Đúng vào lúc sự tò mò về Gatsby lên đến đỉnh điểm thì vào một tối thứ Bảy, những ngọn đèn trong biệt thự của anh bỗng tắt ngấm; và sự nghiệp Trimalchio của anh, bất ngờ bắt đầu thế nào thì nay cũng kết thúc lặng lẽ y như vậy. Chỉ đến khi những chiếc xe từng háo hức rẽ vào đường lái xe của anh nay chỉ dừng lại một phút rồi chán nản quay đầu đi, tôi mới dần nhận ra điều đó. Nghĩ rằng anh đang ốm, tôi liền sang thăm—một tay quản gia lạ hoắc với khuôn mặt gian xảo đứng ở cửa, nheo mắt nhìn tôi đầy nghi kỵ.
“Ông Gatsby có ốm không?”
“Không.” Sau một thoáng ngập ngừng, hắn miễn cưỡng thỏ thẻ thêm từ “thưa ngài”.
“Tôi dạo này không thấy anh ấy ghé qua nên hơi lo. Hãy nhắn với anh ấy là cậu Carraway vừa đến thăm nhé.”
“Ai cơ?” hắn xấc xược hỏi.
“Carraway.”
“Carraway. Được rồi, tôi sẽ chuyển lời.”
Hắn sầm cửa lại một cách vô lễ.
Bà hầu người Phần Lan của tôi cho hay rằng cách đây một tuần, Gatsby đã sa thải toàn bộ người làm trong nhà và thuê nửa tá người mới vào thay. Bọn họ chẳng bao giờ bén mảng ra làng West Egg để bị đám tiểu thương mua chuộc, mà chỉ gọi điện đặt mua những thứ vừa đủ dùng. Cậu nhân viên giao hàng bỗng cho biết căn bếp trông chẳng khác nào một bãi rác, và dư luận trong làng đều đồn đại rằng đám người mới ấy hoàn toàn không phải là gia nhân.
Hôm sau, Gatsby gọi điện cho tôi.
“Anh sắp đi đâu à?” tôi hỏi.
“Không đâu, anh bạn già.”
“Tôi nghe nói anh vừa sa thải hết người làm.”
“Tôi muốn tìm mấy người kín miệng. Daisy hay sang chơi lắm—vào các buổi chiều.”
Thế là cả cái cơ ngơi đồ sộ ấy đã sụp đổ như một lâu đài bài tây trước ánh mắt đầy vẻ không đồng tình của nàng.
“Đấy là mấy người mà Wolfshiem muốn giúp đỡ dăm ba việc. Họ đều là anh em ruột thịt với nhau cả. Trước kia họ từng quản lý một khách sạn nhỏ.”
“Tôi hiểu rồi.”
Anh gọi điện theo lời dằng dặc của Daisy—liệu trưa mai tôi có thể sang nhà nàng ăn trưa không? Cô Baker cũng sẽ có mặt ở đó. Nửa tiếng sau, chính Daisy gọi điện tới và có vẻ nhẹ nhõm khi biết tôi sẽ đến. Chắc chắn có chuyện gì đó sắp xảy ra. Thế nhưng, tôi vẫn không thể tin nổi họ lại chọn thời điểm này để làm lớn chuyện—nhất là cái màn kịch khá đau lòng mà Gatsby từng phác vẽ trong khu vườn.
Hôm sau trời oi bức kinh khủng, có lẽ là ngày nóng nhất và cũng gần như là ngày cuối cùng của mùa hè. Khi đoàn tàu của tôi ngoi lên từ đường hầm dưới ánh nắng chói chang, sự tĩnh mịch ngột ngạt giữa trưa hè chỉ bị phá vỡ bởi những tiếng còi tàu inh ỏi của hãng National Biscuit Company. Những chiếc ghế mây trên toa tàu nóng như sắp bốc cháy; người phụ nữ ngồi cạnh tôi mồ hôi đầm đìa thấm ướt chiếc áo sơ mi trắng mảnh mai một lúc, rồi khi tờ báo trong tay cô ấy nhão nhoét vì mồ hôi, cô bỗng buông một tiếng thở dài tuyệt vọng chìm nghỉm vào cái nóng bức vô tận. Chiếc túi xách rơi bộp xuống sàn.
“Ôi trời đất ơi!” cô thốt lên.
Tôi mệt mỏi cúi xuống nhặt lên rồi đưa lại cho cô, cố cầm lấy tận chóp góc túi và dangh xa tay để chứng minh rằng tôi chẳng có ý đồ đen tối gì—nhưng những kẻ ngồi quanh, bao gồm cả người phụ nữ ấy, vẫn nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngờ y như vậy.
“Nóng quá nhỉ!” người soát vé chào những gương mặt quen thuộc. “Thời tiết gì thế này!... Nóng!… Nóng!… Nóng!… Nóng thế này đủ cho các bác chưa? Nóng quá! Có phải là…?”
Vé tháng của tôi được trả lại với một vết ố đen sì từ lòng bàn tay anh ta. Giữa cái nóng này, có ai thèm bận tâm xem đôi môi ửng đỏ nào mà hắn đã hôn, hay mái tóc nào đã làm ẩm chiếc túi áo pijama trước ngực hắn cơ chứ!
… Thoảng qua sảnh lớn ngôi nhà nhà Buchanan là một làn gió nhẹ, mang theo tiếng chuông điện thoại vọng đến chỗ Gatsby và tôi khi chúng tôi đang chờ ở cửa.
“Xác của ông chủ á?” người quản gia quát vào ống nghe. “Tôi rất tiếc, thưa phu nhân, nhưng chúng tôi không thể mang đi được đâu—trưa nay trời nóng thế này thì chẳng tài nào chạm nổi vào đâu!”
Thực ra hắn nói thế này: “Vâng… Vâng… Để tôi xem.”
Hắn gác ống nghe lên rồi bước về phía chúng tôi, mồ hôi lấm tấm trên mặt, để nhận những chiếc mũ rơm cứng ngắc từ tay chúng tôi.
“Phu nhân đang đợi hai vị trong phòng khách!” hắn hô lên, thừa thãi chỉ đường cho chúng tôi. Cái nắng nóng này biến mọi cử động thừa thãi thành một sự lăng mạ đối với nguồn năng lượng cạn kiệt của sự sống.
Căn phòng được che rèm kín mít nên vừa tối vừa mát mẻ. Daisy và Jordan đang nằm dài trên chiếc ghế bô-pha khổng lồ, trông tựa như những bức tượng bạc đang đè nặng lên chính những chiếc váy trắng của họ giữa ngọn gió vi vu từ những chiếc quạt.
“Chúng tôi chẳng màng nhúc nhích nổi nữa,” cả hai cùng lên tiếng.
Những ngón tay của Jordan, phấn phủ trắng phau trên lớp da rám nắng, khẽ lướt qua tay tôi trong chốc lát.
“Còn vận động viên Thomas Buchanan đâu rồi?” tôi hỏi.
Đúng lúc ấy, tôi nghe thấy giọng nói trầm đục, nghẹt mũi và khàn khàn của hắn phát ra từ chiếc điện thoại ở sảnh.
Gatsby đứng giữa tấm thảm đỏ rực, đôi mắt đắm đuối nhìn quanh phòng. Daisy dõi theo anh và bật cười, một tiếng cười ngọt ngào và gợi cảm; một làn phấn mỏng từ ngực nàng bay vút vào không trung.
“Nghe đồn,” Jordan thì thầm, “đấy là bồ của anh Tom đang gọi điện đấy.”
Chúng tôi im lặng. Giọng nói ngoài sảnh lớn bỗng cao vút lên đầy bực dọc: “Thôi được rồi, tao không thèm bán xe cho mày nữa đâu!... Tao chẳng nợ nần gì mày sất… và việc mày cứ lèo nhèo quấy rầy tao vào giờ ăn trưa thế này là tao không tài nào chịu được đâu đấy nhé!”
“Hắn đang ghì chặt ống nghe đấy,” Daisy mỉa mai nói.
“Không đâu, anh ấy không làm thế đâu,” tôi trấn an nàng. “Đó là một vụ làm ăn đàng hoàng. Tình cờ là tôi có biết chút ít về chuyện này.”
Tom tung cửa bước vào, cái thân hình vạm vỡ che kín cả khung cửa trong giây lát, rồi hắn vội vã tiến vào phòng.
“Chào anh Gatsby!” Hắn chìa bàn tay bè rộng ra với sự chán ghét được che giấu kỹ càng. “Rất vui được gặp anh, thưa ngài… Nick…”
“Pha cho chúng em ít đồ uống lạnh đi,” Daisy kêu lên.
Khi hắn quay người bước ra khỏi phòng, nàng liền đứng dậy đi về phía Gatsby, kéo đầu anh cúi xuống rồi đặt một nụ hôn lên môi anh.
“Em muốn anh biết là em yêu anh,” nàng thì thầm.
“Anh quên mất là ở đây có phụ nữ đấy à,” Jordan nhắc nhở.
Daisy ngập ngừng nhìn quanh.
“Cả Nick nữa, em hôn nốt đi.”
“Đúng là một đứa con gái thấp hèn, vô văn hóa!”
“Em mặc kệ!” Daisy kêu lên, rồi bắt đầu nhảy nhót nhịp nhàng trên lò sưởi bằng gạch. Ngay sau đó nàng chợt nhớ ra thời tiết oi bức bèn lủi thủi ngồi thụp xuống chiếc ghế bô-pha với vẻ tội lỗi, đúng lúc một y tá mặc đồng phục phẳng phi dắt theo một bé gái bước vào phòng.
“Cục cưng ngoan ngoãn của mẹ đây rồi,” nàng ngọt ngào cất tiếng, dang rộng hai tay. “Lại đây với người mẹ yêu con nào.”
Được cô y tá buông tay, đứa trẻ liền lao nhanh qua phòng và rụt rè rúc vào vạt áo mẹ.
“Cục cưng của mẹ! Mẹ làm phấn dính cả vào mái tóc vàng óng của con rồi kìa? Đứng thẳng lên nào, và chào mọi người đi con.”
Lần lượt Gatsby và tôi cúi xuống nắm lấy bàn tay nhỏ bé đầy vẻ ngượng ngùng của con bé. Sau đó, anh cứ ngẩn ngơ nhìn đứa trẻ bằng ánh mắt đầy ngạc nhiên. Tôi không nghĩ là trước đó anh thực sự tin rằng trên đời này có sự tồn tại của nó.
“Con thay đồ từ trước bữa trưa cơ,” con bé vừa đáp vừa hào hứng quay sang Daisy.
“Đó là vì mẹ muốn khoe con với mọi người đấy mà.” Gương mặt nàng áp vào nếp gấp duy nhất trên chiếc cổ trắng ngần của con bé. “Đồ tiểu yêu. Đúng là một cục cưng ngọt ngào của mẹ.”
