamin ghé miệng vào lỗ khóa xì xào, “Redfern nói cậu ta sẽ không đi đâu cho đến khi gặp được vợ mới thôi.”
Redfern chẳng hề nói câu nào đại loại như thế, nhưng bác Benjamin nghĩ cậu ta là cái loại đàn ông như vậy. Valancy thì biết chắc chắn là thế. Cô hiểu rằng trước sau gì mình cũng phải xuống gặp mặt thôi.
Cô thậm chí còn chẳng thèm nhìn bác Benjamin lúc đi ngang qua bác ở chiếu nghỉ cầu thang. Bác Benjamin chẳng bận tâm. Vừa xoa tay vừa khúc khích cười, bác lui xuống nhà bếp và ân cần hỏi cô họ Stickles:
“Tại sao những ông chồng tốt lại giống như bánh mì nhỉ?”
Cô họ Stickles liền hỏi tại sao.
“Vì phụ nữ cần họ,” bác Benjamin cười rạng rỡ đáp.
Valancy trông chẳng có chút nào là xinh đẹp khi bước vào phòng khách. Đêm trắng vừa qua đã tàn phá khuôn mặt cô một cách không thương tiếc. Cô mặc một chiếc áo vải ka-rô nâu xanh cũ kỹ, luộm thuộm, bởi đã để lại tất cả những chiếc váy đẹp đẽ ở Lâu Đài Xanh. Nhưng Barney đã lao vụt qua phòng và ôm chầm lấy cô vào lòng.
Valancy, em yêu—trò hề nhỏ ngốc nghếch của anh! Sao em lại dại dột bỏ trốn như thế chứ? Khi tối hôm qua anh về nhà và tìm thấy bức thư của em, anh suýt phát điên lên được. Lúc đó đã mười hai giờ đêm—anh biết là quá muộn để đến đây rồi. Anh đã đi kinh qua đi lại suốt cả đêm. Rồi sáng nay bố tới—anh mãi tận bây giờ mới đi được. Valancy, rốt cuộc em bị cái gì nhập thế hả? Đòi ly hôn mới ghê chứ! Em không biết rằng——”
“Em biết anh chỉ cưới em vì thương hại thôi,” Valancy vừa nói vừa yếu ớt đẩy anh ra. “Em biết anh không yêu em—em biết——”
“Em nằm trằn trọc suy nghĩ đến tận ba giờ sáng quá lâu rồi đấy,” Barney vừa nói vừa lắc mạnh người cô. “Đó là tất cả những gì đang xảy ra với em thôi. Không yêu em á! Ồ, anh không yêu em thì yêu ai hả? Em yêu, lúc nhìn thấy đoàn tàu lao thẳng về phía em, anh biết rõ mình có yêu em hay không rồi!”
“Ôi, em đã sợ anh sẽ cố làm cho em tưởng rằng anh quan tâm đến em,” Valancy nghẹn ngào thốt lên. “Đừng—đừng làm thế! Em biết cả rồi. Em biết hết mọi chuyện về Ethel Traverse—bố anh đã kể cho em nghe tất cả. Ôi, Barney, đừng hành hạ em nữa! Em không bao giờ có thể quay lại với anh được đâu!”
Barney buông cô ra và nhìn cô một lát. Vẻ quyết tâm hiện lên trên khuôn mặt tái nhợt, cương nghị của cô còn có sức thuyết phục hơn cả lời nói.
“Valancy,” anh điềm tĩnh nói, “Bố không thể kể cho em mọi chuyện được, bởi vì chính bố cũng đâu có biết hết. Em có để anh kể cho em nghe—mọi chuyện—không?”
“Vâng,” Valancy mệt mỏi đáp. Ôi, anh mới đáng yêu làm sao! Kìa chừng nào cô khao khát được lao vào vòng tay anh biết mấy! Khi anh nhẹ nhàng đỡ cô ngồi xuống ghế, cô chỉ suýt nữa thì hôn lên đôi bàn tay mảnh khảnh, rám nắng đang chạm vào tay áo mình. Cô không dám ngước nhìn lên khi anh đứng trước mặt cô. Cô không dám đối mặt với ánh mắt của anh. Vì lợi ích của anh, cô phải thật can đảm. Cô hiểu con người anh—tốt bụng, vị tha. Dĩ nhiên là anh sẽ vờ như không muốn có được sự tự do—lẽ ra cô phải biết anh sẽ giả vờ như thế, một khi cú sốc ban đầu qua đi. Anh quá thương xót cho cô—anh thấu hiểu hoàn cảnh tồi tệ của cô. Đã bao giờ anh không thấu hiểu cô đâu chứ? Nhưng cô sẽ không bao giờ chấp nhận sự hy sinh ấy. Không bao giờ!
“Em đã gặp bố và em biết anh là Bernard Redfern rồi đấy. Và chắc là em cũng đoán ra anh chính là John Foster—từ khi em bước vào Căn Phòng Của Râu Xanh chứ gì.”
“Vâng. Nhưng em không bước vào vì tò mò đâu. Em quên mất là anh đã dặn em không được vào—em quên mất——”
“Đừng bận tâm. Anh không định giết em rồi treo cổ em lên tường đâu, thế nên chẳng cần phải gọi chị Anne ra làm gì đâu. Anh chỉ định kể cho em nghe câu chuyện của đời mình từ đầu đến cuối thôi. Tối hôm qua anh quay về chính là để làm việc đó. Phải, anh là ‘con trai của lão bác sĩ Redfern’—nổi tiếng với đám Thuốc Hoàn và Thuốc Đắng màu tím. Ôi, chẳng lẽ anh lại không biết sao? Nó đã bị người ta nhồi sọ vào đầu anh suốt bao nhiêu năm trời rồi còn gì?”
Barney cười nhạt và sải bước qua lại trong phòng vài lần. Bác Benjamin, đang rón rén đi qua hành lang, nghe thấy tiếng cười thì cau mày lại. Chắc là con bé Doss không đến nỗi trở thành một con nhỏ bướng bỉnh ngốc nghếch chứ. Barney ngả người ngồi phịch xuống chiếc ghế đối diện Valancy.
“Ừ. Chừng nào còn nhớ được thì anh vẫn luôn là con trai của một triệu phú. Nhưng khi anh sinh đời đẻ kiếp thì bố chưa phải là triệu phú. Bố thậm chí còn chẳng phải là bác sĩ—bây giờ cũng thế. Bố là một bác sĩ thú y và đã thất bại thảm hại với nghề đó. Bố và Mẹ sống ở một ngôi làng nhỏ tận vùng Quebec và nghèo rớt mồng tơi. Anh chẳng nhớ gì về Mẹ cả. Thậm chí còn chẳng có lấy một bức ảnh của bà. Mẹ mất khi anh mới tròn hai tuổi. Mẹ kém bố tới mười lăm tuổi—là một cô giáo làng. Khi mẹ mất, bố chuyển đến Montreal và thành lập một công ty để bán thuốc mọc tóc. Có vẻ như bố đã mơ thấy công thức điều chế đó trong một đêm nọ. Chà, thuốc bán chạy lắm. Tiền bắt đầu đổ về như nước. Bố lại phát minh ra—hoặc mơ thấy—cả những thứ khác nữa—Thuốc Hoàn, Thuốc Đắng, Dầu Xoa Bóp v.v. Bố đã trở thành triệu phú khi anh lên mười, với một ngôi nhà to đến mức một thằng nhóc tì như anh lúc nào cũng cảm thấy lạc lõng trong đó. Anh có đủ mọi thứ đồ chơi mà một đứa trẻ có thể ao ước—và anh lại là thằng ôn con cô đơn nhất trên đời này. Anh chỉ nhớ được đúng một ngày hạnh phúc trong tuổi thơ của mình thôi, Valancy ạ. Chỉ một ngày duy nhất. Thậm chí em còn có cuộc sống sung sướng hơn thế nhiều. Bố đã đi thăm một người bạn cũ ở vùng quê và dẫn anh đi cùng. Anh được thả rông ở bãi chăn gia đình và dành trọn cả ngày để đóng đinh vào một khúc gỗ. Anh đã có một ngày tuyệt vời. Khi phải trở về căn phòng đầy đồ chơi trong ngôi nhà lớn ở Montreal, anh đã khóc. Nhưng anh không nói cho bố biết lý do. Anh chẳng bao giờ kể cho bố nghe điều gì cả. Với anh, việc tâm sự luôn là một điều rất khó khăn, Valancy ạ—bất cứ chuyện gì chạm đến tận đáy lòng. Và hầu hết mọi chuyện đều chạm đến tận đáy lòng anh. Anh là một đứa trẻ nhạy cảm, và khi lớn lên thành thiếu niên thì sự nhạy cảm ấy lại càng nhân lên gấp bội. Chẳng ai biết được anh đã phải chịu đựng những gì. Bố chưa bao giờ mảy may mơ tới điều đó.