“Vâng,” con bé bình thản thừa nhận. “Dì Jordan cũng mặc váy trắng kìa.”
“Con thấy bạn bè của mẹ thế nào?” Daisy quay người con bé lại đối diện với Gatsby. “Con có thấy họ đẹp không?”
“Bố đâu hả mẹ?”
“Trông nó chẳng giống bố nó tẹo nào,” Daisy giải thích. “Nó giống mẹ. Nó có mái tóc và khuôn mặt y đúc như mẹ đây.”
Daisy ngả người ra sau ghế bô-pha. Cô y tá bước lên một bước và chìa tay ra.
“Nào, Pammy.”
“Tạm biệt cục cưng nhé!”
Với cái nhìn ngoái lại đầy lưu luyến, đứa trẻ ngoan ngoãn nắm lấy tay y tá và bị kéo ra cửa, đúng lúc Tom quay trở lại, đi trước bốn ly rượu gin rickey với những viên đá lạnh lách cách bên trong.
Gatsby cầm ly đồ uống của mình lên.
“Trông mát mẻ thật đấy,” anh nói, cơ mặt vẫn còn hằn rõ sự căng thẳng.
Chúng tôi uống những ngụm dài và đầy thèm thuồng.
“Tôi đọc được ở đâu đó rằng mặt trời mỗi năm một nóng lên đấy,” Tom hào hứng nói. “Có vẻ như chẳng mấy chốc trái đất sẽ rơi thẳng vào mặt trời mất—hoặc là chờ chút đã—sự thật thì ngược lại mới đúng—mặt trời mỗi năm một lạnh đi cơ.”
“Ra ngoài này đi,” hắn gợi ý với Gatsby, “tôi muốn đưa anh đi tham quan một chút.”
Tôi đi theo họ ra ngoài hành lang. Trên mặt vịnh Sound xanh ngắt đang tù đọng vì oi bức, một cánh buồm nhỏ đang lê la trôi chầm chậm về phía vùng biển mát mẻ hơn. Ánh mắt Gatsby dõi theo nó trong giây lát; anh giơ tay chỉ sang phía bên kia vịnh.
“Nhà tôi nằm ngay đối diện nhà anh đấy.”
“Thì thế.”
Ánh mắt chúng tôi hướng lên những luống hoa hồng, thảm cỏ khô khốc và đám cỏ dại ven bờ vào những ngày hè oi ả. Tấm rèm trắng của chiếc thuyền từ từ chuyển động trên nền trời xanh thẳm mát rượi. Phía trước là đại dương lượn sóng và những hòn đảo phước lành trù phú.
“Ở đó tha hồ mà thể thao nhé,” Tom vừa gật đầu vừa nói. “Tôi rất muốn được ra khơi với hắn khoảng một tiếng đồng hồ.”
Chúng tôi dùng bữa trưa trong phòng ăn, nơi cũng được che rèm tối thui để chống chọi với cái nóng, và nuốt trọn sự phấn khích đầy căng thẳng cùng những ngụm bia lạnh ngắt.
“Chiều nay chúng ta sẽ làm gì đây?” Daisy kêu lên, “rồi cả ngày hôm sau nữa, và ba mươi năm tiếp theo sẽ thế nào?”
“Đừng có bi quan sến súa thế chứ,” Jordan nói. “Cuộc sống lại bắt đầu tươi mới trở lại khi mùa thu se lạnh mà.”
“Nhưng trời nóng thế này cơ mà,” Daisy nài nỉ, giọng suýt khóc, “và mọi thứ cứ rối tung cả lên. Hay là tất cả chúng ta cùng vào thành phố đi!”
Giọng nàng chật vật cất lên giữa bầu không khí oi bức, chống chọi lại nó, nhào nặn sự ngột ngạt vô tri ấy thành hình khối.
“Tôi từng nghe chuyện người ta cải tạo chuồng ngựa thành gara,” Tom đang nói với Gatsby, “nhưng tôi lại là kẻ đầu tiên biến gara thành chuồng ngựa đấy.”
“Có ai muốn vào thành phố không hả?” Daisy nằng nặc đòi câu trả lời. Ánh mắt Gatsby hướng về phía nàng. “Ồ,” nàng thốt lên, “trông anh mát mẻ làm sao.”
Ánh mắt họ chạm vào nhau, và họ cứ thế đăm đăm nhìn nhau, cô độc giữa không gian mênh mông. Phải rất cố gắng nàng mới chịu dời mắt xuống chiếc bàn ăn.
“Lúc nào trông anh cũng mát mẻ thế đấy,” nàng lặp lại.
Nàng đã thổ lộ với anh rằng nàng yêu anh, và Tom Buchanan đã tận mắt chứng kiến tất cả. Hắn sững sờ đến tột độ. Miệng hắn hé mở một chút, hắn nhìn Gatsby, rồi quay sang nhìn Daisy như thể vừa nhận ra nàng giống như một người quen từ thuở nào.
“Anh trông giống hệt nhân vật trong quảng cáo ấy,” nàng ngây thơ nói tiếp. “Anh biết bức ảnh quảng cáo người đàn ông đó chứ—”
“Thôi đủ rồi,” Tom hậm hực cắt ngang, “tôi hoàn toàn sẵn sàng vào thành phố đây. Nào—tất cả chúng ta cùng đi thôi.”
Hắn đứng phắt dậy, đôi mắt vẫn lóe lên những tia nhìn giận dữ giữa Gatsby và vợ mình. Chẳng ai nhúc nhích.
“Đi thôi chứ!” Cơn thịnh nộ của hắn chực bùng nổ. “Còn chờ gì nữa thế hả? Đã định vào thành phố thì xuất phát đi chứ.”
Bàn tay đang run lên vì cố kìm chế của hắn đưa nốt ngụm bia cuối cùng lên môi. Giọng nói của Daisy đã vực chúng tôi đứng dậy và bước ra lối đi rải sỏi đang phơi mình dưới cái nắng chói chang.
“Chúng ta cứ thế đi luôn thế này á?” nàng phản đối. “Thế này ư? Không ai được phép hút một điếu thuốc trước đã sao?”
“Mọi người đã hút suốt bữa trưa rồi còn gì.”
“Ôi, cứ cho tụi em chút thời gian vui vẻ đi chứ,” nàng nài nỉ. “Trời nóng thế này càu nhàu mệt lắm.”
Hắn không đáp.
“Tùy anh vậy,” nàng bảo. “Đi thôi, Jordan.”
Họ đi lên lầu để chuẩn bị trong lúc ba chúng tôi đứng bên dưới lấy chân khều khều những viên sỏi nóng bỏng. Một mảnh trăng non lơ lửng hình lưỡi liềm bạc đã hiện lên trên bầu trời phía tây. Gatsby định nói gì đó rồi lại thôi, nhưng chưa kịp mở lời thì Tom đã quay phắt lại trân trân nhìn anh đầy chờ đợi.
“Anh có chuồng ngựa ở ngay đây à?” Gatsby cất lời có vẻ khó nhọc.
“Cách đây chừng một phần tư dặm dọc theo con đường này.”
“Ồ.”
Im lặng một thoáng.
“Tôi chẳng hiểu nổi việc vào thành phố có ý nghĩa quái gì cơ chứ,” Tom bỗng gầm lên đầy cay cú. “Đàn bà cứ hay vẽ vời mấy cái ý tưởng vớ vẩn ấy vào đầu—”
“Chúng ta có nên mang theo chút đồ uống không nhỉ?” Daisy từ cửa sổ tầng trên vọng xuống.
“Để anh lấy ít whisky,” Tom đáp. Hắn bước vào trong nhà.
Gatsby quay sang tôi với vẻ mặt cứng đờ:
“Tôi chẳng thể nói năng gì trong nhà hắn được đâu, anh bạn già ạ.”
“Cổ có cái giọng vô duyên thật đấy,” tôi nhận xét. “Nghe cứ như là—” tôi ngập ngừng.
“Giọng cô ấy ngập tràn mùi tiền,” anh đột ngột nói.
Đúng thế thật. Trước đó tôi chưa từng nhận ra điều này. Nó ngập tràn mùi tiền—đó chính là thứ sức hút vô tận cứ dâng lên rồi chìm xuống trong giọng nói ấy, tiếng leng keng của tiền bạc, âm thanh rộn rã như tiếng chập cõng của kim loại… Ngự trị trên tòa lâu đài trắng ngần là nàng công chúa của nhà vua, thiếu nữ kiều diễm tựa ánh vàng….
Tom bước ra khỏi nhà tay cầm chai rượu một lít được quấn quanh bằng một chiếc khăn tắm, theo sau là Daisy và Jordan đang đội những chiếc mũ nhỏ ôm sát đầu làm bằng vải kim tuyến và vắt hững hờ những chiếc áo choàng nhẹ trên tay.
“Hay là tất cả chúng ta đi xe của tôi đi?” Gatsby gợi ý. Anh sờ vào lớp da màu xanh lá đang bỏng rát của ghế ngồi. “Lẽ ra tôi nên đỗ xe vào chỗ râm mới phải.”
“Xe số sàn à?” Tom hách dịch hỏi.
“Vâng.”
“Thế thì thế này, anh cứ lái chiếc coupe của tôi, còn tôi sẽ lái xe của anh vào thành phố.”
Gợi ý đó khiến Gatsby chẳng lấy gì làm dễ chịu.
“Tôi sợ xe không còn nhiều xăng lắm,” anh từ chối.
“Xăng đầy bình ấy chứ,” Tom oang oang nói. Hắn liếc nhìn cây kim báo xăng. “Và nhỡ có hết thì tôi tạt vào cửa hàng dược phẩm nào đó dọc đường là xong. Thời buổi này mua quái gì ở hiệu thuốc mà chẳng được.”
Tiếp theo câu nói có vẻ vô nghĩa ấy là một khoảng lặng. Daisy nhíu mày nhìn Tom, và một biểu cảm khó tả, vừa hoàn toàn lạ lẫm lại vừa có chút quen thuộc mang mác, như thể tôi mới chỉ nghe người ta miêu tả bằng lời chứ chưa thấy bao giờ, thoáng qua trên khuôn mặt Gatsby.
“Đi thôi, Daisy,” Tom vừa nói vừa lấy tay đẩy nàng về phía chiếc xe của Gatsby. “Anh sẽ chở em trên cái cỗ xe xiếc này.”
Hắn mở cửa xe, nhưng nàng lách mình bước ra khỏi vòng tay hắn.
“Anh chở Nick với Jordan đi. Bọn em sẽ lái chiếc coupe theo sau.”
Nàng bước sát vào người Gatsby, tay chạm nhẹ lên vạt áo anh. Jordan, Tom và tôi trèo lên ghế trước của xe Gatsby, Tom lúng túng gạt cần số còn xa lạ, rồi chúng tôi phóng vụt đi giữa bầu không khí ngột ngạt, để lại hai người họ khuất hút ở phía sau.