Khi bố gửi anh vào một trường nội lập tư thục—lúc đó anh mới mười một tuổi—bọn con trai đã dìm đầu anh xuống bể bơi cho đến khi anh phải trèo lên bàn và đọc to tất cả các bảng quảng cáo về những món hàng gớm ghiếc mang bằng sáng chế của bố. Anh đã làm thế—lúc đó”—Barney siết chặt tay thành nắm đấm—“anh vừa sợ hãi vừa suýt chết đuối, và cả thế giới đều chống lại anh. Nhưng khi anh lên đại học và đám sinh viên năm trên định giở lại trò cũ đó thì anh nhất định không làm nữa.” Barney cười một cách cay đắng. “Chúng không thể bắt anh làm thế được. Nhưng chúng có thể—và đã thực sự—biến cuộc đời anh thành một chuỗi ngày khốn khổ. Anh chẳng bao giờ thoát khỏi điều tiếng về đám Thuốc Hoàn, Thuốc Đắng và Thuốc Mọc Tóc đó. ‘Sau khi sử dụng’ là biệt danh của anh—em thấy đấy, mái tóc của anh lúc nào cũng dày cộm lên cơ mà. Bốn năm đại học của anh đúng là một cơn ác mộng. Em biết—hoặc em không biết—bọn con trai có thể trở nên tàn nhẫn đến mức nào khi chúng tóm được một nạn nhân như anh. Anh có rất ít bạn bè—lúc nào cũng có một khoảng cách vô hình nào đó giữa anh và những kiểu người mà anh quý mến. Còn những kẻ khác—những kẻ sẵn sàng thân thiết với con trai của lão bác sĩ Redfern giàu có—thì anh lại chẳng thèm đoái hoài. Nhưng anh có một người bạn—hoặc tưởng là mình có. Một anh chàng thông minh, mọt sách—hơi có máu văn chương một chút. Đó là sợi dây liên kết giữa chúng tôi—bản thân anh cũng có một vài hoài bão thầm kín theo hướng đó. Cậu ta lớn tuổi hơn anh—anh rất kính trọng và sùng bái cậu ta. Trong suốt một năm trời, anh đã hạnh phúc hơn bao giờ hết. Rồi—một tiểu phẩm trào phúng xuất hiện trên tạp chí của trường—một tác phẩm cay độc, chế giễu các bài thuốc chữa bệnh của bố. Dĩ nhiên là tên nhân vật đã được đổi đi, nhưng ai nấy đều thừa sức nhận ra đó là ai và ám chỉ điều gì. Ồ, nó rất thông minh—thâm hiểm khủng khiếp—lại còn vô cùng hóm hỉnh nữa. Cả trường McGill chấn động vì những tràng cười sảng khoái với nó. Và anh phát hiện ra chính cậu ta là tác giả.”
“Ôi, anh chắc chắn chứ?” Đôi mắt vốn ơ hờ của Valancy bỗng bừng lên ngọn lửa phẫn nộ.
“Ừ. Cậu ta thừa nhận điều đó khi anh gặng hỏi. Cậu ta bảo một ý tưởng hay có giá trị với cậu ta hơn bất kỳ người bạn nào, vào bất cứ lúc nào. Và cậu ta còn bồi thêm một nhát dao vô cớ nữa. ‘Cậu biết đấy, Redfern, có những thứ tiền không mua được. Chẳng hạn như—tiền không thể mua cho cậu một người ông đâu.’ Chà, đó là một đòn giáng đau điếng. Hồi đó anh còn đủ trẻ để cảm thấy bị tổn thương sâu sắc. Và nó đã phá hủy phần lớn những lý tưởng cũng như ảo tưởng trong anh, đó mới là điều tồi tệ nhất. Kể từ đó, anh trở thành một kẻ căm ghét loài người trẻ tuổi. Chẳng muốn làm bạn với bất kỳ ai nữa. Và rồi—vào năm anh ra trường—anh gặp Ethel Traverse.”