“Cậu có thấy thế không?” Tom hằn học hỏi.
“Thấy gì cơ?”
Hắn nhìn tôi chằm chằm đầy soi mói, nhận ra rằng thể nào Jordan và tôi cũng đã biết chuyện từ đời nào rồi.
“Cậu nghĩ tôi đần độn lắm phải không?” hắn bóng gió. “Có lẽ là thế thật, nhưng đôi khi tôi có một giác quan thứ sáu—gần như thế—nó mách bảo tôi phải làm gì. Có thể cậu không tin điều đó, nhưng khoa học thì—”
Hắn khựng lại. Rắc rối trước mắt kéo tụt hắn về thực tại, lôi hắn giật lùi khỏi vực thẳm của những suy diễn lý thuyết.
“Tôi đã âm thầm điều tra về cái gã này một chút,” hắn nói tiếp. “Lẽ ra tôi còn có thể đào sâu hơn nếu như tôi biết trước—”
“Ý anh là anh đã đi xem bà cốt ông đồng nào à?” Jordan hóm hỉnh hỏi.
“Hả?” Ngẩn người ra, hắn trân trân nhìn chúng tôi đang cười phá lên. “Bà cốt ông đồng nào cơ?”
“Về Gatsby ấy mà.”
“Về Gatsby á! Không, đời nào. Ý tôi là tôi đang âm thầm điều tra về quá khứ của hắn cơ mà.”
“Và anh phát hiện ra hắn từng học ở Oxford chứ gì,” Jordan bồi thêm câu cho có tụ.
“Học Oxford cái nỗi gì!” Hắn tỏ vẻ hoài nghi. “Khỉ khô ấy mà! Hắn còn mặc cả một bộ vest hồng nữa cơ mà.”
“Dẫu sao thì hắn cũng từng học ở Oxford.”
“Oxford ở tận New Mexico phỏng,” Tom khinh khỉnh hừ mũi, “hoặc xó xỉnh nào đại loại thế.”
“Này Tom. Nếu anh khinh người đến thế, sao còn mời hắn đến ăn làm gì?” Jordan bực bội hỏi.
“Daisy mời chứ bộ; cô ấy quen hắn từ trước khi chúng tôi kết hôn—chúa mới biết ở xó xỉnh nào!”
Giờ thì ai nấy đều bực dọc vì hơi men cạn dần, và ý thức được điều đó, chúng tôi cứ thế lặng lẽ lái xe một lúc lâu. Rồi khi đôi mắt mờ đục của bác sĩ T. J. Eckleburg xuất hiện ở khúc cua phía trước, tôi chợt nhớ ra lời dặn dò của Gatsby về chuyện đổ xăng.
“Chúng ta đủ xăng để chạy vào thành phố mà,” Tom quả quyết.
“Nhưng ngay ở đây có cái trạm xăng cơ mà,” Jordan phản đối. “Tôi không muốn bị chết máy giữa cái nắng nung người này đâu.”
Tom cau mày đạp phanh gấp ngắt quãng, khiến chiếc xe trượt dài và khựng lại đầy đột ngột với một đám bụi mù mịt ngay dưới tấm biển hiệu của Wilson. Một lát sau, người chủ tiệm bước ra từ bên trong và trân trân nhìn chiếc xe bằng đôi mắt trũng sâu.
“Đổ xăng mau lên!” Tom thô lỗ quát. “Cậu nghĩ chúng tôi dừng xe ở đây để ngắm cảnh à?”
“Tôi đang ốm,” Wilson nói mà chẳng thèm dịch chuyển người. “Ốm liệt giường cả ngày hôm nay rồi.”
“Sao thế?”
“Người ngợm tôi rã rời hết cả rồi đây.”
“Thế nào, tôi tự ra lấy xăng lấy nhé?” Tom hách dịch hỏi. “Lúc nãy nói chuyện qua điện thoại nghe giọng anh khỏe khoắn lắm cơ mà.”
Phải cố gắng lắm Wilson mới rời khỏi mái hiên và điểm tựa của khung cửa, vừa thở hồng hộc vừa vặn nắp bình xăng. Dưới ánh nắng chói chang, khuôn mặt anh ta tái xanh.
“Tôi không có ý định làm gián đoạn bữa trưa của các ngài đâu,” anh ta nói. “Nhưng tôi đang túng tiền quá, và tôi đang tự hỏi không biết các ngài định xử lý thế nào với chiếc xe cũ nhỉ.”
“Cậu thấy chiếc xe này thế nào?” Tom hỏi. “Tôi vừa mua nó tuần trước đấy.”
“Đẹp thật, màu vàng chóe,” Wilson vừa đáp vừa rướn người vặn nắp.
“Có muốn mua lại không?”
“Còn lâu mới tới lượt,” Wilson cười nhạt. “Không, nhưng tôi có thể kiếm chút chác từ chiếc xe kia.”
“Dạo này tự dưng kiếm tiền làm gì thế?”
“Tôi ở đây lâu lắm rồi. Tôi muốn đi khỏi nơi này. Vợ chồng tôi muốn chuyển về miền Tây.”
“Vợ anh muốn thế cơ à?” Tom giật mình thốt lên.
“Cổ lải nhải về chuyện đó từ chục năm nay rồi.” Anh ta dựa người vào cột bơm xăng trong chốc lát, lấy tay che mắt. “Và giờ thì dù muốn hay không cô ấy cũng phải đi. Tôi sẽ đưa cô ấy rời khỏi đây bằng được.”
Chiếc xe coupe phóng vút qua chúng tôi kèm theo một trận cuồng phong bụi mù và cái vẫy tay chớp nhoáng.
“Tôi nợ anh bao nhiêu?” Tom cộc cằn hỏi.
“Mấy hôm nay tôi mới ngộ ra mấy chuyện quái gở,” Wilson lẩm bẩm. “Đó là lý do vì sao tôi muốn đi. Đó là lý do vì sao tôi cứ làm phiền anh về chiếc xe.”
“Tôi nợ anh bao nhiêu?”
“Một đô hai mươi.”
Cái nóng bức ngột ngạt cứ tra tấn tâm trí khiến tôi bắt đầu thấy lú lẫn, và tôi đã trải qua một khoảnh khắc tồi tệ trước khi nhận ra rằng cho đến lúc này, sự nghi ngờ của Wilson vẫn chưa chĩa vào Tom. Anh ta mới chỉ phát hiện ra Myrtle có một cuộc sống riêng tư nào đó tách biệt khỏi anh ta ở một thế giới khác, và cú sốc đó đã khiến anh ta ngã bệnh về thể xác. Tôi trân trân nhìn anh ta rồi quay sang nhìn Tom—người cũng vừa phát hiện ra một sự thật tương tự chưa đầy một tiếng đồng hồ trước—và tôi chợt nhận ra rằng giữa người với người, chẳng có sự khác biệt nào về trí tuệ hay chủng tộc lại sâu sắc bằng khoảng cách giữa kẻ ốm đau và người khỏe mạnh. Wilson ốm nặng đến mức trông anh ta đầy vẻ tội lỗi, một tội lỗi không thể dung tha—tựa như anh ta vừa làm cho một cô gái nhà lành mang chửa hoang vậy.
“Tôi sẽ để lại chiếc xe đó cho anh,” Tom nói. “Chiều mai tôi sẽ cho người đánh xe sang đây.”
Khu vực đó lúc nào cũng mang lại cảm giác bất an kỳ lạ, ngay cả giữa ban ngày ban mặt, và lúc này tôi ngoảnh đầu lại cứ như vừa có ai cảnh báo về điều gì đó ở phía sau. Phía trên những bãi tro tàn, đôi mắt khổng lồ của bác sĩ T. J. Eckleburg vẫn miệt mài canh gác, nhưng rồi tôi nhận ra chỉ một lát sau, có những đôi mắt khác đang nhìn chằm chằm về phía chúng tôi với một sự chăm chú kỳ lạ từ khoảng cách chưa đầy hai mươi bước chân.
Tấm rèm ở một trong những ô cửa sổ trên tầng gara đã được kéo lệch sang một bên, và Myrtle Wilson đang dòm ngó xuống chiếc xe bên dưới. Cổ ta mải mê đến nỗi chẳng mờ hay biết gì là mình đang bị theo dõi, và từng cảm xúc cứ thế lần lượt hiện lên trên khuôn mặt ấy hệt như những bức ảnh đang dần hiện hình trong dung dịch. Biểu cảm của cô ta sao mà quen thuộc đến lạ—đó là nét mặt mà tôi từng bắt gặp rất nhiều lần trên gương mặt của những người phụ nữ khác, nhưng trên gương mặt Myrtle Wilson lúc này, nó lại trở nên vô định và khó hiểu đến mức tôi chợt nhận ra đôi mắt đang trợn tròng vì nỗi sợ ghen tuông kia không hề dán chặt vào Tom, mà đang hướng thẳng về phía Jordan Baker—người mà cô ta lầm tưởng là vợ của hắn.
Chẳng có sự hỗn loạn nào sánh được với sự hỗn loạn trong một bộ óc đơn thuần, và khi chúng tôi phóng xe đi, Tom đang cảm thấy những nhát roi bỏng rát của sự hoảng loạn. Vợ hắn và tình nhân của hắn, chỉ cách đây một tiếng đồng hồ còn an toàn và bất khả xâm phạm, nay đang tuột khỏi tầm kiểm soát của hắn một cách nhanh chóng. Bản năng mách bảo hắn dập mạnh chân ga với hai mục đích: vừa để bắt kịp Daisy vừa để bỏ lại Wilson phía sau, và chúng tôi phóng như bay về phía Astoria với tốc độ năm mươi dặm một giờ, cho đến khi qua khỏi những khung dầm chằng chịt như mạng nhện của đường tàu điện trên cao, chúng tôi bắt gặp chiếc xe coupe màu xanh đang thong thả chạy phía trước.
“Mấy rạp chiếu phim lớn quanh khu phố Năm mươi mát mẻ lắm đấy,” Jordan gợi ý. “Tôi thích New York vào những buổi chiều mùa hè khi mọi người đi vắng hết. Nó mang lại cảm giác vô cùng khêu gợi—chín muồng, cứ như đủ thứ trái cây kỳ quặc sắp rơi lả tả vào tay anh vậy.”
Từ “khêu gợi” ấy càng làm Tom thêm bứt rứt, nhưng chưa kịp phản đối thì chiếc xe coupe đã dừng lại, và Daisy ra hiệu cho chúng ta tấp xe vào sát bên cạnh.
“Chúng ta đang đi đâu thế?” nàng kêu lên.
“Hay là ra rạp chiếu phim nhé?”