Valancy rùng mình. Barney, hay tay đút túi quần, đang ủ rũ nhìn xuống sàn nhà nên không hề nhận ra điều đó.
“Chắc là bố đã kể cho em nghe về cô ta rồi nhỉ. Cô ta rất xinh đẹp. Và anh đã yêu cô ta. Ôi, phải, anh đã yêu cô ta. Bây giờ anh sẽ không chối cãi hay xem nhẹ điều đó đâu. Đó là tình yêu say đắm đầu đời của một chàng trai cô độc, lãng mạn, và nó hoàn toàn có thật. Hơn nữa, anh cứ ngỡ là cô ta cũng yêu mình. Anh đã đủ ngốc nghếch để tin vào điều đó. Anh đã vô cùng hạnh phúc khi cô ta nhận lời lấy anh. Suốt mấy tháng trời. Rồi—anh phát hiện ra sự thật phũ phàng là cô ta không hề yêu anh. Tình cờ trong một dịp nọ, anh bỗng biến thành một kẻ nghe lén bất đắc dĩ trong chốc lát. Khoảnh khắc ngắn ngủi ấy là quá đủ. Số phận trớ trêu vốn dành cho những kẻ nghe lén đã giáng xuống đầu anh. Một cô bạn thân của Ethel đang hỏi cô ta làm sao mà có thể nuốt trôi nổi cậu con trai của lão bác sĩ Redfern cùng với gia thế bán thuốc dạo của hắn.
‘Tiền của hắn sẽ dát vàng lên mấy viên Thuốc Hoàn và làm ngọt hóa đám Thuốc Đắng,’ Ethel cười cợt đáp. ‘Mẹ bảo tớ cứ tóm lấy hắn nếu có thể. Nhà mình đang lâm vào cảnh túng quẫn rồi. Nhưng mà phè phỡn thật đấy! Tớ cứ ngửi thấy mùi nhựa thông mỗi khi hắn la liếm đến gần.’”
“Ôi, Barney!” Valancy thốt lên, lòng quặn thắt vì thương xót anh. Cô đã quên sạch mọi chuyện về bản thân và ngập tràn niềm trắc ẩn dành cho Barney cũng như sự căm phẫn tột độ đối với Ethel Traverse. Cô ta dám làm thế cơ à?
“Thế đấy,”—Barney đứng dậy và bắt đầu đi đi lại lại quanh phòng—“cú đó đã kết liễu đời anh. Hoàn toàn gục ngã. Anh rời bỏ nền văn minh cùng những thứ thuốc độc chết tiệt ấy để đến vùng Yukon. Suốt năm năm trời, anh bôn ba khắp nơi trên thế giới—ở đủ mọi xó xỉnh kỳ lạ trên đời. Anh tự kiếm đủ sống cho bản thân—nhất định không thèm đụng đến một xu tiền nào của bố. Rồi đến một ngày, anh chợt nhận ra sự thật là mình chẳng còn mảy may quan tâm đến Ethel nữa, dù là theo chiều hướng này hay chiều hướng khác. Cô ta chỉ là một người nào đó mà anh từng quen biết ở một thế giới khác—chỉ thế mà thôi. Nhưng anh cũng chẳng có chút ham muốn nào muốn quay lại cuộc sống ngày xưa cả. Không đời nào anh thèm làm thế. Anh đã được tự do và anh định sẽ duy trì sự tự do ấy. Anh đến Mistawis—nhìn thấy hòn đảo của Tom MacMurray. Cuốn sách đầu tay của anh đã được xuất bản vào năm trước đó và gây được tiếng vang lớn—anh thu được một khoản tiền kha khá từ tiền bản quyền. Anh đã mua lại hòn đảo của mình. Nhưng anh vẫn tránh xa mọi người. Anh chẳng còn niềm tin vào bất kỳ ai nữa. Anh không tin trên đời này lại tồn tại thứ gọi là tình bạn chân chính hay tình yêu đích thực—ít ra là không dành cho anh—đứa con trai của dòng Thuốc Hoàn tím ngắt. Anh từng rất thích thú với những câu chuyện hoang đường mà người ta đồn đại về mình. Thực ra, anh sợ rằng chính mình còn là kẻ gợi ý cho mấy câu chuyện ấy nữa cơ. Bằng những lời bóng gió bí ẩn mà người ta cứ tự suy diễn theo định kiến của riêng họ.