“Trời nóng thế này cơ mà,” nàng phàn nàn. “Các anh cứ đi đi. Tụi em sẽ lượn lờ một vòng rồi gặp nhau sau.” Cố nặn ra một chút hài hước, nàng nói tiếp. “Tụi em sẽ gặp các anh ở một góc phố nào đó. Em sẽ hóa trang thành kẻ ngậm hai điếu thuốc.”
“Chúng ta không thể đứng đây đôi co mãi được đâu,” Tom bực dọc lên tiếng khi một chiếc xe tải phía sau bỗng rú còi inh ỏi. “Em lái xe theo anh ra phía nam Công viên Trung tâm, ngay trước khách sạn Plaza ấy.”
Hắn ngoảnh đầu lại nhìn chiếc xe của họ mấy bận, và nếu kẹt xe khiến họ bị tụt lại, hắn liền giảm tốc độ cho đến khi họ bắt kịp. Tôi nghĩ hắn sợ rằng họ sẽ rẽ phắt vào một con hẻm nào đó rồi biến mất khỏi cuộc đời hắn vĩnh viễn.
Nhưng họ đã không làm thế. Và tất cả chúng tôi đều đưa ra một quyết định kỳ quặc chẳng thể giải thích nổi là thuê hẳn một phòng khách sang trọng trong khách sạn Plaza.
Cuộc tranh cãi kéo dài và ồn ào đến mức cuối cùng lùa tất cả chúng tôi vào căn phòng ấy đã trôi tuột khỏi trí nhớ tôi, dẫu cho tôi vẫn nhớ như in cảm giác thể xác rằng trong lúc đó, chiếc quần lót của tôi cứ bám chặt lấy chân như một con rắn ẩm ướt và những giọt mồ hôi thi nhau lăn mát lạnh dọc sống lưng. Ý tưởng này xuất phát từ lời đề nghị của Daisy là chúng tôi nên thuê năm phòng tắm để ngâm mình trong nước lạnh, và rồi nó biến thành một hình hài thực tế hơn là “một chỗ để thưởng thức ly rượu bạc hà julep”. Ai nấy cứ lặp đi lặp lại rằng đó là một “ý tưởng điên rồ”—tất cả cùng nhao nhao lên nói với nhân viên quầy lễ tân đang ngơ ngác và tự tưởng tượng, hoặc giả vờ tưởng tượng rằng tụi mình đang hài hước lắm…
Căn phòng rộng thênh thang và ngột ngạt, và dù lúc đó đã là bốn giờ chiều, việc mở toang các cửa sổ cũng chỉ đưa được vào phòng một luồng hơi nóng hầm hập từ những lùm cây trong công viên. Daisy tiến đến trước gương, quay lưng về phía chúng tôi để sửa lại mái tóc.
“Phòng sang trọng thật đấy,” Jordan thì thầm vẻ đầy kính nể, và tất cả cùng cười phá lên.
“Mở thêm cửa sổ ra xem nào,” Daisy ra lệnh mà chẳng thèm quay đầu lại.
“Hết chỗ mở rồi cậu ạ.”
“Thế thì tốt nhất chúng ta nên gọi thợ mộc mang rìu đến phá ra—”
“Việc chúng ta phải làm lúc này là quên cái nóng đi,” Tom bực dọc nói. “Cứ ngồi đấy mà cằn nhằn thì chỉ làm cho mọi thứ tồi tệ gấp mười lần thôi.”
Hắn lột chiếc khăn tắm quấn quanh chai whisky rồi đặt phịch nó lên bàn.
“Sao cứ phải làm khó cô ấy thế nhỉ, anh bạn già?” Gatsby cất lời nhã ý. “Chính anh mới là kẻ nằng nặc đòi vào thành phố cơ mà.”
Một thoáng im lặng trùm lên căn phòng. Cuốn danh bạ điện thoại tuột khỏi chiếc đinh treo và rơiịch xuống sàn nhà, khiến Jordan phải thầm thì “Xin lỗi nhé”—nhưng lần này chẳng ai buồn cười cợt.
“Để tôi nhặt cho,” tôi lên tiếng.
“Tôi nhặt được rồi.” Gatsby săm soi sợi dây buộc đã đứt, lẩm bẩm “Hừ!” đầy vẻ tò mò, rồi ném quẳng cuốn sách lên ghế.
“Cái cửa miệng ‘anh bạn già’ của anh hay ho phết nhỉ?” Tom hằn học lên tiếng.
“Sao cơ?”
“Cái kiểu ‘anh bạn già’ ấy chứ sao. Anh học thói đó ở đâu ra thế?”
“Này anh Tom,” Daisy từ trước gương quay phắt lại nói, “nếu anh định dùng lời lẽ xỉa xói cá nhân thì em sẽ không thèm ở lại đây thêm một phút nào nữa đâu. Gọi điện bảo người ta mang đá lạnh lên đây để pha rượu bạc hà đi.”
Khi Tom vừa nhấc ống nghe lên thì cái nóng bị nén chặt bỗng phát ra âm thanh nổ đôm đốp, và chúng tôi nghe văng vẳng những hợp âm hùng hồn của bản Hành khúc Hôn lễ do Mendelssohn từ phòng khiêu vũ dưới tầng trầu vọng lên.
“Lại đi kết hôn vào giữa thời tiết nóng nực thế này đúng là điên rồ!” Jordan chán chường kêu lên.
“Nhưng mà—tôi cũng kết hôn vào giữa tháng Sáu cơ mà,” Daisy chợt nhớ ra. “Louisville vào tháng Sáu đấy! Có người ngất xỉu cơ mà. Ai ngất thế nhỉ, Tom?”
“Biloxi,” hắn cụt ngủn đáp.
“Một gã tên là Biloxi. ‘Khối’ Biloxi, và nhà hắn chuyên đóng hòm—đúng thế thật đấy—và hắn là người Biloxi, Tennessee.”
“Họ khiêng hắn vào nhà tôi,” Jordan tiếp lời, “vì nhà chúng tôi chỉ cách nhà thờ có hai căn hộ. Và hắn trụ lại ở đó tận ba tuần, cho đến khi bố tôi bảo hắn xéo đi cho khuất mắt. Đúng ngày hôm sau khi hắn đi thì bố tôi qua đời.” Sau một thoáng ngập ngừng, cô nói thêm cứ sợ mình tỏ ra bất kính, “Chẳng có mối liên hệ nào đâu nhé.”
“Tôi từng quen một gã tên Bill Biloxi ở Memphis,” tôi lên tiếng.
“Đó là họ hàng của hắn đấy. Tôi nắm rõ phả hệ nhà hắn trước khi hắn rời đi. Hắn đã tặng tôi một cây gậy đánh gôn bằng nhôm mà tôi vẫn đang dùng tới tận ngày hôm nay đấy.”
Tiếng nhạc đã nhỏ dần khi buổi lễ bắt đầu, và giờ đây một tràng pháo tay kéo dài lọt qua cửa sổ, theo sau là những tiếng hò reo ngắt quãng “Yea—ea—ea!” và cuối cùng là một bản nhạc jazz trổi lên rộn rã khi mọi người bắt đầu khiêu vũ.
“Chúng ta già thật rồi,” Daisy ngậm ngùi nói. “Nếu còn trẻ chắc chúng ta đã lao ra đó nhảy nhót rồi.”
“Hãy nhớ đến gã Biloxi mà cẩn thận,” Jordan cảnh báo nàng. “Anh quen hắn ở đâu thế, Tom?”
“Biloxi á?” Hắn cố gắng tập trung suy nghĩ. “Tôi có quen hắn đâu. Hắn là bạn của Daisy cơ mà.”
“Đâu ra chuyện đó,” nàng chối bay chối biến. “Em chưa từng gặp hắn bao giờ. Hắn đi chuyến tàu riêng cơ mà.”
“Thì hắn bảo hắn quen em. Hắn bảo hắn lớn lên ở Louisville. Asa Bird đưa hắn đến vào phút chót và hỏi xem chúng ta còn chỗ cho hắn không.”
Jordan mỉm cười.
“Chắc hắn đang lang thang ăn chực nằm chờ để về nhà ấy mà. Hắn từng khoe với tôi hắn là chủ tịch hội sinh viên trường Yale của anh đấy.”
Tom và tôi trân trân nhìn nhau đầy ngơ ngác.
“Biloxi cơ à?”
“Thứ nhất là trường tụi tôi làm quái gì có chức chủ tịch nào thế…”
Gân bàn chân Gatsby khẽ gõ nhịp đầy bồn chồn, và Tom bất ngờ liếc sang nhìn anh.
“Nhân tiện đây, anh Gatsby, tôi nghe nói anh từng là sinh viên Oxford cơ mà.”
“Không hẳn thế.”
“Ồ có chứ, tôi nghe nói anh từng học ở Oxford mà.”
“Vâng—tôi từng học ở đó.”
Một thoáng im lặng. Rồi giọng Tom vang lên, đầy vẻ hoài nghi và khinh khỉ:
“Chắc anh phải học ở đó vào tầm thời gian gã Biloxi đến New Haven nhở.”
Lại một khoảng lặng nữa. Một người phục vụ gõ cửa bước vào mang theo bạc hà giã nhỏ và đá lạnh, nhưng sự im lặng vẫn chẳng hề bị phá vỡ bởi câu “cảm ơn” của hắn hay tiếng khép cửa nhẹ nhàng. Chi tiết động trời này cuối cùng cũng sắp được sáng tỏ.
“Tôi đã nói là tôi từng học ở đó cơ mà,” Gatsby điềm tĩnh đáp.
“Tôi nghe rõ rồi, nhưng tôi muốn biết chính xác là vào thời gian nào.”
“Đó là vào năm mười chín mười chín, tôi chỉ ở lại đó có năm tháng. Đó là lý do tại sao tôi không thực sự dám nhận mình là cựu sinh viên Oxford.”
Tom liếc nhìn quanh xem chúng tôi có chung nỗi hoài nghi với hắn không. Nhưng tất cả mọi người đều đang dồn mắt nhìn Gatsby.
“Đó là cơ hội mà họ dành cho một số sĩ quan sau khi hiệp định đình chiến được ký kết,” anh nói tiếp. “Chúng tôi có thể chọn bất kỳ trường đại học nào ở Anh hoặc Pháp.”
Tôi chỉ muốn đứng phắt dậy đấmmạnh vào lưng anh. Tôi lại được trải nghiệm cảm giác tin tưởng tuyệt đối vào anh hệt như những lần trước đó.
Daisy đứng dậy, mỉm cười nhạt rồi bước về phía chiếc bàn.
“Mở chai whisky ra đi, Tom,” nàng ra lệnh, “để em pha cho anh ly rượu bạc hà julep. Thế thì trông anh mới đỡ ngớ ngẩn đi chút… Nhìn đám bạc hà này mà xem!”
“Đợi một phút đã,” Tom gắt lên, “tôi muốn hỏi anh Gatsby thêm một câu nữa.”
“Cứ tự nhiên,” Gatsby lịch sự đáp.
“Rốt cuộc anh đang cố giở trò quỷ quái gì trong nhà tôi thế hả?”
Cuối cùng thì họ cũng lật bài ngửa, và Gatsby cảm thấy vô cùng thoải mái.
“Anh ấy có giở trò quỷ quái gì đâu,” Daisy tuyệt vọng nhìn hết người này đến người khác. “Chính anh mới là kẻ đang làm rùm beng lên đấy. Xin anh hãy tự chủ một chút đi.”
“Tự chủ ư!” Tom hoài nghi lặp lại. “Chắc thời buổi này mốt thịnh hành là ngồi ngắm vợ mình bị một gã vô danh tiểu tốt tán tỉnh chắc. Ồ, nếu ý anh là thế thì cứ việc loại tôi ra khỏi cuộc chơi nhé… Thời buổi này người ta bắt đầu bằng việc chế giễu đời sống gia đình và các thiết chế gia đình, rồi tiếp theo họ sẽ vứt bỏ tất cả xuống sông xuống biển và cho phép người da trắng kết hôn với người da đen luôn cho mà xem.”
Bừng bừng khí thế sau những lời lảm nhảm đầy cay độc, hắn tự ảo tưởng mình đang đứng trơ trọi một mình trên chiến lũy cuối cùng của nền văn minh nhân loại.
“Tất cả chúng ta ở đây đều là người da trắng cơ mà,” Jordan lẩm bẩm.
“Tôi biết mình chẳng được lòng ai mấy. Tôi chẳng bao giờ tổ chức những bữa tiệc linh đình. Chắc anh phải biến ngôi nhà của mình thành một bãi rác thì mới mong có bạn bè—trong cái thế giới hiện đại này nhỉ.”
Dù đang bực bội đến cực độ, và tất cả chúng tôi cũng thế, tôi vẫn cứ chực cười mỗi khi hắn há miệng. Sự chuyển biến từ một kẻ trăng hoa thành một tên đạo đức giả thật là hoàn mỹ.
“Tôi có chuyện muốn nói với anh, anh bạn già—” Gatsby mở lời. Nhưng Daisy đã đoán được ý định của anh.
“Xin anh đừng!” nàng bất lực cắt ngang. “Làm ơn đi, tất cả chúng ta về nhà thôi. Sao cứ phải ở đây làm gì?”
“Ý kiến hay đấy,” tôi đứng phắt dậy. “Đi thôi, Tom. Chẳng ai buồn uống rượu nữa đâu.”
“Tôi muốn biết anh Gatsby có chuyện gì muốn nói với tôi cơ.”
“Vợ anh không yêu anh,” Gatsby tuyên bố. “Cô ấy chưa từng yêu anh. Cô ấy yêu tôi.”
“Anh chắc điên rồi!” Tom phản xạ thốt lên.
Gatsby vùng đứng dậy, bừng bừng sự phấn khích.
“Cô ấy chưa từng yêu anh, anh có nghe thấy không?” anh hét lên. “Cô ấy lấy anh chỉ vì tôi nghèo và cô ấy đã chán ngấy cảnh phải chờ đợi tôi rồi. Đó là một sai lầm khủng khiếp, nhưng sâu thẳm trong tim, cô ấy chưa từng yêu bất kỳ ai ngoài tôi!”
Đến lúc này thì Jordan và tôi định chuồn đi, nhưng Tom và Gatsby lại cương quyết bắt chúng tôi ở lại bằng một thái độ ganh đua quyết liệt—cứ như thể cả hai chẳng có gì phải che giấu và việc lôi kéo chúng tôi vào cảm xúc của họ là một vinh hạnh vậy.
“Ngồi xuống đi, Daisy,” giọng Tom cố vớt vát chút giọng điệu gia trưởng nhưng bất thành. “Mọi chuyện rốt cuộc là thế nào hả? Tôi muốn nghe rõ đầu đuôi câu chuyện.”
“Tôi đã nói cho anh biết mọi chuyện rồi đấy thôi,” Gatsby đáp. “Đã diễn ra suốt năm năm trời—và anh chẳng hề hay biết gì.”
Tom quay phắt sang Daisy đầy hằn học.
“Em đã lén lút qua lại với gã này suốt năm năm trời cơ á?”
“Không phải qua lại,” Gatsby đính chính. “Không, tụi tôi không gặp nhau được. Nhưng cả hai vẫn yêu nhau suốt khoảng thời gian đó, anh bạn già ạ, và anh thì chẳng biết quái gì sất. Đôi khi tôi cứ bật cười”—nhưng trong mắt anh chẳng có một chút hơi hướm của tiếng cười—“khi nghĩ rằng anh hoàn toàn không hay biết gì.”
“Ồ—hóa ra chỉ có thế thôi à.” Tom gõ những ngón tay múp míp vào nhau hệt như một ông mục sư rồi ngả người ra sau ghế.
“Anh điên thật rồi!” hắn gầm lên. “Tôi không thể bàn về chuyện xảy ra từ năm năm trước được, vì lúc đó tôi chưa quen Daisy—và có chết tôi cũng chẳng tài nào hiểu nổi sao anh lại có thể bén mảng đến gần cô ấy được, trừ phi anh đến để giao hàng ở cửa sau. Nhưng toàn bộ phần còn lại chỉ là một lời dối trá khốn nạn mà thôi. Daisy yêu tôi khi cô ấy lấy tôi và bây giờ cô ấy vẫn yêu tôi.”
“Không,” Gatsby vừa đáp vừa lắc đầu.
“Thế mà đúng thế đấy. Rắc rối là đôi khi cô ấy hay nổi mấy cái ý tưởng điên rồ trong đầu và chẳng biết mình đang làm gì nữa.” Hắn gật đầu ra điều thông thái. “Và hơn thế nữa, tôi cũng yêu Daisy. Thỉnh thoảng tôi có hơi ăn chơi trác táng và làm ra mấy trò ngu ngốc, nhưng tôi luôn quay về, và tận sâu thẳm trong tim, lúc nào tôi cũng yêu cô ấy.”
“Anh thật đáng tởm,” Daisy thốt lên. Nàng quay sang tôi, giọng trầm xuống một quãng tám, lấp đầy căn phòng bằng sự khinh miệt đến rợn ngợp: “Anh có biết tại sao tụi tôi lại rời Chicago không? Tôi ngạc nhiên là tụi nó không kể cho anh nghe câu chuyện ăn chơi trác táng bé nhỏ đó đấy.”
Gatsby bước đến đứng ngay cạnh nàng.
“Daisy, mọi chuyện qua rồi,” anh thành khẩn nói. “Nó chẳng còn quan trọng nữa đâu. Chỉ cần nói cho hắn biết sự thật—rằng em chưa từng yêu hắn—và mọi thứ sẽ được xóa sạch vĩnh viễn.”
Nàng đẫn đờ nhìn anh. “Sao cơ—làm sao mà em có thể yêu hắn—cho đành lòng chứ?”
“Em chưa từng yêu hắn.”
Nàng ngập ngừng. Ánh mắt nàng rơi vào Jordan và tôi với một vẻ cầu cứu nào đó, như thể cuối cùng nàng cũng nhận ra mình đang làm gì—và như thể ngay từ đầu, nàng chưa từng có ý định làm bất cứ điều gì cả. Nhưng mọi chuyện đã rồi. Quá muộn để quay đầu.
“Em chưa từng yêu hắn,” nàng thốt lên với sự miễn cưỡng thấy rõ.
“Cả ở Kapiolani nữa ư?” Tom bất ngờ gặng hỏi.
“Không.”
Từ phòng khiêu vũ dưới tầng trầu, những hợp âm nghẹt thở và mờ đục đang cuộn trào dâng lên theo những luồng khí nóng.
“Cả cái ngày anh bế em từ Punch Bowl xuống để giữ cho đôi giày của em khỏi bị ướt nữa ư?” Giọng hắn thoáng lên một nét dịu dàng khàn đục… “Daisy?”
“Xin anh đừng nhắc nữa.” Giọng nàng lạnh lùng, nhưng sự hằn học đã biến mất. Nàng nhìn Gatsby. “Thôi nào, Jay,” nàng cất lời—nhưng bàn tay đang cố châm điếu thuốc của nàng lại run lẩy bẩy. Đột nhiên nàng ném văng điếu thuốc và que diêm đang cháy xuống thảm.
“Ôi, anh đòi hỏi nhiều quá đấy!” nàng hét lên với Gatsby. “Bây giờ em yêu anh—thế vẫn chưa đủ sao? Em đâu thể thay đổi được quá khứ.” Nàng bắt đầu nức nở không kìm chế nổi. “Đã có lúc em thực sự yêu hắn—nhưng em cũng yêu cả anh nữa.”
Đôi mắt Gatsby chớp chớp.
“Em cũng yêu cả hắn nữa ư?” anh lặp lại.
“Ngay cả điều đó cũng là dối trá,” Tom hung hăng nói. “Cô ấy còn chẳng biết anh sống chết ra sao nữa là. Sao cơ—giữa Daisy và tôi có những thứ mà anh chẳng bao giờ có thể thấu hiểu nổi, những thứ mà cả hai chúng tôi không bao giờ có thể quên được.”
Những lời nói ấy như cứa sâu vào da thịt Gatsby.
“Tôi muốn nói chuyện riêng với Daisy,” anh khăng khăng. “Cô ấy đang bị kích động rồi—”
“Ngay cả khi chỉ có hai người tôi cũng không thể nói là mình chưa từng yêu Tom,” nàng thừa nhận bằng một giọng đầy thảm hại. “Làm thế hóa ra nói dối à.”
“Đương nhiên là thế rồi,” Tom đồng tình.
Nàng quay sang nhìn chồng.
“Cứ như là chuyện đó quan trọng với anh lắm ấy,” nàng nói.
“Đương nhiên là quan trọng chứ. Từ nay về sau anh sẽ chăm sóc em chu đáo hơn.”
“Anh không hiểu gì cả,” Gatsby nói với chút hoảng loạn. “Anh sẽ không còn được chăm sóc cô ấy nữa đâu.”
“Tôi á?” Tom trân trân mở to mắt rồi cười lớn. Giờ thì hắn hoàn toàn có thể tự chủ được rồi. “Lý do là gì thế?”
“Daisy sẽ bỏ anh.”
“Nhảm nhí.”
“Nhưng em sẽ đi thật,” nàng lên tiếng với một nỗ lực thấy rõ.
“Cô ấy không đời nào bỏ tôi!” Lời Tom phả thẳng xuống đầu Gatsby với vẻ trịch thượng. “Chắc chắn là không đời nào cô ấy lại đi theo một tên bịp bợm tầm thường—kẻ mà ngay cả chiếc nhẫn đeo vào tay cô ấy cũng phải đi ăn cắp.”