Rồi—em xuất hiện. Anh buộc phải tin rằng em yêu anh—yêu anh thực sự—chứ không phải vì hàng triệu đô-la của bố anh. Chẳng có lý do nào khác để em muốn kết hôn với một kẻ trắng tay mang cái tiếng tăm đồn đại như anh cả. Và anh cũng thương hại em nữa. Ồ, phải, anh không chối cãi việc mình cưới em là vì anh thương em. Rồi sau đó—anh phát hiện ra em chính là người bạn đồng hành tuyệt vời nhất, vui tính nhất và đáng yêu nhất mà một thằng đàn ông từng có được. Hỏi hóm hỉnh—trung hậu—ngọt ngào. Em đã khiến anh một lần nữa tin vào sự tồn tại của tình bạn và tình yêu. Thế giới bỗng chừng trở nên tốt đẹp trở lại chỉ vì em ở đó, cục cưng ạ. Anh đã sẵn lòng cứ sống mãi như thế đến cuối đời. Anh nhận ra điều đó vào đêm anh trở về nhà và nhìn thấy ánh đèn tổ ấm của mình hắt ra từ hòn đảo lần đầu tiên. Và biết rằng em đang ở đó đợi anh. Sau cả đời lang bạt không nhà không cửa, thật tuyệt vời làm sao khi có được một mái ấm. Khi tối đến đi làm về đói lả và biết rằng có một bữa tối ngon lành cùng ngọn lửa ấm cúng đang chờ sẵn—và có cả em nữa.
Nhưng anh đã không nhận ra em thực sự có ý nghĩa thế nào đối với anh cho đến khoảnh khắc ở chỗ ngã rẽ đường ray. Lúc đó nó ập đến như một tia chớp. Anh biết rằng mình không thể sống thiếu em—nếu không kịp kéo em ra ngoài thì anh sẽ phải chết cùng em. Anh thừa nhận điều đó đã đánh gục anh—làm anh ngu ngơ cả người. Anh không thể lấy lại tinh thần trong một lúc. Đó là lý do tại sao anh cư xử như một con lừa bướng bỉnh. Nhưng ý nghĩ đẩy anh trốn vào rừng sâu chính là nỗi sợ khủng khiếp rằng em sắp chết. Anh vẫn luôn căm ghét ý nghĩ đó—nhưng anh cứ đinh ninh là em chẳng còn chút hy vọng nào, nên anh đã gạt nó khỏi đầu. Giờ đây anh phải đối mặt với nó—em đang phải chịu án tử hình và anh thì không thể sống thiếu em được. Khi trở về nhà vào tối hôm qua, anh đã hạ quyết tâm sẽ đưa em đi gặp tất cả các chuyên gia trên thế giới—rằng chắc chắn sẽ có cách chữa khỏi bệnh cho em. Anh cảm thấy chắc chắn bệnh tình của em không thể tồi tệ như bác sĩ Trent nghĩ, khi mà những giây phút ở trên đường ray thậm chí còn chẳng làm em bị thương. Thế rồi anh tìm thấy lá thư của em—và phát điên vì hạnh phúc—cùng một chút sợ hãi vì sợ rằng rốt cuộc em chẳng mảy may quan tâm đến anh, và đã bỏ đi để rũ bỏ anh. Nhưng bây giờ, mọi chuyện ổn cả rồi phải không em yêu?”
Có phải cô, Valancy, đang được gọi là “em yêu” đó không?