“Em không tài nào chịu nổi thế này nữa!” Daisy kêu lên. “Ôi, làm ơn cho tụi mình ra ngoài đi.”
“Mày rốt cuộc là thằng nào hả?” Tom gầm lên. “Mày chỉ là một tên trong cái đám chuyên tụ tập với Meyer Wolfshiem—chừng đó thôi là tao đủ biết rồi. Tao đã âm thầm điều tra về cái thói đời của mày—và ngày mai tao sẽ còn làm rõ hơn nữa cơ.”
“Tùy anh muốn làm gì thì làm, anh bạn già ạ,” Gatsby điềm tĩnh đáp.
“Tao đã tìm ra cái gọi là ‘hiệu thuốc’ của mày là gì rồi đấy.” Hắn quay sang chúng tôi và nói một thôi một hồi. “Nó cùng với cái lão Wolfshiem này đã thâu tóm hàng loạt cửa hàng dược phẩm ở các con hẻm bên này lẫn ở Chicago để lén lút bán rượu cồn qua cửa hàng. Đó là một trong những ngón nghề của hắn. Tao đã đánh hơi thấy mùi một tên buôn lậu ngay từ lần đầu tiên gặp hắn, và tao đoán chẳng sai đi đâu được.”
“Thì sao nào?” Gatsby lịch sự hỏi. “Chắc là bạn của anh—gã Walter Chase—cũng đâu có chê tiền mà không nhảy vào húc hủi cùng chứ nhỉ.”
“Và rồi mày đã bỏ mặc hắn bơ vơ giữa đống lửa phải không? Mày để hắn phải đi tù suốt một tháng trời tận bên New Jersey. Chúa ơi! Cứ phải nghe Walter kể về mày thì mới thấy mày khốn nạn thế nào.”
“Hắn đến với chúng tôi khi trong túi rỗng tuếch. Hắn rất mừng khi kiếm được chút tiền đấy chứ, anh bạn già ạ.”
“Cấm mày gọi tao là ‘anh bạn già’!” Tom quát lên. Gatsby không nói gì. “Walter hoàn toàn có thể kiện mày ra tòa vì tội vi phạm luật cá cược đấy, nhưng lão Wolfshiem đã dọa nạt bắt hắn phải ngậm tăm rồi.”
Ánh nhìn quen thuộc mà xa lạ ấy lại xuất hiện trên khuôn mặt Gatsby.
“Chuyện hiệu thuốc kia chỉ là tép riu thôi,” Tom chậm rãi nói tiếp, “nhưng mày đang dính líu đến một món béo bở nào đó mà gã Walter không dám hé răng nửa lời với tao.”
Tôi liếc nhìn Daisy—đang trân trân nhìn hai người đàn ông với vẻ mặt đầy hoảng sợ—rồi nhìn sang Jordan, người đang cặm cụi cân bằng một vật vô hình nhưng vô cùng cuốn hút trên đầu cằm. Sau đó tôi quay lại nhìn Gatsby—và phát hiện ra biểu cảm của anh khiến tôi giật mình thon thót. Trông anh—và xin phép được nói điều này hoàn toàn bất chấp những lời đàm tiếu vô căn cứ trong khu vườn của anh—hệt như thể anh vừa “giết chết một con người”. Trong một khoảnh khắc, diện mạo của anh có thể được miêu tả đúng bằng cái cách kỳ quái đó.
Rồi nó cũng qua đi, và anh bắt đầu huyên thao nói với Daisy, phủ nhận tất cả mọi thứ, biện hộ cho danh dự bản thân trước những lời buộc tội thậm chí còn chưa được thốt ra. Nhưng với mỗi từ anh thốt lên, nàng lại càng lùi sâu hơn vào vỏ ốc của chính mình, thế là anh đành bỏ cuộc, và chỉ còn giấc mơ lụi tàn vẫn ngoan cố chiến đấu khi buổi chiều dần trôi tuột đi, cố chạm vào thứ chẳng còn có thể cầm nắm được nữa, vật lộn một cách đau khổ, tuyệt vọng hướng về phía giọng nói đã mất tăm ở phía bên kia căn phòng.
Giọng nói đó lại nài nỉ xin được rời đi.
“Làm ơn đi Tom! Em không chịu nổi thế này nữa đâu.”
Đôi mắt hoảng sợ của nàng tố cáo rằng bất kể ý chí hay lòng dũng cảm nào mà nàng từng có, nay đã tan thành mây khói.
“Hai người cứ bắt đầu về trước đi, Daisy,” Tom nói. “Đi bằng xe của anh Gatsby ấy.”
Nàng nhìn Tom, giờ đây đã thực sự hoảng hốt, nhưng hắn vẫn khăng khăng với thái độ khinh miệt đầy rộng lượng.
“Đi đi. Hắn sẽ không làm phiền em đâu. Chắc hắn cũng nhận ra trò ve vãn ngạo mạn của mình đã chấm dứt rồi.”
Họ đã đi khuất, chẳng nói một lời, bị bứt đứt quãng, trở nên ngẫu nhiên, đơn độc và trơ trọi hệt như những bóng ma, đến mức ta chẳng thể thốt nổi một lời thương cảm.
Một lát sau, Tom đứng dậy và bắt đầu dùng khăn tắm quấn quanh chai whisky chưa khui.
“Có ai muốn xơi chút đồ này không? Jordan?… Hay Nick?”
Tôi không đáp.
“Nick?” Hắn lại hỏi.
“Hả?”
“Có muốn làm ngụm nào không?”
“Không… Tôi vừa chợt nhớ ra hôm nay là sinh nhật mình.”
Tôi đã bước sang tuổi ba mươi. Trước mắt tôi trải dài con đường đầy điềm gở và đe dọa của một thập kỷ mới.
Đã bảy giờ tối khi chúng tôi trèo lên chiếc coupe cùng hắn và khởi hành đi Long Island. Tom huyên thuyên không dứt, cười cợt và hoan hỉ, nhưng giọng nói của hắn đối với Jordan và tôi mới xa xôi làm sao, hệt như những tiếng ồn ào xa lạ ngoài vỉa hè hay thứ âm thanh hỗn độn của đường tàu điện trên cao. Sự đồng cảm của con người có giới hạn của nó, và chúng tôi bằng lòng để mọi cuộc tranh cãi bi thảm ấy phai mờ cùng những ánh đèn thành phố lùi dần về phía sau. Tuổi ba mươi—lời hứa hẹn về một thập kỷ cô độc, một danh sách bạn bè độc thân thưa thớt dần, một chiếc cặp đựng đầy nhiệt huyết đang mỏng đi, và mái tóc ngày một thưa thớt. Nhưng ngồi ngay bên cạnh tôi là Jordan—người, không giống như Daisy, quá khôn ngoan nên chẳng bao giờ dại dột mang theo những giấc mơ đã phai mờ từ tuổi trẻ này qua tuổi khác. Khi chúng tôi lướt qua cây cầu tối thm thẳm, khuôn mặt xanh xao của nàng lười biếng tựa vào vai áo tôi và những nhát búa nặng nề của tuổi ba mươi bỗng tan biến cùng cái siết tay đầy trấn an của nàng.
Thế là chúng tôi cứ thế lái xe lao về phía cái chết giữa chạng vạng màn đêm đang dần mát rượi.
Michaelis, chàng thanh niên gốc Hy Lạp chuyên quản lý quán cà phê bên cạnh bãi tro tàn, là nhân chứng chính trong cuộc điều tra cái chết. Anh ta đã ngủ say qua cái nắng oi bức cho đến tận sau năm giờ chiều, khi anh tản bộ sang gara và phát hiện ra George Wilson đang đổ bệnh trong phòng làm việc—bệnh nặng thực sự, xanh xao hệt như mái tóc bạc phếch của chính anh ta và run rẩy toàn thân. Michaelis khuyên anh ta nên vào giường nằm nghỉ, nhưng Wilson từ chối, bảo rằng nếu thế hắn sẽ bỏ lỡ khối việc làm ăn. Trong lúc người hàng xóm đang cố gắng thuyết phục thì một tiếng động dữ dội bỗng vang lên từ trên lầu.
“Tôi nhốt vợ tôi ở trên đó rồi,” Wilson điềm tĩnh giải thích. “Cô ấy sẽ phải ở lì trên ấy cho đến ngày kia, rồi tụi tôi sẽ dọn đi chỗ khác.”
Michaelis vô cùng kinh ngạc; họ đã là hàng chưa suốt bốn năm trời, và chưa bao giờ Wilson tỏ ra có khả năng thốt ra những lời quyết liệt đến thế. Thông thường anh ta là một trong những kẻ tiều tụy chán chường: khi không phải làm việc, anh ta cứ ngồi thừ trên chiếc ghế ở hiên cửa, trân trân nhìn dòng người và xe cộ qua lại trên đường. Khi có ai bắt chuyện, anh ta lúc nào cũng cười trừ một cách dễ dãi và vô hồn. Anh ta là kẻ phục tùng vợ chứ chẳng có chính kiến riêng.
Thế nên Michaelis dĩ nhiên là muốn tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra, nhưng Wilson nhất quyết ngậm tăm—thay vào đó, anh ta bắt đầu liếc nhìn vị khách bằng ánh mắt đầy tò mò, nghi kỵ và gặng hỏi dạo trước vào những ngày này giờ này anh ta đang làm gì. Đúng lúc người kia bắt đầu thấy bất an thì có mấy tốp công nhân đi ngang qua cửa tiệm để đến quán ăn của anh ta, và Michaelis chớp lấy cơ hội để chuồn, định bụng lát sau sẽ quay lại. Nhưng anh ta đã không quay lại. Chắc là anh ta quên bén mất, chỉ có vậy thôi. Khi anh ta bước ra ngoài lần nữa, lúc đó đã hơn bảy giờ tối, anh ta sực nhớ lại cuộc trò chuyện hồi nãy vì nghe thấy tiếng quát tháo inh ỏi của vợ Wilson vọng lên từ tầng trệt của gara.
“Đánh tôi đi!” anh nghe thấy tiếng cô ta gào lên. “Lôi tôi xuống đây mà đánh đi, đồ hèn nhát bẩn thỉu!”
Khoảng khắc sau, cô ta lao vụt ra ngoài màn đêm chập tối, vừa khua tay múa chân vừa la hét—trước khi anh kịp nhích chân khỏi cửa thì mọi chuyện đã rồi.
Cái gọi là “chiếc xe tử thần” theo lời miêu tả của báo chí đã chẳng hề dừng lại; nó phóng ra từ bóng tối đang đặc quánh lại, loạng choạng một thoáng đầy bi thảm rồi biến mất sau khúc cua tiếp theo. Mavro Michaelis thậm chí còn chẳng chắc chắn về màu sơn của nó—anh ta khai với người cảnh sát đầu tiên rằng nó có màu xanh lá cây nhạt. Chiếc xe còn lại, chiếc đang hướng về New York, dừng lại cách đó một trăm thước, và người lái xe vội vã chạy ngược lại nơi Myrtle Wilson—với cuộc đời vừa bị dập tắt một cách bạo tàn—đang quỳ gối giữa lòng đường, hòa lẫn dòng máu đỏ sẫm đặc quánh của cô với bụi đất.
Michaelis và gã đàn ông kia là những người đầu tiên tiếp cận được cô, nhưng khi họ xé toạc chiếc áo sơ mi vẫn còn đẫm mồ hôi của cô ra, họ bàng hoàng nhận thấy bầu ngực trái của cô đã bị giật đứt lìa đung đưa như một miếng da thừa, và chẳng cần phải lắng nghe nhịp đập của trái tim bên trong nữa. Miệng cô há hốc và bị rách toạc một góc, cứ như thể cô đã nghẹn ngào trong giây phút trút bỏ nguồn sinh lực vô tận mà cô đã tích tụ suốt bao lâu nay.
Chúng tôi đã trông thấy ba bốn chiếc ô tô cùng đám đông tụ tập từ khi còn ở cách đó một đoạn khá xa.
“Tai nạn à!” Tom nói. “Thế thì hay quá. Cuối cùng thì lão Wilson cũng có chút việc làm ăn rồi đây.”
Hắn giảm tốc độ, nhưng vẫn không có ý định dừng lại, cho đến khi chúng tôi đến gần hơn, và những gương mặt im lìm, đăm đăm đầy vẻ tập trung của đám người đứng trước cửa gara đã khiến hắn vô thức đạp phanh.
“Chúng ta xuống xem thế nào,” hắn lừng chừng nói, “chỉ xem một chút thôi.”
Lúc này tôi bỗng nghe thấy một âm thanh rên rỉ rỗng tuếch cứ phát ra liên hồi từ trong gara, một âm thanh mà khi chúng tôi bước xuống xe coupe và tiến về phía cửa, đã vỡ lẽ thành những từ “Ôi Chúa ơi!” được thốt lên lặp đi lặp lại trong tiếng rên rỉ nghẹn ngào.
“Có chuyện chẳng lành ở đây rồi,” Tom hào hứng nói.
Hắn kiễng chân rướn người nhòm qua cái vòng vây những cái đầu vào trong gara—nơi chỉ được thắp sáng bằng một bóng đèn vàng duy nhất nằm trong chiếc giỏ kim loại lủng lẳng trên cao. Rồi hắn phát ra một tiếng kêu khàn đục trong cổ họng, và với một cú huých mạnh mẽ từ đôi tay vạm vỡ, hắn cứ thế lách qua đám đông.
Vòng vây lại khép kín với những tiếng thì thầm phản đối xôn xao; phải mất một phút sau tôi mới tài nào nhìn rõ được thứ gì bên trong. Sau đó, những kẻ mới đến chen lấn làm xáo trộn hàng ngũ, khiến Jordan và tôi bất ngờ bị đẩy thẳng vào trong.
Thi thể Myrtle Wilson, được quấn trong một chiếc chăn, rồi lại thêm một chiếc chăn nữa, cứ như thể cô đang bị cảm lạnh giữa đêm hè oi bức, được đặt trên một chiếc bàn làm việc sát vách tường, còn Tom thì quay lưng về phía chúng tôi, đang cúi người bất động bên cạnh. Ngay cạnh hắn là một viên cảnh sát đi xe máy đang cồ cò ghi chép tên tuổi vào một cuốn sổ nhỏ với mồ hôi nhễ nhại và phải sửa đi sửa lại liên tục. Ban đầu tôi chẳng tài nào tìm ra nguồn gốc của những tiếng gào thét rên rỉ đang dội lại đầy inh ỏi khắp căn gara trống hoác—rồi tôi nhìn thấy Wilson đang đứng trên bậc thềm nhô cao của văn phòng, cứ ngả nghiêng qua lại và bám chặt hai tay vào khung cửa. Có kẻ nào đó đang nói chuyện với hắn bằng giọng trầm thấp và thỉnh thoảng lại cố đưa tay vỗ vai hắn, nhưng Wilson chẳng mảy may nghe hay thấy gì. Đôi mắt anh ta cứ từ từ trôi dạt từ bóng đèn lủng lẳng xuống chiếc bàn đầy tử thi sát tường, rồi lại giật thót hướng lên bóng đèn, và miệng anh ta cứ liên hồi phát ra tiếng gọi kinh hoàng:
“Ôi Chúa—tôi ơi! Ôi Chúa—tôi ơi! Ôi Chúa ơi! Ôi Chúa—tôi ơi!”
Ngay lúc đó, Tom giật nảy đầu lên và, sau khi trân trân nhìn quanh gara bằng đôi mắt đờ đẫn, hắn lẩm bẩm thốt ra vài lời lộn xộn với viên cảnh sát.
“M-a-v—” viên cảnh sát đang đánh vần, “—o—”
“Không, là r—” gã đàn ông đính chính, “M-a-v-r-o—”
“Nghe tôi nói đây!” Tom gầm lên giận dữ.
“r—” viên cảnh sát tiếp tục, “o—”
“g—”
“g—” Hắn ngẩng đầu lên khi bàn tay hộ pháp của Tom giáng mạnh xuống vai mình. “Mày muốn gì hả anh bạn?”
CHUYỆN GÌ ĐÃ XẢY RA?—đó là điều tôi muốn biết.
Xe ô tô tông chết cô ấy. Chết ngay tại chỗ.
“Chết ngay tại chỗ,” Tom lặp lại với ánh mắt đờ đẫn.
Cô ấy lao ra đường. Đồ chó đẻ ấy thậm chí còn chẳng thèm dừng xe lại.
“Có tận hai chiếc xe cơ mà,” Michaelis nói, “một chiếc đang lao tới, một chiếc đang đi tới, hiểu chưa?”
“Đang đi đâu cơ?” viên cảnh sát săm soi hỏi.
“Mỗi chiếc đi một hướng. Thế rồi cô ấy”—tay hắn chỉ hướng về phía đống chăn rồi khựng lại nửa chừng buông thõng xuống—“cô ấy lao ra đường và chiếc xe từ New York chạy tới tông thẳng vào người cô ấy, với tốc độ bốn mươi hoặc năm mươi dặm một giờ.”
“Cái khu vực này tên là gì thế hả?” viên cảnh sát hách dịch hỏi.
“Chẳng có tên tuổi gì cả.”
Một gã da đen ăn mặc lịch sự bước đến gần.
“Đó là một chiếc xe màu vàng,” hắn nói, “một chiếc xe màu vàng to lớn. Xe mới.”
“Có chứng kiến vụ tai nạn không?” viên cảnh sát hỏi.
“Không, nhưng chiếc xe đó vừa phóng qua mặt tôi trên đường, chạy nhanh hơn bốn mươi. Phải năm mươi, sáu mươi dặm ấy chứ.”
“Lại đây khai tên mau lên. Nào chú ý xem nào. Tôi muốn lấy tên họ của hắn.”
Vài từ trong cuộc trò chuyện đó chắc đã lọt vào tai Wilson đang ngả nghiêng ở cửa văn phòng, bởi vì đột nhiên một nỗi niềm mới lại bùng lên giữa những tiếng kêu gào thảm thiết:
“Mày không cần phải nói cho tao biết đấy là xe gì đâu! Tao thừa biết đấy là xe gì rồi!”
Quan sát Tom, tôi thấy bắp thịt sau vai hắn căng cứng dưới lớp áo vest. Hắn bước nhanh về phía Wilson và, đứng đối diện với anh ta, nắm chặt lấy bắp tay anh ta.
“Anh phải bình tĩnh lại đi chứ,” hắn dùng chất giọng trầm ấm dỗ dành.
Đôi mắt Wilson đổ dồn vào Tom; anh ta kiễng chân lên và suýt ngã quỵ xuống sàn nếu không có Tom đỡ lấy người đứng thẳng dậy.
“Nghe này,” Tom vừa nói vừa lay nhẹ người anh ta. “Tôi vừa mới đến đây từ New York cách đây một phút thôi. Tôi đang định mang chiếc coupe mà chúng ta vừa bàn hồi chiều sang cho anh đây. Chiếc xe màu vàng mà tôi lái hồi chiều không phải của tôi—anh nghe thấy chưa? Tôi chẳng hề đụng đến nó suốt cả buổi chiều nay.”
Chỉ có gã da đen và tôi là đứng đủ gần để nghe thấy hắn nói gì, nhưng viên cảnh sát dường như bắt được điều gì đó trong ngữ điệu ấy nên liền liếc sang bằng ánh mắt hung hăng.
“Cái gì thế hả?” hắn tra hỏi.
“Tôi là bạn của anh ấy.” Tom quay đầu lại nhưng tay vẫn giữ chặt lấy người Wilson. “Anh ấy nói là biết chiếc xe gây tai nạn… Đó là một chiếc xe màu vàng.”
Một linh tính mơ hồ nào đó xui khiến viên cảnh sát nhìn Tom đầy nghi kỵ.
“Thế xe của anh màu gì?”
“Xe của tôi màu xanh, kiểu coupe.”
“Chúng tôi đi thẳng từ New York tới đây,” tôi lên tiếng.
Một kẻ nào đó lái xe sát phía sau chúng tôi lên tiếng xác nhận điều này, thế là viên cảnh sát liền quay mặt đi.
“Nào, nếu anh không phiền thì đọc lại cho tôi xin cái tên cho chính xác nhé—”
Ôm thốc Wilson lên tay hệt như một con búp bê vải, Tom bế anh ta vào trong văn phòng, đặt ngồi xuống ghế rồi quay trở lại.
“Có ai vào đây ngồi canh chừng hắn hộ cái,” hắn hách dịch ra lệnh. Hắn đứng trân trân nhìn hai gã đứng gần nhất liếc mắt nhìn nhau rồi miễn cưỡng bước vào phòng. Sau đó Tom sập cửa lại và bước xuống bậc thềm duy nhất, cố né tránh không nhìn về phía chiếc bàn. Khi đi ngang qua tôi, hắn thì thầm: “Chuồn thôi.”
Với vẻ gượng gạo, dùng đôi tay đầy quyền lực dọn đường, chúng tôi chen lấn bước qua đám đông đang tụ tập mỗi lúc một đông, lướt qua một vị bác sĩ đang hớt hải xách cặp thuốc chạy đến—người mà nửa tiếng trước đã được gọi đến với niềm hy vọng mong manh điên rồ.
Tom lái xe chầm chậm cho đến khi qua khỏi khúc cua—rồi hắn dập mạnh chân ga, và chiếc xe coupe phóng như bay xuyên màn đêm. Chẳng mấy chốc tôi nghe thấy tiếng nấc nghẹn ngào khàn đục, và nhận ra những giọt nước mắt đang trào ra đầm đìa trên khuôn mặt hắn.