“Em không thể tin là anh quan tâm đến em,” cô bất lực nói. “Em biết là anh không thể nào làm thế được. Nào có ích gì chứ, Barney? Dĩ nhiên là anh thương hại em—dĩ nhiên là anh muốn làm những gì tốt nhất có thể để dọn dẹp mớ hỗn độn này. Nhưng nó không thể được giải quyết theo cách đó đâu. Anh không thể yêu em—một người như em được.” Cô đứng dậy và chỉ tay đầy bi kịch vào chiếc gương treo trên lò sưởi. Chắc chắn là ngay cả Allan Tierney cũng chẳng thể tìm thấy chút nét đẹp nào trên khuôn mặt nhỏ bé đầy đau khổ, hốc hác đang phản chiếu trong đó.
Barney chẳng thèm nhìn vào gương. Anh nhìn Valancy cứ như thể muốn ôm chực lấy cô—hoặc muốn đánh cho cô một trận vậy.
“Yêu em á! Cô gái ngốc nghếch, em đang nằm ở tận sâu thẳm trái tim anh rồi. Anh nâng niu em ở đó như một viên ngọc quý. Chẳng phải anh đã hứa với em là sẽ không bao giờ nói dối em sao? Yêu em ư! Anh yêu em bằng tất cả những gì có thể yêu được trong con người anh. Trái tim, tâm hồn, trí tuệ. Từng thớ thịt và tâm hồn anh đều rung lên vì sự ngọt ngào của em. Trên thế giới này chẳng có ai ngoài em đối với anh cả, Valancy ạ.”
“Anh diễn xuất—giỏi thật đấy, Barney,” Valancy nói với một nụ cười nhợt nhạt.
Barney nhìn cô chăm chú.
“Thế ra em vẫn—chưa tin anh sao?”
“Em—không thể tin được.”
“Ôi—chết tiệt thật!” Barney giận dữ thốt lên.
Valancy giật mình ngước nhìn lên. Cô chưa bao giờ nhìn thấy bộ dạng này của Barney cả. Đang cau mày! Đôi mắt đen sẫm vì giận dữ. Đôi môi cong lên vẻ khinh bỉ. Khuôn mặt trắng bệch.
“Em không muốn tin thì có,” Barney cất lên bằng chất giọng ngọt ngào đến rợn ngợp của cơn giận tột độ. “Em chán anh rồi. Em muốn thoát khỏi chuyện này—muốn rũ bỏ anh. Em cảm thấy xấu hổ vì đám Thuốc Hoàn và Dầu Xoa Bóp đó, y hệt như cô ta vậy. Lòng kiêu hãnh dòng họ Stirling của em không thể nào nuốt trôi chúng được. Mọi chuyện vẫn ổn chừng nào em còn tưởng mình không còn sống được bao lâu nữa. Đúng là một trò vui thích—em có thể chịu đựng được anh. Nhưng cả một đời sống chung với con trai của lão bác sĩ Redfern lại là chuyện hoàn toàn khác. Ồ, anh hiểu rồi—hiểu rõ lắm chứ. Trước đây anh đã quá ngốc nghếch—nhưng cuối cùng thì anh cũng đã hiểu.”
Valancy đứng bật dậy. Cô trân trân nhìn khuôn mặt đang vô cùng giận dữ của anh. Rồi—cô bỗng bật cười.
“Anh yêu ngốc nghếch ạ!” cô nói. “Anh thực sự có ý đó! Anh thực sự yêu em! Anh đã chẳng nổi giận đùng đùng thế này nếu không yêu em.”
Barney ngẩn người nhìn cô trong giây lát. Rồi anh ôm chầm lấy cô vào lòng kèm theo một tiếng cười trầm thấp của người đàn ông đang chiến thắng.
Bác Benjamin, kẻ nãy giờ vẫn đứng chết trân vì sợ hãi ở lỗ khóa cửa, bỗng chốc hoàn hồn và rón rén lui về chỗ bà Frederick cùng cô họ Stickles.
“Mọi chuyện ổn thỏa cả rồi,” bác hân hoan thông báo.
Cô Doss bé nhỏ thân yêu! Bác sẽ cho gọi luật sư đến ngay lập tức để sửa lại di chúc thêm lần nữa. Doss sẽ là người thừa kế duy nhất của bác. Ai có nhiều thì sẽ càng được ban phát nhiều hơn.
Bức xúc vì niềm tin vững chắc của mình vào một Đấng Tối Cao đang cai quản vạn vật, bà Frederick liền lấy cuốn Kinh Thánh của gia đình ra và ghi một dòng vào mục “Kết Hôn.”