“Đồ chó đẻ hèn nhát!” hắn vừa nức nở vừa rủa xả. “Hắn thậm chí còn chẳng thèm dừng xe lại.”
Ngôi nhà của nhà Buchanan bất ngờ hiện ra trước mắt chúng tôi giữa những tán cây xào xạc trong đêm tối. Tom dừng xe ngay sát thềm hiên và ngước nhìn lên tầng hai, nơi có hai ô cửa sổ đang tỏa ánh sáng vàng ấm áp giữa đám dây leo.
“Daisy về tới nhà rồi,” hắn nói. Khi bước xuống xe, hắn liếc nhìn tôi và hơi cau mày.
“Lẽ ra anh nên thả cậu ở West Egg mới phải, Nick ạ. Tối nay chúng ta chẳng làm được gì thêm nữa đâu.”
Sự thay đổi đã hiện rõ trên người hắn, và hắn nói năng vô cùng nghiêm túc, dứt khoát. Khi chúng tôi bước trên lối đi rải sỏi dưới ánh trăng để lên hiên nhà, hắn đã nhanh chóng giải quyết xong tình huống bằng vài câu gọn lỏn.
“Tôi sẽ gọi điện thuê một chiếc taxi đưa cậu về, và trong lúc chờ đợi, hay là cậu với Jordan cứ vào bếp bảo họ làm cho ít đồ ăn lót dạ—nếu cậu muốn ăn.” Hắn mở cửa ra. “Vào trong đi.”
“Không, cảm ơn anh. Nhưng tôi rất biết ơn nếu anh gọi taxi hộ. Tôi đợi ở ngoài này cũng được.”
Jordan đặt tay lên cánh tay tôi.
“Anh không vào trong đấy à, Nick?”
“Không, cảm ơn em.”
Tôi đang thấy hơi buồn nôn và chỉ muốn được ở một mình. Nhưng Jordan vẫn nán lại thêm chốc lát.
“Mới có chín giờ rưỡi thôi mà.”
Có chết tôi cũng không thèm bước chân vào trong đó; tôi đã quá ngán ngẩm với tất cả bọn họ trong ngày hôm nay rồi, và đột nhiên sự ngán ngẩm ấy bao trùm cả Jordan nữa. Chắc là nàng đã đọc được phần nào thái độ đó qua nét mặt tôi, bởi nàng liền quay phắt người bước nhanh lên thềm hiên đi thẳng vào nhà. Tôi ngồi thừ người ra đấy vài phút, hai tay ôm trán, cho đến khi nghe thấy tiếng ống nghe điện thoại được nhấc lên từ bên trong và giọng người quản gia gọi xe taxi. Sau đó tôi chậm rãi bước xuống lối đi tránh xa ngôi nhà, định bụng sẽ ra cổng đứng đợi.
Tôi chưa đi được hai mươi bước thì nghe thấy có người gọi tên mình và Gatsby bước ra từ giữa hai lùm cây ven lối đi. Chắc lúc đó thần trí tôi đã có vấn đề lắm rồi, bởi vì trong đầu tôi chẳng thể nghĩ đến điều gì khác ngoài ánh sáng phát ra từ bộ vest hồng của anh dưới ánh trăng.
“Anh đang làm gì ở đây thế?” tôi hỏi.
“Chỉ đứng đây thôi, anh bạn già ạ.”
Không hiểu sao, công việc đó nghe thật đê tiện làm sao. Biết đâu chỉ giây lát nữa thôi là anh ta định xông vào cướp bóc ngôi nhà này; tôi sẽ chẳng lấy làm lạ nếu thấy xuất hiện những gương mặt hiểm độc, những gương mặt của “đám người nhà Wolfshiem”, ẩn nấp phía sau những lùm cây tối tăm kia.
“Cậu có thấy rắc rối gì trên đường không?” anh hỏi sau một lát im lặng.
“Có.”
Anh ngập ngừng.
“Cô ấy bị giết chết à?”
“Đúng thế.”
“Tôi đoán thế; tôi đã bảo với Daisy là tôi đoán thế mà. Tốt hơn là cú sốc ấy ập đến một lần cho xong. Cô ấy đã chịu đựng khá tốt đấy chứ.”
Anh nói cứ như thể phản ứng của Daisy là điều duy nhất có ý nghĩa trên đời.
“Tôi đã về West Egg bằng một con đường tắt,” anh nói tiếp, “và cất chiếc xe trong gara nhà mình. Tôi không nghĩ có ai nhìn thấy, nhưng dĩ nhiên là tôi không thể chắc chắn hoàn toàn.”
Đến lúc này thì tôi chán ghét anh ta đến mức chẳng thèm bận tâm mở miệng ra nói rằng anh ta đã nhầm.
“Người phụ nữ đó là ai thế?” anh hỏi.
“Cô ấy tên là Wilson. Chồng cô ấy làm chủ tiệm gara. Quỷ tha ma bắt thế nào mà lại xảy ra cơ sự này cơ chứ?”
“Thì, tôi đã cố gắng bẻ lái—” Anh ngập ngừng bỏ lửng câu nói, và đột nhiên tôi đoán ra được sự thật.
“Có phải Daisy đang lái xe không?”
“Đúng thế,” anh đáp sau một thoáng im lặng, “nhưng dĩ nhiên là tôi sẽ nhận tội thay cô ấy. Chuyện là thế này, khi chúng tôi rời khỏi New York, cô ấy đang rất căng thẳng và nghĩ rằng việc lái xe sẽ giúp cô ấy trấn tĩnh lại—và người phụ nữ đó bỗng lao bổ vào xe chúng tôi đúng lúc chúng tôi đang đi ngang qua một chiếc xe chạy ngược chiều. Mọi chuyện diễn ra chỉ trong tích tắc, nhưng với tôi hình như cô ấy muốn nói gì đó với chúng tôi, cứ ngỡ chúng tôi là người quen. Khi đó, Daisy vừa đánh lái tránh người phụ nữ sang phía chiếc xe kia, thì bỗng hoảng loạn rồi đánh lái quay trở lại. Ngay khoảnh khắc tay tôi với tới tay lái thì tôi cảm nhận được cú va chạm—chắc nó đã tước đi mạng sống của cô ấy ngay lập tức.”
“Nó đã xé toạc ngực cô ấy—”
“Đừng kể nữa, anh bạn già.” Anh nhăn mặt. “Dù sao thì—Daisy đã đạp ga phóng đi. Tôi đã cố bắt cô ấy dừng lại, nhưng cô ấy không thể, thế nên tôi đành kéo phanh tay khẩn cấp. Rồi cô ấy ngã gục vào lòng tôi và tôi cứ thế lái xe đi.”
“Ngày mai cô ấy sẽ ổn thôi,” lát sau anh nói tiếp. “Tôi chỉ đứng đây đợi xem hắn có đến quấy rầy cô ấy vì mớ rắc rối hồi chiều nay không. Cô ấy đã tự khóa chặt cửa phòng lại rồi, và nếu hắn dám giở thói bạo lực, cô ấy sẽ ra hiệu bằng cách tắt và bật đèn liên tục.”
“Hắn sẽ không dám đụng đến cô ấy đâu,” tôi nói. “Hắn đang chẳng màng nghĩ đến cô ấy đâu.”
“Tôi không tin tưởng hắn đâu, anh bạn già.”
“Anh định đợi đến bao giờ?”
“Cả đêm nếu cần thiết. Dù sao thì cũng phải đợi đến khi tất cả bọn họ lên giường đi ngủ hết đã.”
Một góc nhìn mới chợt lóe lên trong đầu tôi. Giả sử Tom phát hiện ra Daisy chính là kẻ lái xe thì sao. Hắn có thể sẽ xâu chuỗi mọi chuyện lại với nhau—hắn có thể suy diễn bất cứ điều gì. Tôi ngước nhìn ngôi nhà; có hai hoặc ba ô cửa sổ đang sáng rực ở tầng trệt và ánh sáng màu hồng phát ra từ phòng Daisy ở tầng một.
“Anh cứ đợi ở đây nhé,” tôi nói. “Để tôi vào xem có dấu hiệu gì của sự náo loạn không.”
Tôi quay lại đi dọc theo mép thảm cỏ, nhẹ nhàng bước trên lối rải sỏi rồi rón rén leo lên những bậc thềm hiên nhà. Rèm phòng khách mở toang, và tôi thấy căn phòng trống trơn. Băng qua khoảng hiên nơi chúng tôi từng dùng bữa tối vào đêm tháng Sáu ba tháng trước, tôi tiến đến một ô cửa sổ nhỏ hình chữ nhật mà tôi đoán là cửa phòng kho. Tấm rèm che đã được kéo xuống, nhưng tôi tìm thấy một khe hở ngay bệ cửa.
Daisy và Tom đang ngồi đối diện nhau bên chiếc bàn ăn trong bếp, chính giữa bày một đĩa gà rán nguội ngắt và hai chai bia. Hắn đang chăm chú nói chuyện với cô, và vì quá đỗi nhiệt tình nên bàn tay hắn đã đặt lên và trùm kín bàn tay cô. Thỉnh thoảng cô lại ngẩng lên nhìn hắn và gật đầu đồng tình.
Họ chẳng hề hạnh phúc, và chẳng ai trong số họ động chạm gì đến đĩa gà hay chai bia cả—nhưng đồng thời trông họ cũng chẳng có vẻ gì là bất hạnh. Bao trùm khung cảnh ấy là một bầu không khí gắn bó tự nhiên đến không ngờ, và bất kỳ ai nhìn vào cũng sẽ nói rằng họ đang thì thầm toan tính điều gì đó với nhau.
Khi tôi rón rén rời khỏi hiên nhà, tôi nghe thấy chiếc xe taxi của mình đang dò dẫm bò dọc theo con đường tối thm thẳm tiến về phía ngôi nhà. Gatsby vẫn đang đứng chờ đúng nơi tôi bỏ lại hắn ở lối lái xe.
“Trên đó mọi chuyện vẫn ổn chứ?” anh lo lắng hỏi.
“Vâng, mọi thứ đều yên ổn cả.” Tôi ngập ngừng. “Anh nên về nhà nghỉ ngơi đi thôi.”
Anh lắc đầu.
“Tôi muốn đợi ở đây cho đến khi Daisy đi ngủ. Chúc ngủ ngon nhé, anh bạn già.”
Anh đút hai tay vào túi áo và quay phắt người lại với vẻ háo hức dán chặt mắt vào ngôi nhà, cứ như sự hiện diện của tôi đang làm vấy bẩn sự tôn nghiêm của cuộc canh thức này. Thế là tôi lủi thủi bước đi, để lại anh đứng đó dưới ánh trăng—đang miệt mài canh gác một thứ vốn chẳng là gì cả.